Bài học của Lịch sử

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 16h:25' 17-04-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 5
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 16h:25' 17-04-2024
Dung lượng: 1.2 MB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
BÀI HỌC CỦA LỊCH SỬ
Nguyên tác: The Lessons of History
Tác giả: Will & Ariel Durant
Người dịch: Nguyễn Hiến Lê
Thể loại: Lịch sử
NXB Tổng Hợp, TP. HCM – 1/2006
Khổ: 13,5×20,5 cm
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
MỤC LỤC:
Vài lời thưa trước
Tựa
BÀI HỌC CỦA LỊCH SỬ
§I: Do dự
§II: Lịch sử và trái đất
§III: Sinh vật học lịch sử
§IV: Nòi giống và lịch sử
§V: Tính tình và lịch sử
§VI: Luân lí và lịch sử
§VII: Tôn giáo và lịch sử
§VIII: Kinh tế và lịch sử
§IX: Chủ nghĩa xã hội và lịch sử
§X: Chính thể và lịch sử
§XI: Lịch sử và chiến tranh
§XII: Tiến bộ và suy tàn
Chú thích của người dịch
§XIII: Loài người có thực sự tiến bộ không?
Phụ lục: Loài người khôn hơn mỗi người
Sức khoẻ
Tính dục
Tư cách
Tôn giáo
Kinh tế
Trí tuệ
Một di sản đương khuếch trương
Nguyên tác: THE LESSONS OF HISTORY
Vài lời thưa trước
Trong cuốn Đời viết văn của tôi, cụ Nguyễn Hiến Lê cho biết:
“Vào khoảng 1969, tôi mua được trọn bộ Lịch sử Văn minh (32 cuốn) của Will Durant, dịch ra
tiếng Pháp, do nhà Rencontre ở Lausanne (Thuỵ Sĩ) xuất bản. Bộ đó rất hay, ông bà Durant để ra
ba chục năm tham khảo mấy ngàn cuốn sách, đi du lịch gần khắp thế giới để viết nó.
Năm 1970 tôi dịch cuốn Văn minh Ấn Độ (550 trang), Lá Bối in. Để viết bài tựa 16 trang cho
cuốn đó, tôi đã gởi thư qua Thuỵ Sĩ nhờ nhà Rencontre kiếm cho tài liệu về đời sống và sự nghiệp
của W. Durant. Độc giả hoan nghênh, một vị viết thư yêu cầu tôi dịch toàn bộ. Tôi đáp cũng muốn
vậy lắm nhưng trong nước phải có ít nhất là 3.000 độc giả như ông ta thì nhà Lá Bối mới dám
tiếp tục.
Sau tôi chỉ dịch thêm bốn cuốn nữa: Văn minh Ả Rập, Bài học của lịch sử, Nguồn gốc văn minh
và Văn minh Trung Hoa. Cuốn sau chưa kịp in thì thay đổi chế độ. Những cuốn đó đều có ích,
nhất là Bài học của lịch sử.”
Bốn cuốn Nguồn gốc văn minh, Lịch sử văn minh Ả Rập, Lịch sử văn minh Ấn Độ và Lịch sử văn
minh Trung Hoa đều nằm trong tập I: Our Oriental Heritage (nhan đề bản Pháp dịch là Notre
Héritage Oriental, tập này gồm 3 cuốn) của bộ Lịch sử văn minh, riêng cuốn Bài học của lịch sử
thì không nằm trong bộ đó.
Trên trang 4 cuốn Bài học của lịch sử, Nxb Tổng hợp TP. HCM, 2006, ghi nguyên tác là The
Lessons of History – Simon and Schuster, New York, 1968; Wikipedia cũng viết tương tự như
vậy[1], nhưng chúng tôi đoán là cụ dịch từ bản Pháp dịch Les Leçons de l'histoire (Nxb
Rencontre, Genève, 1970), còn nếu như cụ dịch từ nguyên tác tiếng Anh The Lessons of History
thì có phần chắc là cụ có tham khảo bản Pháp dịch. Chúng tôi đoán như vậy là vì các nhân danh
trong cuốn Bài học của lịch sử, nếu cụ không gọi bằng tiếng Việt như Tư Mã Thiên, thì cụ đều
được gọi theo tiếng Pháp như César, Cléopâtre chứ không gọi theo tiếng Anh là Caesar,
Cleopatra; địa danh cũng vậy, nếu cụ không viết theo tiếng Việt là Y Pha Nho (nay ta gọi là Tây
Ban Nha), thì cụ viết theo tiếng Pháp như Londres, Olympe chứ không viết theo tiếng Anh là
London, Olympus; hoặc như trong một chú thích, cụ bảo từ được dịch là biện chứng pháp là từ
tiếng Pháp dialectique[2], chứ không phải là từ tiếng Anh là dialectic. Giữa bản Việt dịch và bản
tiếng
Anh
mà
chúng
tôi
tải
từ
trang
http://learningresources.softarchive.net/the_lessons_of_history_will_durant.295285.html
còn có một vài chỗ khác biệt nữa, như trong bài Tựa trong bản Việt dịch không có câu tương
ứng với câu cuối cùng trong bài Preface trong bản tiếng Anh là: “Here, as so often in the past, we
must gratefully acknowledge the help and counsel given us by our daughter Ethel”[3]. Ngược lại,
trong bản tiếng Anh không có đoạn tương ứng với đoạn cuối của chương XI trong bản Việt
dịch, từ “Ngay triết gia Bergson năm 1936 cũng viết” đến “Nếu vậy thì bi đát thật!”
Một điều nữa mà chúng tôi cũng chưa rõ là cuốn Bài học của lịch sử này là do một mình cụ
Nguyễn Hiến Lê dịch như được ghi trong bản in của Nxb Tổng hợp TP. HCM, hay là cụ dịch
chung với cụ Trần Lương Ngọc như theo lời giới thiệu của Nxb Lá Bối in ở bìa sau cuốn Chiến
Quốc sách của nhà này. Chúng tôi rất tiếc là không có bản in cuốn Bài học của lịch sử của nhà Lá
Bối năm 1972, nên không biết bản đó có ghi tên cụ Trần Lương Ngọc hay không, nhưng theo
bạn Tuanz thì: “Nxb Xuân Thu (ở nước ngoài) tái bản năm 1991 cũng ghi “Will và Ariel Durant,
The Lessons of History, Bài học của lịch sử, bản dịch của Nguyễn Hiến Lê và Trần Lương Ngọc”.
Ebook Bài học của lịch sử đã được các bạn Quocdung, Okal, Dqskiu, H2203, Chụt đánh máy,
Nambun sửa lỗi, và Tovanhung chuyển sang ebook và đăng trên TVE từ 29/09/2006.
Từ file Bài học của lịch sử có định dạng là.prc đó, bạn QuocSan chuyển thành file.doc và chỉnh
lại cách trình bày cho gọn nhẹ; rồi từ file.pdf The Lessons of History, bạn QuocSan cũng chuyển
thành file.doc và trình bày lại các chú thích và các niên đại ở trong phần Index. Cuối cùng, bạn
QuocSan ghép hai file đó lại thành một file duy nhất và chuyển file đó thành ebook có định
dạng.prc. Như vậy trong ebook mới này ta có cả hai bản: bản Việt dịch và bản nguyên tác tiếng
Anh.
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện ebook mới này, chúng tôi còn sửa thêm một số lỗi trong
bản Việt dịch. Trong những lỗi đó, chúng tôi phát hiện được là nhờ đối chiếu với bản tiếng Anh
(những lỗi này do sách in sai nên ebook cũ cũng sai theo).
Goldfish
Đầu tháng 11 năm 2010.
TỰA
Cuốn này chỉ là một kết luận nên không cần lời tựa. Sau khi in xong bộ Lịch sử Văn minh từ
thời nguyên thủy tới năm 1789, chúng tôi đã đọc lại hết để sửa nhiều lỗi khi viết hoặc khi in, cả
những lỗi bỏ sót nữa. Vừa làm công việc đó chúng tôi vừa ghi những biến cố, những lời phê phán
có thể giúp độc giả hiểu những đại sự của thế giới, đoán được đại khái, tương lai ra sao, biết
được tính con người và chính sự các Quốc gia. Độc giả sẽ thấy chúng tôi ghi nhiều xuất xứ ở
trong các cuốn của bộ Lịch sử Văn minh, như vậy, không phải để dẫn chứng đâu mà chỉ là để đưa
ra ít nhiều thí dụ và lời giải thích thôi. Chúng tôi đã rán đợi đọc hết trọn bộ rồi mới kết luận,
nhưng chắc chắn là những ý kiến chúng tôi có từ lúc đầu đã ảnh hưởng tới cách chúng tôi lựa
chọn thí dụ. Do đó mà có lập tiểu luận này. Chúng tôi đã lăp lại nhiều ý mà chính chúng tôi hoặc
những nhà khác trước chúng tôi, đã diễn rồi: mục đích chúng tôi không phải là tìm sự tân kì mà
chỉ mong được hoàn bị, đừng thiếu sót, chúng tôi tóm tắt kinh nghiệm của loài người, chứ không
trình bày một phát kiến cá nhân.
BÀI HỌC CỦA LỊCH SỬ
CHƯƠNG I: DO DỰ
Sử gia, khi làm xong một công việc nghiên cứu nào rồi, thường tự hỏi câu này: công lao khó
nhọc của mình có cống hiến được chút gì không? Hay là mình chỉ tìm thấy được cái thú kể lại
những thăng trầm của các dân tộc, các tư tưởng, chép lại những “truyện buồn về cái chết của
các vua chúa”? Mình đã hiểu bản tính con người hơn những người thường chưa bao giờ đọc
một trang sách nào không? Lịch sử có giúp mình hiểu thêm được thân phận con người không,
có hướng dẫn mình trong sự phán đoán và hành động không, có chỉ cho mình cách đối phó với
những sự bất ngờ trong đời sống hoặc những nỗi phù trầm của thời đại không? Trong sự liên
tục của các biến cố, mình có tìm được những nhịp điệu đều đều giúp mình tiên đoán được
những hành động sau này của nhân loại hay vận mạng của các Quốc gia không? Hay là rất có
thể, rốt cuộc, “lịch sử chẳng có ý nghĩa gì cả”[4]. Chẳng dạy cho ta được gì cả, mà thời dĩ vãng
mênh mông chỉ là một chuỗi dài chán ngắt gồm những lỗi lầm sau này sẽ tái hiện nữa một cách
đại qui mô hơn?
