Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống thuộc địa Pháp ở Việt Nam 1858-1897

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:23' 07-04-2024
Dung lượng: 4.1 MB
Số lượt tải: 5
Người gửi: Nguyễn Thị Hoa
Ngày gửi: 17h:23' 07-04-2024
Dung lượng: 4.1 MB
Số lượt tải: 5
Số lượt thích:
0 người
https://thuviensach.vn
Table of Contents
MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU
LỜI ĐỀ BẠT
CẢM ƠN
QUY CÁCH BIÊN TẬP
DẪN NHẬP
Chương 1 NHỮNG MỤC TIÊU ĐẦU TIÊN CỦA PHÁP TẠI VIỆT
NAM - HIỆP ƯỚC VERSAILLES 1787
KHUYNH HƯỚNG THỰC DÂN CỦA NƯỚC PHÁP
Chương II CUỘC VIỄN CHINH PHÁP - TÂY BAN NHA ĐÁNH
CHIẾM NAM KỲ.
CUỘC ĐÁNH CHIẾM NAM KỲ CỦA PHÁP VÀ DỰ ÁN VỀ
SỰ HIỆN DIỆN CỦA TÂY BAN NHA Ở BẮC KỲ
Dự kiến chiếm thuộc địa ở Bắc Kỳ của Tây Ban Nha
Chương 3 VIỆC CHUẨN BỊ VÀ KÝ KẾT HIỆP ƯỚC SÀI GÒN
(1862)
KÝ KẾT HIỆP ƯỚC SÀI GÒN (1862)
Chương 4 HIỆP ƯỚC 1862 DƯỚI NHẬN XÉT CỦA PARIS,
MADRID VÀ HUẾ
Hiệp ước 1862 dưới cái nhìn của Madrid
Hiệp ước 1862 dưới con mắt của triều đình Huế
Chương 5 Phản ứng của nhân dân Việt Nam đối với hiệp ước 1862 và
các giáo sĩ
CÁC GIÁO SĨ
Chương 6 NHỮNG BIỆN PHÁP ĐẦU TIÊN CỦA CHÁNH PHỦ
PHÁP TẠI NAM KỲ, SỨ BỘ PHAN THANH GIẢN TẠI PHÁP
QUỐC VÀ HIỆP ƯỚC AUBARET (1864)
https://thuviensach.vn
PHÁI BỘ PHAN THANH GIẢN TẠI PHÁP HIỆP ƯỚC
5/6/1862
HIỆP ƯỚC AUBARET
Chương 7 PHÁP XÂM NHẬP BẮC KỲ VÀ CUỘC THÁM HIỂM
SÔNG CỬU LONG (MÉKONG)
CUỘC THÁM HIỂM SÔNG CỬU LONG (MÉKONG)
Chương 8 SỰ KIỆN J.DUPUIS VÀ NHỮNG CUỘC VIỄN CHINH
BẮC KỲ CỦA PHÁP
NỖI BẤT BÌNH CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM NHỮNG
CUỘC ĐẢO CHÍNH Ở TRIỀU ĐÌNH HUẾ
CUỘC CHIẾN TRANH PHÁP-ĐỨC (1870) VỚI VẤN ĐỀ
NAM KỲ
NHỮNG CUỘC LOẠN LẠC Ở BẮC KỲ
NHỮNG CUỘC VIỄN CHINH CỦA PHÁP TẠI BẮC KỲ
Chương 9 HIỆP ƯỚC 1874
Chương 10 SAU HIỆP ƯỚC 1874 NHỮNG PHẢN ỨNG CỦA
QUỐC TẾ VÀ CỦA VIỆT NAM
PHẢN ỨNG CỦA VIỆT NAM
TỰ ĐỨC HƯỚNG NHÌN VỀ TRUNG QUỐC
Chương 11 CHÍNH SÁCH CỦA PHÁP TẠI VIỆT NAM SAU HIỆP
ƯỚC 1874
HUẾ TÌM CÁCH TIẾP CẬN VỚI BẮC KINH
NHỮNG CUỘC CAN THIỆP ĐẦU TIÊN CỦA BẮC KINH
Chương 12 CUỘC ĐÁNH CHIẾM BẮC KỲ CỦA PHÁP
Chương 13 TỪ CUỘC VIỄN CHINH RIVIÈRE ĐẾN Ý ĐỒ PHÂN
CHIA XỨ BẮC KỲ GIỮA PHÁP VÀ TRUNG QUỐC
DỰ ÁN PHÂN CHIA BẮC KỲ CỦA PHÁP VÀ TRUNG
QUỐC
Chương 14 HIỆP ƯỚC HARMAND 1883
TỰ ĐỨC BĂNG HÀ VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG VIỆC
KẾ VỊ THỎA ƯỚC HARMAND
https://thuviensach.vn
Chương 15 THÁI ĐỘ CỦA TRUNG QUỐC VÀ CÁC CƯỜNG
QUỐC CHÂU ÂU TRƯỚC NHỮNG SỰ KIỆN BẮC KỲ
Chương 16 HIỆP ƯỚC PATENÔTRE (6/6/1884)
HIỆP HÒA BỊ TRUẤT NGÔI VÀ KIẾN PHƯỚC LÊN NGÔI
VUA
VIỆC LÊN NGÔI VUA VÀ SỰ ĐẦU HÀNG PHÁP CỦA KIẾN
PHƯỚC
VIỆC CÔNG BỐ BỨC THƯ CỦA TĂNG KỈ TRẠCH
THỎA ƯỚC THIÊN TÂN. HIỆP ƯỚC PATENÔTRE
NHỮNG BẢN TƯỜNG TRÌNH CỦA GIÁM MỤC PUGINIER
VÀ CÁC GIÁO SĨ Ở BẮC KỲ
Chương 17 VỤ BẠO ĐỘNG Ở KINH THÀNH HUẾ ĐÊM 45/7/1885 VÀ CÁC VỤ CƯỚP PHÁ CUNG ĐIỆN NHÀ VUA
CUỘC RÚT QUÂN KHỎI LẠNG SƠN
VỤ BẠO ĐỘNG NGÀY 5/7/1885 VÀ VIỆC CƯỚP PHÁ
CUNG ĐIỆN NHÀ VUA
Chương 18 CUỘC KHÁNG CHIẾN CỦA VUA HÀM NGHI VÀ
VIỆC VUA ĐỒNG KHÁNH LÊN NGÔI
ĐỒNG KHÁNH LÊN NGÔI
VUA HÀM NGHI BỊ BẮT
ĐỒNG KHÁNH VÀ NHỮNG LỢI ÍCH CỦA DÂN TỘC
Chương 19 NHỮNG BIỆN PHÁP ĐẦU TIÊN NHẰM THIẾT LẬP
HỆ THỐNG THUỘC ĐỊA
ĐẶT CƠ SỞ THUỘC ĐỊA
GIA-TÔ GIÁO
Phụ lục HIỆP ƯỚC GIỮA VUA PHÁP VÀ VUA NAM KỲ(1)
ĐIỀU KHOẢN TÁCH RIÊNG
HIỆP ƯỚC SÀI GÒN NGÀY 5 THÁNG 6 NĂM 1862(3)
HIỆP ƯỚC AUBARET NGÀY 15 THÁNG 7 NĂM 1864,
HUẾ(4)
HIỆP ƯỚC 15 THÁNG 3 NĂM 1874(5)
HIỆP ĐỊNH HARMAND(7) NGÀY 25 THÁNG 8 NĂM 1883
https://thuviensach.vn
HIỆP ƯỚC PATENÔTRE(9) NGÀY 6 THÁNG 6 NĂM 1884
THỎA ƯỚC THIÊN TÂN(10) NGÀY 11 THÁNG NĂM NĂM
1884
CHỈ DỤ VỀ VIỆC THIẾT LẬP NHỮNG KHU NHƯỢNG ĐỊA CỦA
PHÁP TRÊN LÃNH THỔ HÀ NỘI, HẢI PHÒNG VÀ ĐÀ NẴNG(1)
CHỈ DỤ BAN CHO CÁC CÔNG DÂN VÀ CÁC DÂN BẢO HỘ
PHÁP ĐƯỢC QUYỀN SỞ HỮU Ở AN NAM VÀ BẮC KỲ
VĨ THANH
LỜI BẠT
TỦ SÁCH ALPHA DI SẢN - GÓC NHÌN SỬ VIỆT
Table of Contents
Landmarks
https://thuviensach.vn
LỜI GIỚI THIỆU
MỤC LỤC
LỜI ĐỀ BẠT
CẢM ƠN
Kính dâng
QUY CÁCH BIÊN TẬP
DẪN NHẬP
Chương 1. NHỮNG MỤC TIÊU ĐẦU TIÊN CỦA PHÁP TẠI VIỆT
NAM - HIỆP ƯỚC VERSAILLES 1787
Chương 2. CUỘC VIỄN CHINH PHÁP - TÂY BAN NHA ĐÁNH
CHIẾM NAM KỲ
Chương 3. VIỆC CHUẨN BỊ VÀ KÝ KẾT HIỆP ƯỚC SÀI GÒN
(1862)
Chương 4. HIỆP ƯỚC 1862 DƯỚI NHẬN XÉT CỦA PARIS,
MADRID VÀ HUẾ
Chương 5. PHẢN ỨNG CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM ĐỐI VỚI
HIỆP ƯỚC 1862 VÀ CÁC GIÁO SĨ
Chương 6. NHỮNG BIỆN PHÁP ĐẦU TIÊN CỦA CHÁNH PHỦ
PHÁP TẠI NAM KỲ, SỨ BỘ PHAN THANH GIẢN TẠI PHÁP
QUỐC VÀ HIỆP ƯỚC AUBARET (1864)
https://thuviensach.vn
Chương 7. PHÁP XÂM NHẬP BẮC KỲ VÀ CUỘC THÁM HIỂM
SÔNG CỬU LONG (MÉKONG)
Chương 8. SỰ KIỆN J.DUPUIS VÀ NHỮNG CUỘC VIỄN CHINH
BẮC KỲ CỦA PHÁP
Chương 9. HIỆP ƯỚC 1874
Chương 10. SAU HIỆP ƯỚC 1874 NHỮNG PHẢN ỨNG CỦA
QUỐC TẾ VÀ CỦA VIỆT NAM
Chương 11. CHÍNH SÁCH CỦA PHÁP TẠI VIỆT NAM SAU HIỆP
ƯỚC 1874
Chương 12. CUỘC ĐÁNH CHIẾM BẮC KỲ CỦA PHÁP
Chương 13. TỪ CUỘC VIỄN CHINH RIVIÈRE ĐẾN Ý ĐỒ
PHÂN CHIA XỨ BẮC KỲ GIỮA PHÁP VÀ TRUNG QUỐC
Chương 14. HIỆP ƯỚC HARMAND 1883
Chương 15. THÁI ĐỘ CỦA TRUNG QUỐC VÀ CÁC CƯỜNG
QUỐC CHÂU ÂU TRƯỚC NHỮNG SỰ KIỆN BẮC KỲ
Chương 16. HIỆP ƯỚC PATENÔTRE (6/6/1884)
Chương 17. VỤ BẠO ĐỘNG Ở KINH THÀNH HUẾ ĐÊM 45/7/1885 VÀ CÁC VỤ CƯỚP PHÁ CUNG ĐIỆN NHÀ VUA
Chương 18. CUỘC KHÁNG CHIẾN CỦA VUA HÀM NGHI VÀ
VIỆC VUA ĐỒNG KHÁNH LÊN NGÔI
Chương 19. NHỮNG BIỆN PHÁP ĐẦU TIÊN NHẰM THIẾT
LẬP HỆ THỐNG THUỘC ĐỊA
Phụ lục. HIỆP ƯỚC GIỮA VUA PHÁP VÀ VUA NAM KỲ
https://thuviensach.vn
CHỈ DỤ VỀ VIỆC THIẾT LẬP NHỮNG KHU NHƯỢNG ĐỊA
CỦA PHÁP TRÊN LÃNH THỔ HÀ NỘI, HẢI PHÒNG VÀ ĐÀ NẴNG
CHỈ DỤ BAN CHO CÁC CÔNG DÂN VÀ CÁC DÂN BẢO HỘ
PHÁP ĐƯỢC QUYỀN SỞ HỮU Ở AN NAM VÀ BẮC KỲ
VĨ THANH
LỜI BẠT
https://thuviensach.vn
LỜI GIỚI THIỆU
Bạn đọc thân mến!