Đôi khi chúng tôi có cảm tưởng đó mà đâm ra hoài nghi. Trước hết, chúng ta có biết thực sự
dĩ vãng ra sao không, cái gì đã thực sự xảy ra không, hay là lịch sử chỉ như “một ngụ ngôn”
không hẳn ai cũng “chấp nhận”. Bất kì là về biến cố nào, sự hiểu biết của chúng ta về dĩ vãng
luôn luôn thiếu sót và có phần chắc là sai lầm nữa: Nó dựa trên những chứng cứ hàm hồ, khả
nghi của những sử gia thiên kiến, và có lẽ nó còn chịu ảnh hưởng những ý kiến chính trị hay
tôn giáo của chính ta nữa. “Phần lớn lịch sử là những điều phỏng đoán, phần còn lại là những
thành kiến”[5]. Ngay một sử gia tự cho rằng mình đã vượt được những thiên kiến về xứ sở,
chủng tộc, tín ngưỡng hoặc giai cấp, cũng để lộ những thiên ái thầm kín của mình trong cách
lựa chọn tài liệu và dùng hình dung từ. “Sử gia luôn luôn đơn giản hoá quá mức (các biến cố) và
trong các đám đông tâm hồn và biến cố phức tạp mênh mông không làm sao bao quát được,
ông ta đành phải vội vàng lựa chọn một số nhỏ sự kiện và nhân vật dễ sử dụng, trình bày.”[6]
Vả lại thời này mà rút những kết luận từ dĩ vãng để dùng trong tương lai thì nguy hiểm hơn
thời nào nữa, vì tốc độ biến chuyển bây giờ tăng quá mau. Năm 1909 Charles Péguy bảo rằng
“Thế giới đã thay đổi trong ba chục năm gần đây nhiều hơn là từ thời chúa Ki Tô”, và một tiến
sỹ vật lý còn trẻ bây giờ có thể nói thêm rằng môn vật lý từ 1909 đến nay đã thay đổi nhiều
hơn là trong suốt lịch sử thế giới. Mỗi năm – trong thời chiến thì có khi là mỗi tháng – lại xuất
hiện một phát minh mới, một phương pháp mới, một tình thế mới, và chúng ta bắt buộc phải
thay đổi lề lối cùng ý nghĩ của ta.
Sau cùng, hình như có một yếu tố ngẫu nhiên, có thể là một yếu tố tự do, trong sự tác động
của vật chất và của con người. Ngày nay chúng ta không còn tin rằng các nguyên tử, chứ đừng
nói là các cơ thể, sau này sẽ phản ứng lại như thời trước. Các điện tử di chuyển một cách bí
mật, như Thượng Đế của Cowper[7], và chỉ một chướng ngại về tính tình hoặc về hoàn cảnh là
có thể làm cho một dân tộc bị xáo trộn, như khi vua Alexandre (cổ Hy Lạp) vì quá say rượu mà
chết[8], khiến cho cả đế quốc mới thành lập của ông bị tan rã (323 trước T.L), hoặc như khi Đại
đế Frederick thoát khỏi cảnh quốc gia sụp đổ nhờ sự lên ngôi của một Nga hoàng say mê lối
sống của Phổ[9] (1762).
Hiển nhiên là môn soạn sử không thể là một khoa học được mà chỉ là một hoạt động, một
nghệ thuật và một triết lí: Nó là một hoạt động khi tìm tòi các sự kiện, một nghệ thuật khi sắp
đặt cái mớ sự kiện hỗn độn thành một trật tự có ý nghĩa, một triết lí khi đi tìm viễn cảnh và sự
giải minh. “Hiện tại tức là dĩ vãng đã cuốn lại để cho ta hành động, mà dĩ vãng tức là hiện tại
mở ra để cho ta hiểu biết” – ít nhất là chúng tôi nghĩ như vậy và ước mong như vậy. Triết lý
giúp chúng ta nhìn thấy bộ phận dưới ánh sáng của toàn thể, còn “triết lý của sử” thì giúp
chúng ta thấy hiện tại dưới ánh sáng của dĩ vãng. Không bao giờ đạt được sự hoàn toàn, chúng
tôi biết vậy! Viễn ảnh tổng quát chỉ là một thị ảo giác. Chúng ta không thể biết được toàn thể
lịch sử nhân loại, chắc là trước Sumer[10] và Ai Cập đã có những nền văn minh khác. Chúng ta
chỉ mới khai quật các di tích hồi gần đây! Chúng ta phải làm việc bằng những kiến thức cục bộ,
không trọn vẹn, và chúng ta chỉ tạm thời phỏng đoán thôi, về sử học cũng như về khoa học,
chính trị học, phải thận trọng đừng tin các quy tắc, các định thức, bất kỳ định thức nào. “Lịch
sử bất chấp cái tham vọng của ta muốn dồn dòng lịch sử vào những đường vạch sẵn của luận
lý, nó thoát ra khỏi những quy nạp khái quát của ta, nó phá tan những quy tắc của ta, nó kỳ cục
lắm”. Chưa biết chừng, trong những giới hạn đó, chúng ta lại học được của lịch sử tạm đủ để
kiên nhẫn chịu đựng được thực tại và tôn trọng những ảo tưởng của nhau.
Con người là một khoảnh khắc trong thời gian của các tinh tú, một khách qua đường trên địa
cầu, một bào tử của chủng loại, một miêu duệ của nòi giống, một phức hợp gồm thể xác và tinh
thần, một phần tử của một gia đình và một cộng đồng, một tín đồ hay một kẻ hoài nghi, một
đơn vị kinh tế và có lẽ là công dân một quốc gia hoặc là binh sĩ trong một quân đội nữa. Vậy thì
chúng ta có thể lần lượt đứng về phương diện thiên văn, địa chất, địa lí, sinh lý, nhân chủng,
tâm lí, luân lí, tôn giáo, kinh tế, chính trị và chiến tranh, mà tự hỏi lịch sử về mỗi phương diện
đó, dạy cho chúng ta biết được những gì về bản thể, thái độ và tương lai của con người. Đem cả
trăm thế kỷ lịch sử mà gom lại trong một trăm trang kết luận liều lĩnh, thì quả là một việc làm
bấp bênh và điên khùng! Nhưng chúng tôi cũng làm thử xem.
CHƯƠNG II: LỊCH SỬ VÀ TRÁI ĐẤT
Lịch sử có tính cách mơ hồ (khó định nghĩa cho đúng được), nhưng nếu chúng ta cho nó là sự
diễn tiến của các biến cố đã qua và sự ghi lại các biến cố ấy thì lịch sử của nhân loại chỉ là một
khoảnh khắc trong không gian, và bài học đầu tiên của lịch sử là ta nên khiêm tốn. Bất cứ lúc
nào, một ngôi sao chổi cũng có thể đến quá gần địa cầu nhỏ bé của chúng ta, làm cho nó đảo
lộn, lôi cuốn nó vào một quỹ đạo vô trật tự mà từ người đến rệp, rận đều tan thành khói hết:
Hoặc một mảnh trời rực rỡ có thể văng ra – có lẽ hành tinh của chúng ta cũng đã từ mặt trời
văng ra mới gần đây, so với thời gian vô biên – và rớt xuống đầu chúng ta một cách khủng
khiếp, làm tiêu tan hết mọi nỗi đau khổ của nhân loại.
Trên đường đời chúng ta chấp nhận những sự có thể xảy ra được đó và mượn lời của Pascal
để thách thức vũ trụ: “Ngay cả khi vũ trụ đè bẹp con người, con người vẫn cao cả hơn vũ trụ vì
con người biết rằng mình đang chết, còn vũ trụ đâu có biết đến chiến thắng của nó”[11].
Lịch sử lệ thuộc vào địa chất học. Ngày nào biển cũng lấn vào đất hoặc đất cũng lấn ra biển ở
một nơi nào đó, những thành phố chìm sâu dưới làn nước và những giáo đường ở đáy biển vẫn
tiếp tục vang những hồi chuông thê thảm. Núi mọc lên và sụp đổ theo nhịp điệu của đất trồi
đất lở, sông dâng lên và làm ngập lụt, hoặc cạn đi, hoặc đổi dòng, thung lũng trở thành sa mạc,
và eo đất biến thành eo biển. Dưới con mắt địa chất gia, tất cả bề mặt trái đất chỉ là một dịch
thể (chất lỏng) người ta di chuyển trên đó một cách kém an toàn cũng như thánh Pierre lướt
trên sóng mà đi đến chúa Ki Tô.
Khí hậu không còn nhồi nặn chúng ta như Montesquieu[12] và Buckle đã nói, nhưng vẫn còn
giới hạn chúng ta. Óc tinh xảo của con người thường vượt qua những trở ngại địa chất: Con
người có thể đưa nước vào sa mạc hoặc điều hòa không khí cả trong sa mạc Sahara, con người
có thể san bằng hoặc vượt qua núi, hoặc xẻ đồi thành từng bực để trồng nho, con người có thể
xây dựng cả một thành phố nổi để qua đại dương, hoặc chế tạo cả những con chim khổng lồ để
bay trên trời. Nhưng một trận cuồng phong có thể tàn phá trong một giờ một thành phố mất
công xây cất hằng thế kỷ, một băng đảo có thể lật đổ hoặc phá vỡ một lâu đài nổi và đưa hằng
ngàn du khách xuống đáy biển. Chỉ cần thiếu mưa là cả một nền văn minh bị chôn vùi dưới cát,
như ở trung bộ Á châu; chỉ cần mưa tầm tã là cả một nền văn minh sẽ bị chết nghẹt trong rừng
già như ở Trung Mĩ. Nhiệt độ trung bình ở các miền trù mật hiện tại chỉ cần lên hai mươi độ[13]
là chúng ta sẽ lâm vào cảnh u mê man dại. Trong khí hậu bán nhiệt đới, một nước có nửa tỷ
người có thể sinh sôi như kiến nhưng sức nóng tàn hại có thể khiến họ luôn luôn bị các toán
dân hiếu chiến ở những vùng khí hậu lành mạnh hơn chinh phục.
Qua nhiều thế hệ con người đã càng ngày càng chế ngự được trái đất, nhưng rồi con người
cũng sẽ chỉ là một nắm xương khô trong lòng đất.