Lịch sử văn hóa của một dân tộc không phải của riêng cá nhân
nào, chính vì vậy, việc bảo tồn, gìn giữ và phát triển lịch sử văn hóa
cũng không phải riêng một người nào có thể gánh vác được, nó thuộc
về nhận thức chung của toàn xã hội và vai trò của từng nhân tố
trong mỗi chặng đường lịch sử. Lịch sử là một khoa học. Lịch sử
không phải là việc thống kê sự kiện một cách khô khan rời rạc. Bởi
mỗi sự kiện trong tiến trình đó đều có mối liên kết chặt chẽ với
nhau bằng sợi dây vô hình xuyên suốt không gian và thời gian tạo
nên lịch sử của một dân tộc.
Dân tộc Việt Nam trải hơn một nghìn năm Bắc thuộc, gần trăm
năm dưới ách cai trị của thực dân, đế quốc, nhưng con cháu bà
Trưng, bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang
Trung... vẫn kiên trì bền chí, tin tưởng ở quá khứ hào hùng, không
ngừng tranh đấu hướng tới tương lai rộng mở vì độc lập tự do của
đất nước.
Một dân tộc, một quốc gia muốn trường tồn và phát triển,
ngoài việc đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng, khoa học kỹ thuật,
điều quan trọng hơn nữa là phải có một nền tảng giáo dục vững
chắc. Trong đó, giáo dục về lịch sử và lòng tự hào dân tộc là cần
thiết để ghi khắc trong tâm trí các thế hệ, đặc biệt là tầng lớp
thanh niên ý thức về nguồn gốc dân tộc, truyền thống văn hóa
và nội lực quốc gia, đồng thời giúp định hình góc nhìn thấu đáo
https://thuviensach.vn
về vai trò của từng giai đoạn, triều đại và nhân vật - dù gây tranh
cãi - tạo nên lịch sử đó.
Chính vì những giá trị to lớn đó, vấn đề học tập, tìm hiểu lịch sử
nước nhà hiện đang là mối quan tâm hàng đầu của Nhà nước và
toàn xã hội. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Quỹ Phát triển Sử học
Việt Nam, Tạp chí Xưa và Nay... và rất nhiều những tổ chức khác đã
và đang kiên trì con đường thúc đẩy sự phát triển của nền khoa học
lịch sử quốc gia, phổ biến tri thức lịch sử, góp phần giáo dục
truyền thống văn hóa dân tộc tới toàn xã hội.
Đồng hành với mối quan tâm của toàn xã hội, Công ty Cổ phần
Sách Alpha - một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất bản,
với tôn chỉ “Tri thức là sức mạnh” - đặc biệt quan tâm tới việc góp
phần nâng cao hiểu biết của người dân về truyền thống văn hóa
lịch sử đất nước.
Theo nhiều kết quả khảo sát, đánh giá nhu cầu của bạn đọc cho
thấy, “lỗ hổng lịch sử” ở không ít người trẻ hiện nay hoàn toàn có thể
bù lấp một phần dựa trên nhiều nguồn tư liệu, công trình nghiên
cứu, sách cổ sách quý hiện đang được các Viện nghiên cứu, các tổ
chức, cá nhân lưu giữ. Để chung tay tái hiện một cách rõ nét những
mảnh ghép lịch sử dân tộc, Công ty Cổ phần Sách Alpha đã triển
khai dự án xuất bản mang tên Góc nhìn sử Việt với mục đích xuất
bản lại và xuất bản mới một cách có hệ thống các công trình, tư liệu,
sách nghiên cứu, sách văn học có giá trị… về lịch sử, bước đầu hình
thành nên Tủ sách Alpha Di sản.
Cuốn sách “Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống
thuộc địa Pháp ở Việt Nam, 1858 - 1897” của tiến sĩ Nguyễn
Xuân Thọ, Alpha xuất bản tuân thủ bản nguyên gốc, không chỉnh
sửa nội dung, ngoại trừ chỉnh sửa lỗi chính tả theo nguyện vọng người
thân, bạn bè đồng nghiệp của tác giả.
https://thuviensach.vn
Alpha hân hạnh chuyển đến tay bạn đọc tác phẩm giá trị này.
Xin trân trọng giới thiệu.
Công ty CP Sách Alpha
https://thuviensach.vn
LỜI ĐỀ BẠT
Paris, ngày 15 tháng 11, năm 1966
Q
uen biết rõ ông Nguyễn Xuân Thọ, từ nhiều năm, tôi đã có
thể đánh giá cao, một cách liên tục, những đức tánh về trí thức
và đạo đức của ông ấy.