Địa lý học là khuôn đúc, đồng thời cũng là mẹ nuôi và kẻ trừng phạt lịch sử. Sông hồ, ốc đảo
và đại dương thu hút người tới sinh cơ lập nghiệp ở ven bờ, vì nước là mạch sống của cơ thể và
của thành phố, và cung cấp những đường vận tải và mậu dịch ít tốn kém. Ai Cập là “tặng vật của
sông Nil”, và vùng Mésopotamie đã xây dựng biết bao nền văn minh kế tiếp “giữa hai dòng
sông”[14] và dọc theo các chi nhánh. Ấn Độ là con đẻ của sông Indus, sông Brahmapoutre và
sông Gange. Trung Hoa sống được mà cũng điêu đứng vì các con sông lớn[15] thường đi lang
thang (như chúng ta) ra khỏi lòng sông, đưa phù sa mầu mỡ vào miền lân cận. Ý Đại Lợi đã tô
điểm cho các thung lũng sông Tibre, sông Arno và sông Po. Nước Áo phát triển dọc sông
Danube, Đức dọc theo sông Elbe và sông Rhin, Pháp dọc theo sông Rhône, sông Loire và sông
Seine. Petra và Palmyre được các ốc đảo trong sa mạc nuôi dưỡng.
Khi dân Hi Lạp trở nên quá đông, họ lập nghiệp ven bờ Địa Trung Hải “như ếch ở ven bờ
ao”[16] và dọc theo Pont Euxin tức Hắc Hải. Suốt trong 2000 năm – từ trận Salamine (480
trước T.L.) tới trận đại bại của hạm đội bách chiến bách thắng Y Pha Nho (1588)[17] – bờ bể
phía bắc và phía nam Địa Trung Hải là những trung tâm tranh giành ngôi thứ của dân da trắng.
Nhưng từ năm 1492 trở đi, các cuộc hành trình của Colomb và Vasco de Gama đã khuyến khích
người ta mạo hiểm vượt đại dương, do đó miền Địa Trung Hải mất địa vị bá chủ: Gênes, Pise,
Florence, Venise suy tàn, thời đại Phục hưng (ở châu Âu) mai một, các quốc gia ven bờ Đại Tây
dương trở nên thịnh vượng và sau hết giành quyền bá chủ trên khắp nửa thế giới. Khoảng năm
1730, George Berkeley đã viết: “Đế quốc có khuynh hướng bành trướng về phương tây”. Sự
bành trướng đó có sẽ tiếp tục băng qua Thái Bình dương, du nhập những kỹ thuật, kỹ nghệ và
thương mại Âu châu và Mỹ châu vào Trung Hoa, như đã từng vào Nhật trước kia[18] không?
Dân số rất đông của phương Đông biết lợi dụng nền kĩ thuật mới nhất của phương Tây có sẽ
gây nên sự suy tàn của phương Tây không?
Sự phát triển của thuật phi hành cũng sẽ lại làm thay đổi bản đồ của nền văn minh. Càng
ngày các đường mậu dịch trên sông và biển sẽ càng ít đi, người và hàng hóa sẽ càng được đưa
thẳng tới nơi bằng máy bay. Các nước như Anh, Pháp, sẽ mất ưu thế thương mại do hình thể bờ
biển thuận lợi, các nước như Nga, Trung Hoa và Ba Tây, tới nay bị trở ngại vì diện tích quá lớn
mà lại ít bờ biển, sẽ đỡ bị thiệt thòi một phần nào nhờ dùng đường hàng không. Các thành phố
ven bờ biển sẽ giảm bớt nguồn lợi tức vì việc chuyển hàng từ tàu thủy lên xe lửa hoặc từ xe lửa
xuống tàu thủy thật là bất tiện. Khi nào đường biển đã nhường bước cho đường hàng không
trên lãnh vực vận tải và chiến tranh thì chúng ta sẽ được chứng kiến một trong những cuộc
cách mạng lớn lao của lịch sử.
Ảnh hưởng của các yếu tố địa lý giảm dần theo sự trưởng thành của kỹ thuật. Địa thế và vị trí
của một vùng có thể thuận lợi cho nông nghiệp, khai thác hầm mỏ hoặc thương mại, nhưng chỉ
có trí tưởng tượng và óc sáng kiến của người lãnh đạo và sự cần cù của kẻ được lãnh đạo mới
có thể biến những tiềm năng thành thực tại, và chỉ có sự phối hợp các sức mạnh đó (óc sáng
kiến và sự cần cù) như ở Do Thái hiện nay mới có thể khiến một nền văn hóa vượt qua bao trở
ngại để thành hình. Chính người, chứ không phải trái đất, mới tạo ra văn minh.
CHƯƠNG III: SINH VẬT HỌC LỊCH SỬ
Lịch sử chỉ là một phần nhỏ của sinh vật học: Cuộc đời con người chỉ là một trong vô số các
biến hóa của các sinh vật trên đất và dưới bể. Đôi khi đi thơ thẩn một mình trong rừng vào một
ngày mùa hạ, ta nhìn hoặc nghe thấy sự di động của hằng trăm loài bay, nhảy, bò hoặc chui rúc
dưới đất. Chúng giật mình chạy đi khi thấy ta đến. Con thì trốn trong cành lá bụi cây, con thì lặn
dưới suối, con thì bay vút lên không. Bỗng nhiên ta cảm thấy mình chỉ thuộc vào một thiểu số
luôn luôn sống trong đe dọa trên trái đất vô tình này, và đi bên cạnh những loài ấy, mình đã
làm náo động nơi chúng ở trong giây lát, chắc chúng cũng bực mình lắm. Lúc đó, tất cả những
thành tích vẻ vang của con người đều trở về cái vị trí tầm thường trong lịch sử và sự biến hóa
của một cuộc sống muôn hình vạn trạng. Tất cả các sự cạnh tranh kinh tế, tranh giành trai gái,
sự đói khát yêu thương, buồn khổ và chinh chiến của chúng ta, tất cả có khác gì những cuộc săn
mồi, giao cấu, chiến đấu và đau khổ đang âm thầm diễn ra dưới thân cây đổ, chiếc lá rụng, dưới
nước hoặc trên cành kia không?
Do đó, các định luật sinh lý là bài học căn bản của lịch sử. Chúng ta phải chịu những diễn
trình thử thách của tiến hóa, phải chịu sự cạnh tranh để tồn tại, ưu thắng liệt bại. Sở dĩ một số
người chúng ta bề ngoài có vẻ thoát khỏi luật đào thải tự nhiên tàn khốc đó là nhờ đoàn thể đã
che chở cho chúng ta, nhưng chính đoàn thể đã phải đương đầu với những thử thách đó để tồn
tại.
Do đó có bài học đầu tiên này của lịch sử: Đời là một cuộc cạnh tranh. Cạnh tranh không phải
chỉ là việc làm ăn mà là việc sinh tử. Cuộc cạnh tranh đó ôn hòa khi có nhiều thức ăn, và trở nên
tàn bạo khi số miệng ăn nhiều hơn thức ăn. Các loài vật ăn sống nuốt tươi lẫn nhau mà không
biết ân hận gì cả, còn con người văn minh thì thủ tiêu nhau một cách hợp pháp. Sự hợp tác quả
thật có đấy, và gia tăng theo sự phát triển xã hội đấy, nhưng phần lớn chính vì nó là một công
cụ và hình thức cạnh tranh. Chúng ta hợp tác trong đoàn thể của chúng ta, trong gia đình, xã
hội, hội ái hữu, giáo hội, đảng, chủng tộc hoặc quốc gia của chúng ta, để làm tăng cường tư thế
cạnh tranh của tập thể chống với các tập thể khác. Tập thể cũng như cá nhân, khi cạnh tranh thì
đều tham lam, hiếu chiến, thiên vị và kiêu căng. Quốc gia gồm nhiều người như chúng ta, nên
chúng ta ra sao thì quốc gia cũng vậy. Chỉ khác là bản chất của quốc gia đậm hơn, rõ rệt hơn, và
cái thiện cái ác của quốc gia cũng lớn hơn của cá nhân rất nhiều. Chúng ta tham lam, hay gây
lộn bởi vì trong huyết quản còn dòng máu của ngàn thế hệ đã phải săn đuổi, chiến đấu, giết
chóc để sinh tồn, và đã phải ăn đến phình bụng ra vì sợ còn lâu mới kiếm được con mồi khác.
Chiến tranh là cách săn mồi để ăn của một quốc gia. Nó tạo ra sự đoàn kết chính vì nó là hình
thức cạnh tranh tối cao. Khi nào các quốc gia chưa trở nên thành phần của một tập thể lớn hơn
và được tập thể che chở hữu hiệu thì chúng còn tiếp tục hành động như cá nhân và gia đình
trong thời kì săn mồi.
Đây là bài học sinh lý thứ hai của lịch sử: Đời là một cuộc đào thải. Trong sự cạnh tranh để có
thức ăn, thỏa mãn tính dục hoặc có quyền hành, một số sinh vật thành công, một số thất bại.
Trong cuộc đấu tranh để sinh tồn, một số người được trang bị kĩ hơn các người khác. Vì tạo
hóa (ở đây có nghĩa là toàn bộ thực tại và các diễn trình của nó) chưa đọc kỹ bản Tuyên ngôn
Độc lập của Hoa Kỳ hoặc Tuyên ngôn Nhân quyền của Cách mạng Pháp, nên sinh ra chúng ta đã
không tự do, bình đẳng: Ta phải chịu những di truyền về thể xác và tinh thần, chịu sự chi phối
của tập quán cùng truyền thống của tập thể, mỗi người một khác về sức khỏe, sức mạnh, khả
năng tinh thần và tính khí. Tạo hóa thích dùng sự dị biệt đó làm chất liệu cần thiết cho sự đào
thải và tiến hóa. Ngay cả anh em sánh đôi cũng khác nhau rất nhiều, và không có hai hạt đậu
nào hoàn toàn giống nhau cả.