Về phương diện trí thức, ông đã bắt đầu sưu tập ở Pháp và ở
Tây Ban Nha (còn gọi là Y-Pha-Nho), tư liệu của một luận án Tiến sĩ,
mà ông đã thuyết trình và bảo vệ tại Đại học Sorbonne, vào tháng
Bảy năm 1956, về “Cuộc viễn chinh Pháp - Tây Ban Nha tại Nam bộ
Việt Nam(1) năm 1858-1862.”
Cuộc sưu tập ấy đã cho thấy như công trình của một sử gia đủ tư
cách, cả về mặt chính xác của phương pháp, lẫn về mặt tao nhã của
hình thức (cách trình bày).
Lúc ấy, tôi là một thành viên trong ban khảo thí, có trách nhiệm
sát hạch và đánh giá luận án đó, luận án đã được xếp hạng “Très
Honorable” (Tối ưu).
Và ông Thọ đã tiếp tục công trình của ông, bằng cuộc nghiên
cứu này, về sự thâm nhập của người Pháp vào Việt Nam (18581897).
Công trình này, trong đó, ông Nguyễn Xuân Thọ đã dành một
phần lớn cho các tài liệu chính thức, phần nhiều là chưa được tiết
lộ, giúp chúng ta hiểu rõ hơn, một số giai đoạn trong lịch sử những
liên hệ giữa Pháp và Việt Nam vào thế kỷ vừa qua. Đồng thời, công
https://thuviensach.vn
trình này cũng soi sáng chúng ta về tấn thảm kịch đang chia cắt
mảnh đất đau khổ này của Á châu, trên cả hai bình diện chánh trị và
tôn giáo.
Về phương diện đạo đức, ông Nguyễn Xuân Thọ đã chứng tỏ với
tôi một đức tánh trung thực vẹn toàn. Theo nhãn quang tôi, ông là
một trong số những người Việt Nam có khả năng đảm trách công
cuộc phục hưng đất nước của ông, bằng cách sử dụng văn hóa Pháp,
mà ông đã khéo kết hợp được, trong một tinh thần độc lập dân tộc
và khách quan khoa học.
Maurice BAUMONT
Thành viên Viện Hàn Lâm Pháp,
Giáo sư danh dự Đại học Sorbonne.
C
onnaissant M.NGUYEN XUAN THO depuis plusieurs années.
j'ai pu apprécier d'une facon continue ses qualités
intellectuelles et morales.
Au point de vue intellectuel, il a commencé de réunir, en France
et en Espagne, la documentation d'une thèse de doctorat, soutenue à
la Sorbonne en juillet 1956, sur “L'expédition franco espagnole de
Cochinchine (1858-1862)”, et qui s'est révélée l'oeuvre d'un historien
qualifié tant par la rigueur de la méthode que l'élégance de la forme.
Je faisais partie du jury chargé d'examiner et de côter cette thèse qui
lui a valu la mention “Très Honorable”. Il a continué son travail par
cette étude de la pénétration francaise au Viet Nam (1858-1897).
Ce travail, dans lequel M. NGUYEN XUAN THO a réservé une
large place aux documents officiels pour la plupart inédits, nous aide
à mieux comprendre certains épisodes de l'histoire des relations
entre la France et le Viet Nam au siècle dernier, en même temps qu'il
https://thuviensach.vn
nous éclaire sur le drame qui déchire actuellement ce malheureux
pays d'Asie tant sur le plan politique que religieux.
Au point de vue moral, M. NGUYEN XUAN THO m'a toujours
donné la preuve d'une honnêteté intégrale; il est à mes yeux l'un des
Vietnamiens susceptibles d'assurer le relèvement de son pays en
utilisant la culture francaise qu'il a su s'incorporer dans un esprit
d'indépendance nationale et d'objectivité scientifique.
Maurice BAUMONT
Membre de l'Institut,
Professeur honoraire à la Sorbornne.
https://thuviensach.vn
CẢM ƠN
Tôi xin thành thật cảm ơn:
Bộ Ngoại giao Pháp và ông Amédée Outrey, cựu Giám đốc Văn
khố, đã có mỹ ý, để kỷ niệm những năm tôi làm việc tại Bộ Ngoại
giao (Quai d'Orsay, Paris), biếu tôi, đặc biệt, những bản phóng ảnh
của mấy hòa ước ký kết giữa Pháp và Việt Nam, nay in trong quyển
sách này.
Ban Văn khố Ngoại giao Pháp đã cho phép tôi xem những tài liệu
ngoại giao chánh thức, lâu nay chưa từng được công bố ra.
Ông Martin Artajo, cựu Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Tây Ban Nha, tại
Madrid, đã niềm nở thân thiện tiếp tôi nhiều lần tại Điện Viana
(Palais De Viana), và đã cho phép tôi xem những tài liệu ngoại giao
Tây Ban Nha.
Ông Lung Chang, cựu Đại sứ Cộng hòa Trung Quốc cạnh Trung
tâm Giáo dục, Khoa học, Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO), Paris,
bạn đồng khóa và bạn thân với tôi, đã giúp tôi xem được những tài
liệu ngoại giao quý báu của Trung Quốc.
Bà Nữ Hoàng thân Như Mai, con gái đầu lòng vua Hàm Nghi, đã
niềm nở tiếp tôi nhiều lần và đã cho tôi biết về đời sống vua
Hàm Nghi trong những năm nhà vua ở tại Alger, cho đến khi mất.
Nguyễn Xuân Thọ
https://thuviensach.vn
Kính dâng
Hương Hồn Ông Cụ và Bà Cụ thân sinh tôi.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Bà Huyện Thanh Quan - “Qua Đèo Ngang”
https://thuviensach.vn
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.
…………
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi!
Mặt chinh phu trăng dõi dõi theo!
Chinh phu tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn!
“Chinh phụ ngâm”
(Thế kỷ thứ XVIII)
https://thuviensach.vn
T
QUY CÁCH BIÊN TẬP
ủ sách “Góc nhìn sử Việt” ra đời mục đích giới thiệu đến bạn
đọc những tác phẩm hay, có giá trị, đồng thời góp phần bảo
lưu gìn giữ những giá trị văn hóa của đất nước. Để thực hiện bộ
sách này, chúng tôi tuân thủ một số quy cách sau:
1. Bảo toàn văn phong, nội dung nguyên gốc, từ ngữ mang đậm văn
hóa vùng miền trong tác phẩm (trừ khẩu âm).
2. Biên tập đối chiếu trên bản gốc sưu tầm được và có ghi rõ tái
bản trên bản năm nào.
3. Chú thích từ ngữ cổ, từ Hán Việt.
4. Tra cứu bổ sung thông tin: tiểu dẫn, tiểu sử, sự kiện, nhân vật, phụ
lục (nếu cần thiết)...
5. Sửa lỗi chính tả trong bản gốc.
6. Giản lược gạch nối từ ghép, khôi phục từ Việt hóa tiếng nước
ngoài khi có đủ tài liệu tra cứu tin cậy (trừ trường hợp từ ngữ đó đã
dịch thành thuần Việt).
7. Trường hợp thông tin lịch sử trong sách có sai lệch so với chính sử,
chúng tôi sẽ chú thích hoặc đăng phụ lục phía cuối sách.
8. Một số hình ảnh trong sách gốc bị mờ, chất lượng kém… chúng
tôi sẽ đăng bổ sung - thay thế các hình ảnh có nội dung tương tự,
chất lượng tốt (nếu có).
https://thuviensach.vn
Mọi ý kiến đóng góp của độc giả sẽ giúp chúng tôi hoàn thiện tủ
sách.
Alpha Books
https://thuviensach.vn
D
DẪN NHẬP
o vị trí địa lý, nước Việt Nam nằm ở một trong những ngã tư
giao lưu quan trọng của châu Á. Việt Nam có khoảng 75 triệu
dân, trên một diện tích 328.000 cây số vuông, bám vào sườn
của châu Á, giữa bán lục địa Ấn Độ và các quốc gia Viễn Đông, như
“một bàn tay rộng mở của châu Á, chìa ra chào đón Thái Bình
Dương”, theo cách diễn đạt của Bernard Philippe Groslier. Đất nước
này từng tiếp nhận ảnh hưởng các dân tộc láng giềng, và làm bàn
đạp cho các dân tộc, sau khi băng qua Việt Nam, đã tỏa về phía các
đảo Nam Thái Bình Dương và sang Nhựt Bổn(1).
Vai trò làm cầu nối ấy giữa hai thế giới (mondes) giữa hai vũ
trụ (univers)(2), không dừng lại ở thời kỳ tiền sử, và Việt Nam đã trở
thành - và giờ đây, hơn bất cứ lúc nào hết - có thể vẫn tiếp tục một
vùng đất của sự liên hệ, của những sự gặp gỡ; đấy là nơi mà hai thế
giới, nom bề ngoài có vẻ đối nhau, đang có thể trong suốt quá
trình của lịch sử, tìm ra những điểm chung.
Sau gần một thế kỷ người Pháp hiện diện ở Việt Nam, một trang
sử mới, từ đây, đã mở ra cho các quan hệ giữa hai nước.
Mãi đến nay, lịch sử nước Việt Nam đã được những nhà sử học
người Pháp biên soạn và nhất là về thời kỳ liên quan đến chế độ
thực dân, nó đã được viết theo quan điểm người Pháp. Có một số ít
người Việt Nam muốn viết về lịch sử của đất nước họ, nhưng lại
không thể vượt qua được lằn ranh do chánh phủ “bảo hộ” đã vạch ra.
Việc giản lược hóa các tài liệu giáo khoa, các chỉ thị chặt chẽ đã được
ấn định trước, những sự cắt bỏ tinh vi, những sự giải thích sai lạc
https://thuviensach.vn
thường là cố ý… đã làm cho sự hiểu biết về lịch sử của đất nước
này không tiến thêm được chút nào, từ đầu thế kỷ cho tới nay.
Chúng tôi không hề có ý định quy sự thiên lệch ấy, hoặc sự
khiếm khuyết ấy cho ý đồ không tốt của các sử gia người Pháp.
Họ không phải là những người thiếu tính trung thực của nhà trí thức,
họ cũng không thiếu sự vô tư, nhưng tất cả những ai chuyên tâm
nghiên cứu về dân tộc Việt Nam, trong giai đoạn chiếm đóng của
người Pháp, thì đều, hoặc ít, hay nhiều bị bắt buộc phải đứng trên
quan điểm của “chính quốc”. Vả lại, không phải tất cả mọi người
trong số họ đều có thể đọc được chữ Nho và chữ Nôm. Cuối cùng,
công việc của họ trở nên khó khăn hơn, do hiếm các nguồn tài liệu
chính thức của phía Việt Nam.