Sự bất bình đẳng không những chỉ tự nhiên và bẩm sinh mà còn gia tăng cùng với sự phức
tạp của nền văn minh. Sự bất bình đẳng vì di truyền gây nên sự bất bình đẳng nhân tạo trong
xã hội. Bất cứ một phát minh hoặc khám phá nào cũng đều do những cá nhân xuất sắc tạo ra và
lợi dụng khiến cho người khỏe lại khỏe thêm và kẻ yếu hóa ra yếu hơn. Phát triển kinh tế gây
ra sự chuyên môn hóa các chức vụ, dị biệt hóa khả năng, do đó mà có kẻ quí người hèn đối với
tập thể. Nếu biết rất kĩ các người đồng loại thì chúng ta có thể chọn ba mươi phần trăm số
người mà khả năng gom lại cũng nhiều bằng tất cả số bảy chục phần trăm kia. Cuộc sống và
lịch sử đã lựa chọn, đào thải như vậy đấy, sự bất công vĩ đại đó làm cho ta nhớ tới Thượng Đế
của Calvin[19].
Tạo hóa mỉm cười chế nhạo sự phối hợp giữa tự do và bình đẳng trong thế giới không tưởng
của chúng ta. Bởi vì tự do và bình đẳng vĩnh viễn là hai kẻ thù không đội trời chung. Khi cái này
mạnh thì cái kia phải chết. Cho con người được tự do thì sự bất bình đẳng tự nhiên giữa họ với
nhau sẽ gia tăng theo cấp số nhân, như đã xảy ra tại Anh và Mỹ vào thời kỳ tự do kinh doanh ở
thế kỉ mười chín. Muốn chặn bớt sự bất bình đẳng thì phải hy sinh tự do, như ở Nga sau 1917.
Ngay cả khi bị kiềm chế, sự bất bình đẳng vẫn cứ gia tăng. Chỉ những người ở dưới mức trung
bình về khả năng kinh tế mới muốn có bình đẳng. Những người nào cảm thấy tài giỏi thì lại
muốn tự do. Rốt cuộc hạng tài năng thường được toại nguyện. Xét về phương diện sinh lí,
những quan niệm không tưởng về bình đẳng không thể nào đứng vững được. Và các nhà hiền
triết đầy hảo ý chỉ có thể ước ao được một tình trạng gần như bình đẳng về pháp luật và giáo
dục thôi. Một xã hội trong đó mọi khả năng tiềm tàng được tự do phát triển và hoạt động sẽ có
ưu thế tồn tại đối với các nhóm cạnh tranh khác. Ngày nay (vì phương tiện giao thông và
truyền tin rất tiến bộ) các quốc gia hóa ra gần nhau hơn, tiếp xúc, xung đột nhau nhiều hơn,
nên sự cạnh tranh càng trở nên gay go hơn.
Bài học sinh lí thứ ba của lịch sử là: Cuộc sống phải sinh sản, tăng gia lên. Tạo hóa không
chấp nhận những cơ thể, biến trạng hoặc tập thể không biết sinh sôi nảy nở. Tạo hóa đòi hỏi
phải có nhiều về lượng rồi mới lựa chọn về phẩm. Tạo hóa thích những đàn con đông và say
mê những cuộc đấu tranh để giành sự sống còn cho một số ít kẻ mạnh. Tạo hóa chắc hẳn phải
hài lòng được chứng kiến hằng ngàn tinh trùng đua nhau vượt lên để gieo tinh cho một cái
noãn. Tạo hóa chú trọng đến chủng loại nhiều hơn là cơ thể và cũng không cần phân biệt giữa
văn minh và mọi rợ. Tạo hóa không cần biết rằng sinh suất cao thường đi đôi với một nền văn
minh thấp và sinh suất thấp thường đi đôi với một nền văn minh cao, và Tạo hóa (hiểu theo
nghĩa toàn thể các diễn trình sinh nở, biến thể, cạnh tranh, đào thải và sinh tồn) lại còn cố tình
để cho các quốc gia có sinh suất thấp lâu lâu đều đều bị chinh phạt bởi các tập thể khỏe mạnh
và sinh sản nhiều hơn. Dưới thời César, dân xứ Gaule chống lại được với dân Đức nhờ các đạo
quân La Mã, và ngày nay [Pháp] chống lại được Đức nhờ các đạo quân Anh, Mĩ. Khi La Mã suy
tàn, dân Franc từ Đức kéo sang và biến xứ Gaule thành nước Pháp. Giả sử Anh và Mĩ lại suy tàn
(như La Mã) thì nước Pháp với dân số gần như không thay đổi trong suốt thể kỉ XIX, có thể lại
bị chinh phục.
Nếu loài người trở nên đông quá không kiếm đủ thức ăn thì Tạo hóa có ba cách để lập lại thế
quân bình: nạn đói, bệnh dịch và chiến tranh. Trong tác phẩm nổi danh Luận về Dân số (1798)
Thomas Malthus cho rằng nếu không có những sự kiềm chế định kì đó thì sinh suất sẽ cao hơn
tử suất đến nỗi số miệng ăn gia tăng sẽ lấn át cả số gia tăng thực phẩm. Tuy là một nhà tu và
một người có thiện ý, nhưng Malthus cho rằng cấp phát tiền và phẩm vật cứu trợ cho người
nghèo là khuyến khích họ sinh đẻ bừa bãi, và do đó, làm cho vấn đề thêm trầm trọng. Trong lần
xuất bản thứ nhì (1803) ông còn khuyên nên tiết chế giao hợp trừ khi muốn sinh sản, nhưng
ông lại không chấp nhận các phương pháp kiểm soát sinh đẻ khác. Biết rằng lời khuyên thánh
đức này khó được chấp nhận, nên ông tiên đoán là sự quân bình giữa số miệng ăn và số thức ăn
trong tương lai sẽ được duy trì bằng nạn đói, bệnh dịch và chiến tranh như đã từng xảy ra
trong quá khứ.
Những tiến bộ về kĩ thuật canh tác và cách ngừa thai trong thể kỉ XIX có vẻ đã bác bỏ lập luận
của Malthus: tại Anh, Hoa Kì, Đức và Pháp, số cung thực phẩm đã theo kịp đà sinh sản, và mức
sinh hoạt cao đã trì hoãn tuổi thành hôn, giảm số con trong gia đình. Có thêm người ăn thì
cũng có thêm người sản xuất: những bàn tay mới đã khai thác đất nước để có thêm thực phẩm.
Mới đây, Gia Nã Đại và Hoa Kì đã xuất cảng hằng triệu giạ lúa mì mà trong nước lại không bị
nạn đói và bệnh dịch. Đó là câu trả lời Malthus sống động nhất. Nếu áp dụng kiến thức canh tác
hiện nay khắp mọi nơi thì trái đất có thể nuôi sống một dân số đông gấp đôi số hiện tại.
Lẽ dĩ nhiên Malthus sẽ trả lời là giải pháp này chỉ làm trì hoãn cơn đại họa. Đất màu mỡ có
giới hạn, chẳng sớm thì muộn các tiến bộ về kĩ thuật canh tác cũng mất hiệu lực vì số sanh
nhiều hơn số tử. Trong khi đó y tế, vệ sinh và các công cuộc cứu trợ làm luật đào thải trở nên
vô hiệu, khiến cho kẻ yếu sống sót để sinh thêm ra kẻ yếu khác. Để trả lời lập luận này, người ta
hi vọng rằng các tiến triển trong lĩnh vực kĩ nghệ, đô thị hóa, giáo dục, và mức sinh hoạt tại các
nước hiện nay đang là mối đe dọa cho thế giới vì quá đông dân cư, có lẽ sẽ đưa tới hậu quả làm
giảm sinh suất như đã xảy ra tại Bắc Mĩ và Âu Châu. Cho tới khi đạt được mức bình quân giữa
sản xuất và sinh sản, thì vì lí do nhân đạo, ta nên khuyến cáo việc phổ biến các kiến thức và
phương pháp ngừa thai. Theo lẽ thường, sự sinh con đẻ cái phải là đặc quyền của những người
khỏe mạnh chứ không phải là phó sản của sự kích thích tính dục.
Có bằng chứng nào cho thấy kiểm soát sinh đẻ sẽ làm cho nòi giống suy nhược không? Chắc
là các người thông minh đã hạn chế sinh đẻ nhiều hơn người thường và cơ hồ trong mỗi thế
hệ, sức sinh sản quá mức của những người kém hiểu biết đã làm cho nỗ lực của các nhà giáo
dục hóa ra công dã tràng. Nhưng cái chúng ta gọi là óc thông minh phần lớn do kết quả của
giáo dục, cơ hội và kinh nghiệm mỗi cá nhân, và không có bằng chứng nào cho thấy trí tuệ đã
luyện được đó sẽ di truyền cho con cái. Ngay cả con các tiến sĩ cũng phải được giáo dục, phải
trải qua những lỗi lầm và những cơn khủng hoảng về giáo điều, về niềm tin của tuổi trưởng
thành. Chúng ta không thể nói là có bao nhiêu khả năng hoặc thiên tài tiềm ẩn trong nhiễm sắc
thể của những người nghèo sống chật vật và thiếu thốn. Về sinh lí, sức mạnh về thể xác lúc sơ
sinh có thể quí hơn dòng dõi trí thức. Nietzsche cho rằng dòng giống tốt nhất tại Đức ở trong
huyết quản của nông dân. Các triết gia không phải là vật liệu tốt nhất để giữ cho nòi giống sinh
sôi nảy nở.
Hạn chế sinh đẻ đã dự một phần trong lịch sử của Hi Lạp và La Mã. Thật là một chuyện buồn
cười khi thấy César (năm 59 trước TL) thưởng cho người dân La Mã nào đông con và cấm
những đàn bà hiếm hoi đi kiệu hoặc đeo đồ trang sức. Khoảng bốn chục năm sau, Auguste lại
áp dụng chiến thuật ấy nhưng cũng bất lực. Hạn chế sinh đẻ tiếp tục lan tràn trong giới thượng
lưu, trong khi đó dân di cư gốc Đức ở phương Bắc, dân Hi Lạp hoặc Trung Đông thay đổi dần
thành phần dân số Ý. Rất có thể sự thay đổi chủng tộc này đã làm giảm khả năng và ý chí của
dân chúng ngăn chặn ngoại xâm và chống lại sự bất lực của chính quyền.
Tại Mỹ, sinh suất thấp của dân gốc Anglosaxon đã làm giảm quyền hành kinh tế và chính trị
của họ. Trong khi đó sinh suất cao hơn của các gia đình theo đạo Ki Tô cho thấy có lẽ vào năm
2000, Giáo hội Ki Tô sẽ là lực lượng mạnh nhất trong các chính phủ liên bang, cũng như tiểu
...