Những công trình khoa học chuyên sâu, do hàng ngàn hậu bối
như chúng ta tiến hành, nhờ khai thác các kho lưu trữ hiếm hoi của
gia đình, dường như cần thiết. Trong những người Việt Nam này, có
một số người vì sự lệ thuộc của đất nước, nên họ cũng bị cam tâm
với những sự giải thích bế tắc cùng ngõ cụt không có lối thoát,
giống như các sử gia người Pháp. Một số người khác, mà lòng trung
thành với sự nghiệp quốc gia không bao giờ suy giảm, thì mong
muốn điều chỉnh lại cho đúng, bằng những công cuộc nghiên cứu
lịch sử một cách nghiêm túc, một số vấn đề về tình hình sinh
hoạt của đất nước họ, trong quá khứ, với những tài nguyên, phẩm
chất tốt đẹp của nó, cũng như những chỗ yếu kém, và họ cố
gắng đề cập một cách trực diện, một số điểm còn chưa sáng tỏ, và
đối với họ, thì những chỗ này, cho tới hiện nay, dường như đã được
giải thích một cách lệch lạc.
Chính trên tinh thần đó, chúng tôi mong muốn nghiên cứu một
cách thật sự vô tư, và dành cho những tư liệu lưu trữ này một vai trò
quan trọng, các quan hệ giữa Pháp và Việt Nam trong thời kỳ gây
cấn, kể từ cuộc hành quân của liên quân Pháp – Tây Ban Nha, ở
https://thuviensach.vn
Nam Bộ (1858), đến khi Việt Nam mất độc lập (1884), và sự thiết
lập chế độ thuộc địa (1897).
Như vậy, chúng tôi đã khai thác các kho tư liệu của Bộ Ngoại giao
Pháp, Bộ Ngoại vụ Tây Ban Nha, các Bộ Hải quân, Bộ Thuộc địa Pháp
cũng như những tài liệu rất hiếm hoi của Việt Nam.
Chúng tôi nói rõ “các tư liệu chính thức rất hiếm hoi của Việt
Nam”, bởi lẽ chúng ta không thể nào quên rằng văn khố của triều
đình Huế, của hầu hết các Bộ, các văn phòng của các nhà viết sử
biên niên, của Thư viện Quốc gia, đã bị quân đội của tướng De
Courcy cướp phá và thiêu hủy, ở Huế, trong những ngày sau cuộc nổi
dậy ngày 5 tháng 7 năm 1885. Những vụ cướp phá và thiêu hủy ấy,
mà không một tờ báo đương thời nào và từ đó tới nay, không một sử
gia Pháp nào nói đến, đối với sử gia còn bi thảm hơn các vụ cướp đã
tàn phá Cung Mùa Hè, ở Bắc Kinh, trước đó hai mươi lăm năm.
Chính nhờ các tài liệu ấy, hầu hết chưa được công bố, chúng
tôi cố gắng hiệu chính một vài giai đoạn trong lịch sử quan hệ giữa
Pháp và Việt Nam. Theo chúng tôi, cho đến nay, các quan hệ này
phần lớn chưa được hiểu một cách đúng đắn.
Theo nhiều tác giả, sự thống nhất của Việt Nam “không phải có
từ dân tộc, mà có từ khi Việt Nam là thuộc địa, bởi nó chỉ được xác
lập và duy trì do kẻ xâm lược ngoại bang(4)”. Theo chúng tôi, sự
khẳng định này hoàn toàn sai lầm. Rất lâu trước khi người Pháp
đến, Việt Nam đã là một quốc gia thống nhất, có nền tảng vững
vàng. Từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, có một dân tộc Việt Nam,
hoàn toàn thuần nhất, chỉ nói một thứ tiếng như nhau, có phong
tục tập quán như nhau. Nếu nhà cầm quyền Pháp đã chia đất
nước ra làm ba “kỳ”, đó không chỉ vì tiện lợi về hành chánh, mà chủ
yếu nhắm mục đích “chia để trị”. Theo chúng tôi, ông Louis Finot,
giáo sư danh dự ở Collège de France, đã sai lầm khi nói: “… những
https://thuviensach.vn
vụ khác biệt hiện có trong các chế độ hành chánh, áp dụng trong ba
xứ An Nam của Liên Hiệp… là phù hợp với các dữ kiện lịch sử, bởi
lịch sử cũng thừa nhận ở đó có ba đất nước được hình thành khác
nhau…”(4)
Vào thời thuộc địa, một thứ địa lý chính trị sơ lược, đã dẫn một số
tác giả đến chỗ muốn dùng một thứ địa lý bất biến, để biện minh
cho sự phân chia Việt Nam thành “Cochinchine” (Nam kỳ), “An Nam”
(Trung kỳ) và “Tonkin” (Bắc kỳ), mặc dù những tên gọi này hoàn
toàn xa lạ với truyền thống Việt Nam. Chúng tôi không công nhận
cái ý nghĩa không mấy tốt đẹp mà nhà cầm quyền thực dân đã
gán cho các từ ấy, song để độc giả phương Tây khỏi bỡ ngỡ đã quen
gọi như vậy, chúng tôi giữ nguyên các thuật ngữ ấy, để chỉ Nam Bộ,
Trung và Bắc Bộ, cũng như thuật ngữ Đông Dương(5) - để chỉ Việt
Nam, Campuchia và Lào, do người Pháp đặt ra.
Bằng cách vay mượn của người Trung Quốc từ “Đông Kinh”
(nghĩa từng chữ là Kinh đô ở phía Đông), để gọi tên Hà Nội, cũng như
“Bắc Kinh” và “Nam Kinh”, là kinh đô ở phía Bắc và kinh đô ở phía
Nam, các nhà truyền giáo và các thương nhân, vào thế kỷ XVII, đã
đặt tên “Tonkin” (tức Đông Kinh) cho miền Bắc Việt Nam, bằng
cách dựa trên sự phiên dịch đó và trên một cơ sở ngữ âm học đáng
nghi ngờ.