Nguyên tác: The Lessons of History
Tác giả: Will & Ariel Durant
Người dịch: Nguyễn Hiến Lê
Thể loại: Lịch sử
NXB Tổng Hợp, TP. HCM – 1/2006
Khổ: 13,5×20,5 cm
Chia sẽ ebook : http://downloadsachmienphi.com/
Tham gia cộng đồng chia sẽ sách :
Fanpage : https://www.facebook.com/downloadsachfree
Cộng đồng Google : http://bit.ly/downloadsach
MỤC LỤC:
Vài lời thưa trước
Tựa
BÀI HỌC CỦA LỊCH SỬ
§I: Do dự
§II: Lịch sử và trái đất
§III: Sinh vật học lịch sử
§IV: Nòi giống và lịch sử
§V: Tính tình và lịch sử
§VI: Luân lí và lịch sử
§VII: Tôn giáo và lịch sử
§VIII: Kinh tế và lịch sử
§IX: Chủ nghĩa xã hội và lịch sử
§X: Chính thể và lịch sử
§XI: Lịch sử và chiến tranh
§XII: Tiến bộ và suy tàn
Chú thích của người dịch
§XIII: Loài người có thực sự tiến bộ không?
Phụ lục: Loài người khôn hơn mỗi người
Sức khoẻ
Tính dục
Tư cách
Tôn giáo
Kinh tế
Trí tuệ
Một di sản đương khuếch trương
Nguyên tác: THE LESSONS OF HISTORY
Vài lời thưa trước
Trong cuốn Đời viết văn của tôi, cụ Nguyễn Hiến Lê cho biết:
“Vào khoảng 1969, tôi mua được trọn bộ Lịch sử Văn minh (32 cuốn) của Will Durant, dịch ra
tiếng Pháp, do nhà Rencontre ở Lausanne (Thuỵ Sĩ) xuất bản. Bộ đó rất hay, ông bà Durant để ra
ba chục năm tham khảo mấy ngàn cuốn sách, đi du lịch gần khắp thế giới để viết nó.
Năm 1970 tôi dịch cuốn Văn minh Ấn Độ (550 trang), Lá Bối in. Để viết bài tựa 16 trang cho
cuốn đó, tôi đã gởi thư qua Thuỵ Sĩ nhờ nhà Rencontre kiếm cho tài liệu về đời sống và sự nghiệp
của W. Durant. Độc giả hoan nghênh, một vị viết thư yêu cầu tôi dịch toàn bộ. Tôi đáp cũng muốn
vậy lắm nhưng trong nước phải có ít nhất là 3.000 độc giả như ông ta thì nhà Lá Bối mới dám
tiếp tục.
Sau tôi chỉ dịch thêm bốn cuốn nữa: Văn minh Ả Rập, Bài học của lịch sử, Nguồn gốc văn minh
và Văn minh Trung Hoa. Cuốn sau chưa kịp in thì thay đổi chế độ. Những cuốn đó đều có ích,
nhất là Bài học của lịch sử.”
Bốn cuốn Nguồn gốc văn minh, Lịch sử văn minh Ả Rập, Lịch sử văn minh Ấn Độ và Lịch sử văn
minh Trung Hoa đều nằm trong tập I: Our Oriental Heritage (nhan đề bản Pháp dịch là Notre
Héritage Oriental, tập này gồm 3 cuốn) của bộ Lịch sử văn minh, riêng cuốn Bài học của lịch sử
thì không nằm trong bộ đó.
Trên trang 4 cuốn Bài học của lịch sử, Nxb Tổng hợp TP. HCM, 2006, ghi nguyên tác là The
Lessons of History – Simon and Schuster, New York, 1968; Wikipedia cũng viết tương tự như
vậy[1], nhưng chúng tôi đoán là cụ dịch từ bản Pháp dịch Les Leçons de l'histoire (Nxb
Rencontre, Genève, 1970), còn nếu như cụ dịch từ nguyên tác tiếng Anh The Lessons of History
thì có phần chắc là cụ có tham khảo bản Pháp dịch. Chúng tôi đoán như vậy là vì các nhân danh
trong cuốn Bài học của lịch sử, nếu cụ không gọi bằng tiếng Việt như Tư Mã Thiên, thì cụ đều
được gọi theo tiếng Pháp như César, Cléopâtre chứ không gọi theo tiếng Anh là Caesar,
Cleopatra; địa danh cũng vậy, nếu cụ không viết theo tiếng Việt là Y Pha Nho (nay ta gọi là Tây
Ban Nha), thì cụ viết theo tiếng Pháp như Londres, Olympe chứ không viết theo tiếng Anh là
London, Olympus; hoặc như trong một chú thích, cụ bảo từ được dịch là biện chứng pháp là từ
tiếng Pháp dialectique[2], chứ không phải là từ tiếng Anh là dialectic. Giữa bản Việt dịch và bản
tiếng
Anh
mà
chúng
tôi
tải
từ
trang
http://learningresources.softarchive.net/the_lessons_of_history_will_durant.295285.html
còn có một vài chỗ khác biệt nữa, như trong bài Tựa trong bản Việt dịch không có câu tương
ứng với câu cuối cùng trong bài Preface trong bản tiếng Anh là: “Here, as so often in the past, we
must gratefully acknowledge the help and counsel given us by our daughter Ethel”[3]. Ngược lại,
trong bản tiếng Anh không có đoạn tương ứng với đoạn cuối của chương XI trong bản Việt
dịch, từ “Ngay triết gia Bergson năm 1936 cũng viết” đến “Nếu vậy thì bi đát thật!”
Một điều nữa mà chúng tôi cũng chưa rõ là cuốn Bài học của lịch sử này là do một mình cụ
Nguyễn Hiến Lê dịch như được ghi trong bản in của Nxb Tổng hợp TP. HCM, hay là cụ dịch
chung với cụ Trần Lương Ngọc như theo lời giới thiệu của Nxb Lá Bối in ở bìa sau cuốn Chiến
Quốc sách của nhà này. Chúng tôi rất tiếc là không có bản in cuốn Bài học của lịch sử của nhà Lá
Bối năm 1972, nên không biết bản đó có ghi tên cụ Trần Lương Ngọc hay không, nhưng theo
bạn Tuanz thì: “Nxb Xuân Thu (ở nước ngoài) tái bản năm 1991 cũng ghi “Will và Ariel Durant,
The Lessons of History, Bài học của lịch sử, bản dịch của Nguyễn Hiến Lê và Trần Lương Ngọc”.
Ebook Bài học của lịch sử đã được các bạn Quocdung, Okal, Dqskiu, H2203, Chụt đánh máy,
Nambun sửa lỗi, và Tovanhung chuyển sang ebook và đăng trên TVE từ 29/09/2006.
Từ file Bài học của lịch sử có định dạng là.prc đó, bạn QuocSan chuyển thành file.doc và chỉnh
lại cách trình bày cho gọn nhẹ; rồi từ file.pdf The Lessons of History, bạn QuocSan cũng chuyển
thành file.doc và trình bày lại các chú thích và các niên đại ở trong phần Index. Cuối cùng, bạn
QuocSan ghép hai file đó lại thành một file duy nhất và chuyển file đó thành ebook có định
dạng.prc. Như vậy trong ebook mới này ta có cả hai bản: bản Việt dịch và bản nguyên tác tiếng
Anh.
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện ebook mới này, chúng tôi còn sửa thêm một số lỗi trong
bản Việt dịch. Trong những lỗi đó, chúng tôi phát hiện được là nhờ đối chiếu với bản tiếng Anh
(những lỗi này do sách in sai nên ebook cũ cũng sai theo).
Goldfish
Đầu tháng 11 năm 2010.
TỰA
Cuốn này chỉ là một kết luận nên không cần lời tựa. Sau khi in xong bộ Lịch sử Văn minh từ
thời nguyên thủy tới năm 1789, chúng tôi đã đọc lại hết để sửa nhiều lỗi khi viết hoặc khi in, cả
những lỗi bỏ sót nữa. Vừa làm công việc đó chúng tôi vừa ghi những biến cố, những lời phê phán
có thể giúp độc giả hiểu những đại sự của thế giới, đoán được đại khái, tương lai ra sao, biết
được tính con người và chính sự các Quốc gia. Độc giả sẽ thấy chúng tôi ghi nhiều xuất xứ ở
trong các cuốn của bộ Lịch sử Văn minh, như vậy, không phải để dẫn chứng đâu mà chỉ là để đưa
ra ít nhiều thí dụ và lời giải thích thôi. Chúng tôi đã rán đợi đọc hết trọn bộ rồi mới kết luận,
nhưng chắc chắn là những ý kiến chúng tôi có từ lúc đầu đã ảnh hưởng tới cách chúng tôi lựa
chọn thí dụ. Do đó mà có lập tiểu luận này. Chúng tôi đã lăp lại nhiều ý mà chính chúng tôi hoặc
những nhà khác trước chúng tôi, đã diễn rồi: mục đích chúng tôi không phải là tìm sự tân kì mà
chỉ mong được hoàn bị, đừng thiếu sót, chúng tôi tóm tắt kinh nghiệm của loài người, chứ không
trình bày một phát kiến cá nhân.
BÀI HỌC CỦA LỊCH SỬ
CHƯƠNG I: DO DỰ
Sử gia, khi làm xong một công việc nghiên cứu nào rồi, thường tự hỏi câu này: công lao khó
nhọc của mình có cống hiến được chút gì không? Hay là mình chỉ tìm thấy được cái thú kể lại
những thăng trầm của các dân tộc, các tư tưởng, chép lại những “truyện buồn về cái chết của
các vua chúa”? Mình đã hiểu bản tính con người hơn những người thường chưa bao giờ đọc
một trang sách nào không? Lịch sử có giúp mình hiểu thêm được thân phận con người không,
có hướng dẫn mình trong sự phán đoán và hành động không, có chỉ cho mình cách đối phó với
những sự bất ngờ trong đời sống hoặc những nỗi phù trầm của thời đại không? Trong sự liên
tục của các biến cố, mình có tìm được những nhịp điệu đều đều giúp mình tiên đoán được
những hành động sau này của nhân loại hay vận mạng của các Quốc gia không? Hay là rất có
thể, rốt cuộc, “lịch sử chẳng có ý nghĩa gì cả”[4]. Chẳng dạy cho ta được gì cả, mà thời dĩ vãng
mênh mông chỉ là một chuỗi dài chán ngắt gồm những lỗi lầm sau này sẽ tái hiện nữa một cách
đại qui mô hơn?
Đôi khi chúng tôi có cảm tưởng đó mà đâm ra hoài nghi. Trước hết, chúng ta có biết thực sự
dĩ vãng ra sao không, cái gì đã thực sự xảy ra không, hay là lịch sử chỉ như “một ngụ ngôn”
không hẳn ai cũng “chấp nhận”. Bất kì là về biến cố nào, sự hiểu biết của chúng ta về dĩ vãng
luôn luôn thiếu sót và có phần chắc là sai lầm nữa: Nó dựa trên những chứng cứ hàm hồ, khả
nghi của những sử gia thiên kiến, và có lẽ nó còn chịu ảnh hưởng những ý kiến chính trị hay
tôn giáo của chính ta nữa. “Phần lớn lịch sử là những điều phỏng đoán, phần còn lại là những
thành kiến”[5]. Ngay một sử gia tự cho rằng mình đã vượt được những thiên kiến về xứ sở,
chủng tộc, tín ngưỡng hoặc giai cấp, cũng để lộ những thiên ái thầm kín của mình trong cách
lựa chọn tài liệu và dùng hình dung từ. “Sử gia luôn luôn đơn giản hoá quá mức (các biến cố) và
trong các đám đông tâm hồn và biến cố phức tạp mênh mông không làm sao bao quát được,
ông ta đành phải vội vàng lựa chọn một số nhỏ sự kiện và nhân vật dễ sử dụng, trình bày.”[6]
Vả lại thời này mà rút những kết luận từ dĩ vãng để dùng trong tương lai thì nguy hiểm hơn
thời nào nữa, vì tốc độ biến chuyển bây giờ tăng quá mau. Năm 1909 Charles Péguy bảo rằng
“Thế giới đã thay đổi trong ba chục năm gần đây nhiều hơn là từ thời chúa Ki Tô”, và một tiến
sỹ vật lý còn trẻ bây giờ có thể nói thêm rằng môn vật lý từ 1909 đến nay đã thay đổi nhiều
hơn là trong suốt lịch sử thế giới. Mỗi năm – trong thời chiến thì có khi là mỗi tháng – lại xuất
hiện một phát minh mới, một phương pháp mới, một tình thế mới, và chúng ta bắt buộc phải
thay đổi lề lối cùng ý nghĩ của ta.
Sau cùng, hình như có một yếu tố ngẫu nhiên, có thể là một yếu tố tự do, trong sự tác động
của vật chất và của con người. Ngày nay chúng ta không còn tin rằng các nguyên tử, chứ đừng
nói là các cơ thể, sau này sẽ phản ứng lại như thời trước. Các điện tử di chuyển một cách bí
mật, như Thượng Đế của Cowper[7], và chỉ một chướng ngại về tính tình hoặc về hoàn cảnh là
có thể làm cho một dân tộc bị xáo trộn, như khi vua Alexandre (cổ Hy Lạp) vì quá say rượu mà
chết[8], khiến cho cả đế quốc mới thành lập của ông bị tan rã (323 trước T.L), hoặc như khi Đại
đế Frederick thoát khỏi cảnh quốc gia sụp đổ nhờ sự lên ngôi của một Nga hoàng say mê lối
sống của Phổ[9] (1762).
Hiển nhiên là môn soạn sử không thể là một khoa học được mà chỉ là một hoạt động, một
nghệ thuật và một triết lí: Nó là một hoạt động khi tìm tòi các sự kiện, một nghệ thuật khi sắp
đặt cái mớ sự kiện hỗn độn thành một trật tự có ý nghĩa, một triết lí khi đi tìm viễn cảnh và sự
giải minh. “Hiện tại tức là dĩ vãng đã cuốn lại để cho ta hành động, mà dĩ vãng tức là hiện tại
mở ra để cho ta hiểu biết” – ít nhất là chúng tôi nghĩ như vậy và ước mong như vậy. Triết lý
giúp chúng ta nhìn thấy bộ phận dưới ánh sáng của toàn thể, còn “triết lý của sử” thì giúp
chúng ta thấy hiện tại dưới ánh sáng của dĩ vãng. Không bao giờ đạt được sự hoàn toàn, chúng
tôi biết vậy! Viễn ảnh tổng quát chỉ là một thị ảo giác. Chúng ta không thể biết được toàn thể
lịch sử nhân loại, chắc là trước Sumer[10] và Ai Cập đã có những nền văn minh khác. Chúng ta
chỉ mới khai quật các di tích hồi gần đây! Chúng ta phải làm việc bằng những kiến thức cục bộ,
không trọn vẹn, và chúng ta chỉ tạm thời phỏng đoán thôi, về sử học cũng như về khoa học,
chính trị học, phải thận trọng đừng tin các quy tắc, các định thức, bất kỳ định thức nào. “Lịch
sử bất chấp cái tham vọng của ta muốn dồn dòng lịch sử vào những đường vạch sẵn của luận
lý, nó thoát ra khỏi những quy nạp khái quát của ta, nó phá tan những quy tắc của ta, nó kỳ cục
lắm”. Chưa biết chừng, trong những giới hạn đó, chúng ta lại học được của lịch sử tạm đủ để
kiên nhẫn chịu đựng được thực tại và tôn trọng những ảo tưởng của nhau.
Con người là một khoảnh khắc trong thời gian của các tinh tú, một khách qua đường trên địa
cầu, một bào tử của chủng loại, một miêu duệ của nòi giống, một phức hợp gồm thể xác và tinh
thần, một phần tử của một gia đình và một cộng đồng, một tín đồ hay một kẻ hoài nghi, một
đơn vị kinh tế và có lẽ là công dân một quốc gia hoặc là binh sĩ trong một quân đội nữa. Vậy thì
chúng ta có thể lần lượt đứng về phương diện thiên văn, địa chất, địa lí, sinh lý, nhân chủng,
tâm lí, luân lí, tôn giáo, kinh tế, chính trị và chiến tranh, mà tự hỏi lịch sử về mỗi phương diện
đó, dạy cho chúng ta biết được những gì về bản thể, thái độ và tương lai của con người. Đem cả
trăm thế kỷ lịch sử mà gom lại trong một trăm trang kết luận liều lĩnh, thì quả là một việc làm
bấp bênh và điên khùng! Nhưng chúng tôi cũng làm thử xem.
CHƯƠNG II: LỊCH SỬ VÀ TRÁI ĐẤT
Lịch sử có tính cách mơ hồ (khó định nghĩa cho đúng được), nhưng nếu chúng ta cho nó là sự
diễn tiến của các biến cố đã qua và sự ghi lại các biến cố ấy thì lịch sử của nhân loại chỉ là một
khoảnh khắc trong không gian, và bài học đầu tiên của lịch sử là ta nên khiêm tốn. Bất cứ lúc
nào, một ngôi sao chổi cũng có thể đến quá gần địa cầu nhỏ bé của chúng ta, làm cho nó đảo
lộn, lôi cuốn nó vào một quỹ đạo vô trật tự mà từ người đến rệp, rận đều tan thành khói hết:
Hoặc một mảnh trời rực rỡ có thể văng ra – có lẽ hành tinh của chúng ta cũng đã từ mặt trời
văng ra mới gần đây, so với thời gian vô biên – và rớt xuống đầu chúng ta một cách khủng
khiếp, làm tiêu tan hết mọi nỗi đau khổ của nhân loại.
Trên đường đời chúng ta chấp nhận những sự có thể xảy ra được đó và mượn lời của Pascal
để thách thức vũ trụ: “Ngay cả khi vũ trụ đè bẹp con người, con người vẫn cao cả hơn vũ trụ vì
con người biết rằng mình đang chết, còn vũ trụ đâu có biết đến chiến thắng của nó”[11].
Lịch sử lệ thuộc vào địa chất học. Ngày nào biển cũng lấn vào đất hoặc đất cũng lấn ra biển ở
một nơi nào đó, những thành phố chìm sâu dưới làn nước và những giáo đường ở đáy biển vẫn
tiếp tục vang những hồi chuông thê thảm. Núi mọc lên và sụp đổ theo nhịp điệu của đất trồi
đất lở, sông dâng lên và làm ngập lụt, hoặc cạn đi, hoặc đổi dòng, thung lũng trở thành sa mạc,
và eo đất biến thành eo biển. Dưới con mắt địa chất gia, tất cả bề mặt trái đất chỉ là một dịch
thể (chất lỏng) người ta di chuyển trên đó một cách kém an toàn cũng như thánh Pierre lướt
trên sóng mà đi đến chúa Ki Tô.
Khí hậu không còn nhồi nặn chúng ta như Montesquieu[12] và Buckle đã nói, nhưng vẫn còn
giới hạn chúng ta. Óc tinh xảo của con người thường vượt qua những trở ngại địa chất: Con
người có thể đưa nước vào sa mạc hoặc điều hòa không khí cả trong sa mạc Sahara, con người
có thể san bằng hoặc vượt qua núi, hoặc xẻ đồi thành từng bực để trồng nho, con người có thể
xây dựng cả một thành phố nổi để qua đại dương, hoặc chế tạo cả những con chim khổng lồ để
bay trên trời. Nhưng một trận cuồng phong có thể tàn phá trong một giờ một thành phố mất
công xây cất hằng thế kỷ, một băng đảo có thể lật đổ hoặc phá vỡ một lâu đài nổi và đưa hằng
ngàn du khách xuống đáy biển. Chỉ cần thiếu mưa là cả một nền văn minh bị chôn vùi dưới cát,
như ở trung bộ Á châu; chỉ cần mưa tầm tã là cả một nền văn minh sẽ bị chết nghẹt trong rừng
già như ở Trung Mĩ. Nhiệt độ trung bình ở các miền trù mật hiện tại chỉ cần lên hai mươi độ[13]
là chúng ta sẽ lâm vào cảnh u mê man dại. Trong khí hậu bán nhiệt đới, một nước có nửa tỷ
người có thể sinh sôi như kiến nhưng sức nóng tàn hại có thể khiến họ luôn luôn bị các toán
dân hiếu chiến ở những vùng khí hậu lành mạnh hơn chinh phục.
Qua nhiều thế hệ con người đã càng ngày càng chế ngự được trái đất, nhưng rồi con người
cũng sẽ chỉ là một nắm xương khô trong lòng đất.