Còn về tên gọi “Cochinchine” (Nam kỳ), có nguồn gốc không rõ
ràng thường được tranh luận trong sách vở, dường như nó bắt
nguồn từ một sự biến dạng của từ Co-Cheng-Ching, là một tên gọi
bằng nguồn Trung Quốc dùng để chỉ vùng đất Champa cổ, là
đất phần phía Nam của nước Việt Nam, trước khi xảy ra cuộc Nam
tiến; hoặc giả nó bắt nguồn từ một từ Tây Ban Nha là Cauchichina, và một từ tiếng Ý là Caoci Cina, cả hai từ trên đều xuất xứ từ
chữ Kiaotche, hoặc Giao-chỉ, sau đó ghép thêm vào đó chữ China,
https://thuviensach.vn
hoặc Cina (Trung Quốc), để cho người ta khỏi lầm lẫn nó với thành
phố Cochin, ở Ấn Độ, hoặc theo Barrow(6), để khỏi lầm lẫn với
Kotchindiinna (Trung Quốc phía Tây), là tên gọi dùng để chỉ một
cộng đồng người Trung Quốc buộc phải rời tổ quốc, vào thời xâm
lược của những người Tartares – một tên gọi có nguồn gốc Nhựt
Bổn, và chuyển sang gia nhập ngôn ngữ Âu châu. Cái tên
gọi“Cochinchine”, trước hết, do chính những người phương Tây dùng
để đặt cho miền Trung của nước Việt Nam.
Cho đến thời Napoléon III, người ta gọi vùng các cửa sông Cửu
Long là “Basse-Cochinchine” (miền hạ Nam kỳ). Cũng không có lý lẽ
gì hơn, đến khoảng 1870, người ta lại có thói quen truyền
tên“Cochinchine” này cho vùng đất ở phía cực Nam, đồng thời
người ta dành riêng cho miền Trung của Việt Nam cái tên “An
Nam”.
Tuy nhiên có một số người Pháp vẫn tiếp tục gọi toàn bộ đất
nước này bằng cái tên mang tính chất miệt thị là “An Nam” (Miền
đất phía Nam đã được bình định) - và gọi cư dân của nó là
người“Annamites” , có ý nghĩa nhắc nhở, và như vậy, là có ý sử dụng
lại thuật ngữ “An Nam đô hộ phủ” (Phủ ở phía Nam được bình định và
chinh phục), do người Trung Quốc đặt cho vào năm 679, thời kỳ nhà
Đường (618-907) trực tiếp cai trị đất nước này(7).
Thật lý thú khi lưu ý là từ “An Nam” không hề có trong các thơ từ
chánh thức của Việt Nam và trong các văn bản bằng chữ Hán của các
hiệp ước 1862, 1874, và 1884, ký kết với Pháp. Đất nước Việt Nam
này đã được gọi bằng cái tên là Đại Nam (Vương quốc lớn ở phía
Nam).
https://thuviensach.vn
NHỮNG
MỤC
TI
Ê
U
ĐẦU
TI
Ê
N
CỦA
PHÁP TẠIVERSAIVIỆTLLESNAM1787- HIỆP ƯỚC
Chương 1
V
ào năm 1497, khi mà Vasco de Gama(1) đi vòng quanh Hảo
Vọng giác (Cap de Bonne Espérance), và năm 1521, Magellan
đi cắt ngang mũi đất cực Nam châu Mỹ, thì người ta biết từ
nay có thể đi thẳng bằng đường biển từ bờ biển châu Âu sang bờ biển
Thái Bình Dương. Và công cuộc “thực dân hóa” những vùng đất
thuộc bờ biển đó bắt đầu.
Đây không phải là một công cuộc thực dân chiếm thuộc địa theo
nghĩa hiện đại của từ này. Các dân cư (ngoại trừ đôi khi việc buôn bán
nô lệ) cũng như việc khai thác nông nghiệp, hoặc hầm mỏ, chưa lôi
cuốn các kẻ đi chinh phục; người ta chỉ đi tìm một cái cảng thiên
nhiên sẵn có, để thuận ra vào và người ta thực hiện với cư dân địa
phương những cuộc đổi chác có lợi, trong đó mỗi người đổi những thứ
ít giá trị, theo ý họ, lấy những thứ có giá trị lớn hơn cho mình.
Dĩ nhiên, xứ Hindoustan, mũi đất châu Á gần nhất đối với các
đường giao thông châu Âu, là địa điểm đầu tiên người ta đặt chân
lên. Người Bồ Đào Nha đã đổ bộ lên đây trong thế kỷ XV, rồi tiếp
tục đi xa nữa đến tận bờ biển các nước nằm giữa Ấn Độ và Trung
Quốc mà họ đặt tên cho là “Indo-chine” (Ấn Độ - Trung Quốc).
https://thuviensach.vn
Năm 1511, Albuquerque xây dựng lên tại mỏm cuối bán đảo
Malaysia một thành phố là Malacca; thành phố này đã nhanh
chóng trở nên phồn thịnh giàu có và trong một thời gian dài là trung
tâm thương mại chính của Âu châu, nằm giữa Trung Quốc, vùng
Đại quần đảo châu Á, và Hindoustan.
Nước Pháp đã rất nhanh chóng thay chân Bồ Đào Nha trong sự
nghiệp truyền đạo tại Đông Dương (tức Indochine), nhờ sự hoạt
động cá nhân của linh mục Alexandre de Rhodes, thuộc dòng Jésuites
(Dòng Tên), đã không ngừng làm công tác tuyên truyền tại Rome,
rồi tại Pháp, với những nhân vật thân cận của Richelieu, và từ 1625
đến 1630, đã phát triển Kitô giáo tại Nam bộ và Bắc bộ. Chẳng bao
lâu, những bài ký sự của vị giáo sĩ, Giám mục “vùng ngoại đạo”
Francois Pallu, đã làm cho người ta chú ý nhiều đến các cư dân Việt
Nam.