Địa lý học là khuôn đúc, đồng thời cũng là mẹ nuôi và kẻ trừng phạt lịch sử. Sông hồ, ốc đảo
và đại dương thu hút người tới sinh cơ lập nghiệp ở ven bờ, vì nước là mạch sống của cơ thể và
của thành phố, và cung cấp những đường vận tải và mậu dịch ít tốn kém. Ai Cập là “tặng vật của
sông Nil”, và vùng Mésopotamie đã xây dựng biết bao nền văn minh kế tiếp “giữa hai dòng
sông”[14] và dọc theo các chi nhánh. Ấn Độ là con đẻ của sông Indus, sông Brahmapoutre và
sông Gange. Trung Hoa sống được mà cũng điêu đứng vì các con sông lớn[15] thường đi lang
thang (như chúng ta) ra khỏi lòng sông, đưa phù sa mầu mỡ vào miền lân cận. Ý Đại Lợi đã tô
điểm cho các thung lũng sông Tibre, sông Arno và sông Po. Nước Áo phát triển dọc sông
Danube, Đức dọc theo sông Elbe và sông Rhin, Pháp dọc theo sông Rhône, sông Loire và sông
Seine. Petra và Palmyre được các ốc đảo trong sa mạc nuôi dưỡng.
Khi dân Hi Lạp trở nên quá đông, họ lập nghiệp ven bờ Địa Trung Hải “như ếch ở ven bờ
ao”[16] và dọc theo Pont Euxin tức Hắc Hải. Suốt trong 2000 năm – từ trận Salamine (480
trước T.L.) tới trận đại bại của hạm đội bách chiến bách thắng Y Pha Nho (1588)[17] – bờ bể
phía bắc và phía nam Địa Trung Hải là những trung tâm tranh giành ngôi thứ của dân da trắng.
Nhưng từ năm 1492 trở đi, các cuộc hành trình của Colomb và Vasco de Gama đã khuyến khích
người ta mạo hiểm vượt đại dương, do đó miền Địa Trung Hải mất địa vị bá chủ: Gênes, Pise,
Florence, Venise suy tàn, thời đại Phục hưng (ở châu Âu) mai một, các quốc gia ven bờ Đại Tây
dương trở nên thịnh vượng và sau hết giành quyền bá chủ trên khắp nửa thế giới. Khoảng năm
1730, George Berkeley đã viết: “Đế quốc có khuynh hướng bành trướng về phương tây”. Sự
bành trướng đó có sẽ tiếp tục băng qua Thái Bình dương, du nhập những kỹ thuật, kỹ nghệ và
thương mại Âu châu và Mỹ châu vào Trung Hoa, như đã từng vào Nhật trước kia[18] không?
Dân số rất đông của phương Đông biết lợi dụng nền kĩ thuật mới nhất của phương Tây có sẽ
gây nên sự suy tàn của phương Tây không?
Sự phát triển của thuật phi hành cũng sẽ lại làm thay đổi bản đồ của nền văn minh. Càng
ngày các đường mậu dịch trên sông và biển sẽ càng ít đi, người và hàng hóa sẽ càng được đưa
thẳng tới nơi bằng máy bay. Các nước như Anh, Pháp, sẽ mất ưu thế thương mại do hình thể bờ
biển thuận lợi, các nước như Nga, Trung Hoa và Ba Tây, tới nay bị trở ngại vì diện tích quá lớn
mà lại ít bờ biển, sẽ đỡ bị thiệt thòi một phần nào nhờ dùng đường hàng không. Các thành phố
ven bờ biển sẽ giảm bớt nguồn lợi tức vì việc chuyển hàng từ tàu thủy lên xe lửa hoặc từ xe lửa
xuống tàu thủy thật là bất tiện. Khi nào đường biển đã nhường bước cho đường hàng không
trên lãnh vực vận tải và chiến tranh thì chúng ta sẽ được chứng kiến một trong những cuộc
cách mạng lớn lao của lịch sử.
Ảnh hưởng của các yếu tố địa lý giảm dần theo sự trưởng thành của kỹ thuật. Địa thế và vị trí
của một vùng có thể thuận lợi cho nông nghiệp, khai thác hầm mỏ hoặc thương mại, nhưng chỉ
có trí tưởng tượng và óc sáng kiến của người lãnh đạo và sự cần cù của kẻ được lãnh đạo mới
có thể biến những tiềm năng thành thực tại, và chỉ có sự phối hợp các sức mạnh đó (óc sáng
kiến và sự cần cù) như ở Do Thái hiện nay mới có thể khiến một nền văn hóa vượt qua bao trở
ngại để thành hình. Chính người, chứ không phải trái đất, mới tạo ra văn minh.
CHƯƠNG III: SINH VẬT HỌC LỊCH SỬ
Lịch sử chỉ là một phần nhỏ của sinh vật học: Cuộc đời con người chỉ là một trong vô số các
biến hóa của các sinh vật trên đất và dưới bể. Đôi khi đi thơ thẩn một mình trong rừng vào một
ngày mùa hạ, ta nhìn hoặc nghe thấy sự di động của hằng trăm loài bay, nhảy, bò hoặc chui rúc
dưới đất. Chúng giật mình chạy đi khi thấy ta đến. Con thì trốn trong cành lá bụi cây, con thì lặn
dưới suối, con thì bay vút lên không. Bỗng nhiên ta cảm thấy mình chỉ thuộc vào một thiểu số
luôn luôn sống trong đe dọa trên trái đất vô tình này, và đi bên cạnh những loài ấy, mình đã
làm náo động nơi chúng ở trong giây lát, chắc chúng cũng bực mình lắm. Lúc đó, tất cả những
thành tích vẻ vang của con người đều trở về cái vị trí tầm thường trong lịch sử và sự biến hóa
của một cuộc sống muôn hình vạn trạng. Tất cả các sự cạnh tranh kinh tế, tranh giành trai gái,
sự đói khát yêu thương, buồn khổ và chinh chiến của chúng ta, tất cả có khác gì những cuộc săn
mồi, giao cấu, chiến đấu và đau khổ đang âm thầm diễn ra dưới thân cây đổ, chiếc lá rụng, dưới
nước hoặc trên cành kia không?
Do đó, các định luật sinh lý là bài học căn bản của lịch sử. Chúng ta phải chịu những diễn
trình thử thách của tiến hóa, phải chịu sự cạnh tranh để tồn tại, ưu thắng liệt bại. Sở dĩ một số
người chúng ta bề ngoài có vẻ thoát khỏi luật đào thải tự nhiên tàn khốc đó là nhờ đoàn thể đã
che chở cho chúng ta, nhưng chính đoàn thể đã phải đương đầu với những thử thách đó để tồn
tại.
Do đó có bài học đầu tiên này của lịch sử: Đời là một cuộc cạnh tranh. Cạnh tranh không phải
chỉ là việc làm ăn mà là việc sinh tử. Cuộc cạnh tranh đó ôn hòa khi có nhiều thức ăn, và trở nên
tàn bạo khi số miệng ăn nhiều hơn thức ăn. Các loài vật ăn sống nuốt tươi lẫn nhau mà không
biết ân hận gì cả, còn con người văn minh thì thủ tiêu nhau một cách hợp pháp. Sự hợp tác quả
thật có đấy, và gia tăng theo sự phát triển xã hội đấy, nhưng phần lớn chính vì nó là một công
cụ và hình thức cạnh tranh. Chúng ta hợp tác trong đoàn thể của chúng ta, trong gia đình, xã
hội, hội ái hữu, giáo hội, đảng, chủng tộc hoặc quốc gia của chúng ta, để làm tăng cường tư thế
cạnh tranh của tập thể chống với các tập thể khác. Tập thể cũng như cá nhân, khi cạnh tranh thì
đều tham lam, hiếu chiến, thiên vị và kiêu căng. Quốc gia gồm nhiều người như chúng ta, nên
chúng ta ra sao thì quốc gia cũng vậy. Chỉ khác là bản chất của quốc gia đậm hơn, rõ rệt hơn, và
cái thiện cái ác của quốc gia cũng lớn hơn của cá nhân rất nhiều. Chúng ta tham lam, hay gây
lộn bởi vì trong huyết quản còn dòng máu của ngàn thế hệ đã phải săn đuổi, chiến đấu, giết
chóc để sinh tồn, và đã phải ăn đến phình bụng ra vì sợ còn lâu mới kiếm được con mồi khác.
Chiến tranh là cách săn mồi để ăn của một quốc gia. Nó tạo ra sự đoàn kết chính vì nó là hình
thức cạnh tranh tối cao. Khi nào các quốc gia chưa trở nên thành phần của một tập thể lớn hơn
và được tập thể che chở hữu hiệu thì chúng còn tiếp tục hành động như cá nhân và gia đình
trong thời kì săn mồi.
Đây là bài học sinh lý thứ hai của lịch sử: Đời là một cuộc đào thải. Trong sự cạnh tranh để có
thức ăn, thỏa mãn tính dục hoặc có quyền hành, một số sinh vật thành công, một số thất bại.
Trong cuộc đấu tranh để sinh tồn, một số người được trang bị kĩ hơn các người khác. Vì tạo
hóa (ở đây có nghĩa là toàn bộ thực tại và các diễn trình của nó) chưa đọc kỹ bản Tuyên ngôn
Độc lập của Hoa Kỳ hoặc Tuyên ngôn Nhân quyền của Cách mạng Pháp, nên sinh ra chúng ta đã
không tự do, bình đẳng: Ta phải chịu những di truyền về thể xác và tinh thần, chịu sự chi phối
của tập quán cùng truyền thống của tập thể, mỗi người một khác về sức khỏe, sức mạnh, khả
năng tinh thần và tính khí. Tạo hóa thích dùng sự dị biệt đó làm chất liệu cần thiết cho sự đào
thải và tiến hóa. Ngay cả anh em sánh đôi cũng khác nhau rất nhiều, và không có hai hạt đậu
nào hoàn toàn giống nhau cả.
Sự bất bình đẳng không những chỉ tự nhiên và bẩm sinh mà còn gia tăng cùng với sự phức
tạp của nền văn minh. Sự bất bình đẳng vì di truyền gây nên sự bất bình đẳng nhân tạo trong
xã hội. Bất cứ một phát minh hoặc khám phá nào cũng đều do những cá nhân xuất sắc tạo ra và
lợi dụng khiến cho người khỏe lại khỏe thêm và kẻ yếu hóa ra yếu hơn. Phát triển kinh tế gây
ra sự chuyên môn hóa các chức vụ, dị biệt hóa khả năng, do đó mà có kẻ quí người hèn đối với
tập thể. Nếu biết rất kĩ các người đồng loại thì chúng ta có thể chọn ba mươi phần trăm số
người mà khả năng gom lại cũng nhiều bằng tất cả số bảy chục phần trăm kia. Cuộc sống và
lịch sử đã lựa chọn, đào thải như vậy đấy, sự bất công vĩ đại đó làm cho ta nhớ tới Thượng Đế
của Calvin[19].
Tạo hóa mỉm cười chế nhạo sự phối hợp giữa tự do và bình đẳng trong thế giới không tưởng
của chúng ta. Bởi vì tự do và bình đẳng vĩnh viễn là hai kẻ thù không đội trời chung. Khi cái này
mạnh thì cái kia phải chết. Cho con người được tự do thì sự bất bình đẳng tự nhiên giữa họ với
nhau sẽ gia tăng theo cấp số nhân, như đã xảy ra tại Anh và Mỹ vào thời kỳ tự do kinh doanh ở
thế kỉ mười chín. Muốn chặn bớt sự bất bình đẳng thì phải hy sinh tự do, như ở Nga sau 1917.
Ngay cả khi bị kiềm chế, sự bất bình đẳng vẫn cứ gia tăng. Chỉ những người ở dưới mức trung
bình về khả năng kinh tế mới muốn có bình đẳng. Những người nào cảm thấy tài giỏi thì lại
muốn tự do. Rốt cuộc hạng tài năng thường được toại nguyện. Xét về phương diện sinh lí,
những quan niệm không tưởng về bình đẳng không thể nào đứng vững được. Và các nhà hiền
triết đầy hảo ý chỉ có thể ước ao được một tình trạng gần như bình đẳng về pháp luật và giáo
dục thôi. Một xã hội trong đó mọi khả năng tiềm tàng được tự do phát triển và hoạt động sẽ có
ưu thế tồn tại đối với các nhóm cạnh tranh khác. Ngày nay (vì phương tiện giao thông và
truyền tin rất tiến bộ) các quốc gia hóa ra gần nhau hơn, tiếp xúc, xung đột nhau nhiều hơn,
nên sự cạnh tranh càng trở nên gay go hơn.
Bài học sinh lí thứ ba của lịch sử là: Cuộc sống phải sinh sản, tăng gia lên. Tạo hóa không
chấp nhận những cơ thể, biến trạng hoặc tập thể không biết sinh sôi nảy nở. Tạo hóa đòi hỏi
phải có nhiều về lượng rồi mới lựa chọn về phẩm. Tạo hóa thích những đàn con đông và say
mê những cuộc đấu tranh để giành sự sống còn cho một số ít kẻ mạnh. Tạo hóa chắc hẳn phải
hài lòng được chứng kiến hằng ngàn tinh trùng đua nhau vượt lên để gieo tinh cho một cái
noãn. Tạo hóa chú trọng đến chủng loại nhiều hơn là cơ thể và cũng không cần phân biệt giữa
văn minh và mọi rợ. Tạo hóa không cần biết rằng sinh suất cao thường đi đôi với một nền văn
minh thấp và sinh suất thấp thường đi đôi với một nền văn minh cao, và Tạo hóa (hiểu theo
nghĩa toàn thể các diễn trình sinh nở, biến thể, cạnh tranh, đào thải và sinh tồn) lại còn cố tình
để cho các quốc gia có sinh suất thấp lâu lâu đều đều bị chinh phạt bởi các tập thể khỏe mạnh
và sinh sản nhiều hơn. Dưới thời César, dân xứ Gaule chống lại được với dân Đức nhờ các đạo
quân La Mã, và ngày nay [Pháp] chống lại được Đức nhờ các đạo quân Anh, Mĩ. Khi La Mã suy
tàn, dân Franc từ Đức kéo sang và biến xứ Gaule thành nước Pháp. Giả sử Anh và Mĩ lại suy tàn
(như La Mã) thì nước Pháp với dân số gần như không thay đổi trong suốt thể kỉ XIX, có thể lại
bị chinh phục.
Nếu loài người trở nên đông quá không kiếm đủ thức ăn thì Tạo hóa có ba cách để lập lại thế
quân bình: nạn đói, bệnh dịch và chiến tranh. Trong tác phẩm nổi danh Luận về Dân số (1798)
Thomas Malthus cho rằng nếu không có những sự kiềm chế định kì đó thì sinh suất sẽ cao hơn
tử suất đến nỗi số miệng ăn gia tăng sẽ lấn át cả số gia tăng thực phẩm. Tuy là một nhà tu và
một người có thiện ý, nhưng Malthus cho rằng cấp phát tiền và phẩm vật cứu trợ cho người
nghèo là khuyến khích họ sinh đẻ bừa bãi, và do đó, làm cho vấn đề thêm trầm trọng. Trong lần
xuất bản thứ nhì (1803) ông còn khuyên nên tiết chế giao hợp trừ khi muốn sinh sản, nhưng
ông lại không chấp nhận các phương pháp kiểm soát sinh đẻ khác. Biết rằng lời khuyên thánh
đức này khó được chấp nhận, nên ông tiên đoán là sự quân bình giữa số miệng ăn và số thức ăn
trong tương lai sẽ được duy trì bằng nạn đói, bệnh dịch và chiến tranh như đã từng xảy ra
trong quá khứ.
Những tiến bộ về kĩ thuật canh tác và cách ngừa thai trong thể kỉ XIX có vẻ đã bác bỏ lập luận
của Malthus: tại Anh, Hoa Kì, Đức và Pháp, số cung thực phẩm đã theo kịp đà sinh sản, và mức
sinh hoạt cao đã trì hoãn tuổi thành hôn, giảm số con trong gia đình. Có thêm người ăn thì
cũng có thêm người sản xuất: những bàn tay mới đã khai thác đất nước để có thêm thực phẩm.
Mới đây, Gia Nã Đại và Hoa Kì đã xuất cảng hằng triệu giạ lúa mì mà trong nước lại không bị
nạn đói và bệnh dịch. Đó là câu trả lời Malthus sống động nhất. Nếu áp dụng kiến thức canh tác
hiện nay khắp mọi nơi thì trái đất có thể nuôi sống một dân số đông gấp đôi số hiện tại.
Lẽ dĩ nhiên Malthus sẽ trả lời là giải pháp này chỉ làm trì hoãn cơn đại họa. Đất màu mỡ có
giới hạn, chẳng sớm thì muộn các tiến bộ về kĩ thuật canh tác cũng mất hiệu lực vì số sanh
nhiều hơn số tử. Trong khi đó y tế, vệ sinh và các công cuộc cứu trợ làm luật đào thải trở nên
vô hiệu, khiến cho kẻ yếu sống sót để sinh thêm ra kẻ yếu khác. Để trả lời lập luận này, người ta
hi vọng rằng các tiến triển trong lĩnh vực kĩ nghệ, đô thị hóa, giáo dục, và mức sinh hoạt tại các
nước hiện nay đang là mối đe dọa cho thế giới vì quá đông dân cư, có lẽ sẽ đưa tới hậu quả làm
giảm sinh suất như đã xảy ra tại Bắc Mĩ và Âu Châu. Cho tới khi đạt được mức bình quân giữa
sản xuất và sinh sản, thì vì lí do nhân đạo, ta nên khuyến cáo việc phổ biến các kiến thức và
phương pháp ngừa thai. Theo lẽ thường, sự sinh con đẻ cái phải là đặc quyền của những người
khỏe mạnh chứ không phải là phó sản của sự kích thích tính dục.
Có bằng chứng nào cho thấy kiểm soát sinh đẻ sẽ làm cho nòi giống suy nhược không? Chắc
là các người thông minh đã hạn chế sinh đẻ nhiều hơn người thường và cơ hồ trong mỗi thế
hệ, sức sinh sản quá mức của những người kém hiểu biết đã làm cho nỗ lực của các nhà giáo
dục hóa ra công dã tràng. Nhưng cái chúng ta gọi là óc thông minh phần lớn do kết quả của
giáo dục, cơ hội và kinh nghiệm mỗi cá nhân, và không có bằng chứng nào cho thấy trí tuệ đã
luyện được đó sẽ di truyền cho con cái. Ngay cả con các tiến sĩ cũng phải được giáo dục, phải
trải qua những lỗi lầm và những cơn khủng hoảng về giáo điều, về niềm tin của tuổi trưởng
thành. Chúng ta không thể nói là có bao nhiêu khả năng hoặc thiên tài tiềm ẩn trong nhiễm sắc
thể của những người nghèo sống chật vật và thiếu thốn. Về sinh lí, sức mạnh về thể xác lúc sơ
sinh có thể quí hơn dòng dõi trí thức. Nietzsche cho rằng dòng giống tốt nhất tại Đức ở trong
huyết quản của nông dân. Các triết gia không phải là vật liệu tốt nhất để giữ cho nòi giống sinh
sôi nảy nở.
Hạn chế sinh đẻ đã dự một phần trong lịch sử của Hi Lạp và La Mã. Thật là một chuyện buồn
cười khi thấy César (năm 59 trước TL) thưởng cho người dân La Mã nào đông con và cấm
những đàn bà hiếm hoi đi kiệu hoặc đeo đồ trang sức. Khoảng bốn chục năm sau, Auguste lại
áp dụng chiến thuật ấy nhưng cũng bất lực. Hạn chế sinh đẻ tiếp tục lan tràn trong giới thượng
lưu, trong khi đó dân di cư gốc Đức ở phương Bắc, dân Hi Lạp hoặc Trung Đông thay đổi dần
thành phần dân số Ý. Rất có thể sự thay đổi chủng tộc này đã làm giảm khả năng và ý chí của
dân chúng ngăn chặn ngoại xâm và chống lại sự bất lực của chính quyền.
Tại Mỹ, sinh suất thấp của dân gốc Anglosaxon đã làm giảm quyền hành kinh tế và chính trị
của họ. Trong khi đó sinh suất cao hơn của các gia đình theo đạo Ki Tô cho thấy có lẽ vào năm
2000, Giáo hội Ki Tô sẽ là lực lượng mạnh nhất trong các chính phủ liên bang, cũng như tiểu
...
 