Vua Louis XIV quan tâm nhất là nước Xiêm. Vua đã gửi sang
Xiêm nhiều phái đoàn với nhiệm vụ đàm phán về những quan hệ
buôn bán, hữu nghị và cả khuyên nhà vua Xiêm theo đạo. Vua Xiêm
đáp lại vinh dự mà vua nước Pháp đã dành cho mình; vậy là các phái
đoàn Xiêm được tiếp đón tại cung điện Versailles, trước con mắt
ngạc nhiên của các triều thần. Nhưng rồi chẳng bao lâu một phong
trào bài ngoại mãnh liệt xuất hiện tại Xiêm; người Pháp bị bắt
giam, hoặc bị trục xuất, và thế là vấn đề nước Xiêm, đã từng khơi
gợi bao niềm hy vọng lớn, bỗng trở thành một con số không.
Vả lại, “công ty Ấn Độ”(2) đã nghĩ chuyện lập một thương điếm
tại một vài đảo ngoài khơi bờ biển Việt Nam: từ 1686, một trong các
nhânviên công ty đưa ra đề nghị chiếm Côn Đảo. Lúc đầu, không
ai đáp ứng, nhưng rồi các thống đốc những thương điếm của
Pháp tại Ấn Độ, Dumas và Dupleix, đã đưa ra lại đề án ấy.
https://thuviensach.vn
Sau khi ký kết hiệp định Aix-la-Chapelle, năm 1748, công ty đã
giao cho Pierre Poivre, vừa từ Viễn Đông về và có viết một báo cáo
chi tiết về các tài nguyên Việt Nam, trách nhiệm thành lập tại nước
này một chi nhánh. Pierre Poivre đến Đà Nẵng năm 1749, được vua
Võ Vương đón tiếp tử tế ngay tại Huế; tuy nhiên, những cố gắng
của ông không đi đến thành công. Mặc dù vậy, đề án trên vẫn được
đưa ra lại mấy lần nữa (1753 - 1755). Sau Hiệp định Paris, một ủy
ban được thành lập nhằm mục đích cổ vũ cho sự thành lập một chi
nhánh công ty tại Nam bộ Việt Nam “để nó có thể, trong một chừng
mực nào đó, đạt được những quyền lợi cân bằng với những quyền
lợi nước Anh đã đạt được” (tại Ấn Độ). Ủy ban này rất lo sợ nước
Pháp sẽ bị Anh, đi trước mình, ở Nam bộ.
Về thực tế, chính tham vọng của một ông hoàng Việt Nam
muốn chiếm lại ngôi báu, bằng cách dựa vào một vị giáo sĩ Pháp,
sẽ thuyết phục Louis XVI nghĩ tới một cuộc vũ trang can thiệp vào
Việt Nam.
Tại Việt Nam, lúc này, giữa chúa Trịnh ở phía Bắc và chúa
Nguyễn ở phía Nam, đang có một cuộc phân tranh quyết liệt. Sông
Gianh là đường ranh giới giữa hai bên. Cuộc phân tranh bắt đầu từ
thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX mới chấm dứt, với sự tiêu diệt thế
lực họ Trịnh. Những trận đánh không xảy ra liên tục.
Trong giai đoạn đầu (1620-1674), hai bên đã có những lực lượng
quan trọng. Quân Nguyễn ra sức củng cố những nơi phòng thủ tự
nhiên, dọc biên giới của mình và xây đắp chủ yếu là hai bức tường
thành lớn, chặn lối đi của quân Bắc vào: lũy Trường Dục (1630),
dọc theo sông Nhật Lệ và lũy Đồng Hới (1631), từ chân núi Đâu Mâu
đến cửa sông Nhật Lệ.
Theo dòng thời gian, những cuộc nổi loạn và phiến động, do
hậuquả của những cuộc chiến liên miên, giữa hai dòng họ Trịnh-
https://thuviensach.vn
Nguyễn, làm cho kiệt sức cả hai miền Bắc cũng như Nam, dẫn tới
một cuộc khởi nghĩa lớn của nhân dân. Năm 1773, ba anh em quê
làng Tây Sơn, tỉnh Bình Định, là Nguyễn Văn Nhạc, Nguyễn Văn Huệ
và Nguyễn Văn Lữ(3) lãnh đạo phong trào nổi dậy của nhân dân và
đuổi chúa Định Vương Nguyễn Phước Thuần (1765-1777). Định
Vương phải rời bỏ Huế, trốn vào Nam Bộ, tìm nơi ẩn lánh. Quân
Tây Sơn đuổi theo, vào Sài Gòn năm 1777, bắt được Định Vương tại
Long Xuyên và xử tử vào giữa tháng 10 năm 1777 tại Sài Gòn(4) (Định
Vương lúc này 24 tuổi), cùng một lúc với Nguyễn Phước Dương(5).
Quân Trịnh lợi dụng lúc quân Nguyễn đang phải đối phó với
quân Tây Sơn, để gây lại chiến sự bị gián đoạn mất một trăm năm
đình chiến (1674-1774) và chiếm được Huế.
Quân Trịnh đã nhân thời gian ngưng chiến này tiến hành tước
đoạt của nhà Lê đang trị vì ở miền Bắc, mọi quyền hành thực tế.
Ông vua cuối cùng của nhà Lê, là Lê Chiêu Thống (1781-1788), bị
quân Tây Sơn đuổi, được quân Thanh đưa về một thời gian, để rồi
lại rút sang Trung Quốc, sau trận đại bại của quân Thanh và mất tại
Bắc Kinh năm 1793. Nhưng Nguyễn Phước Ánh(6), con của Nguyễn
Phước Luân, là kẻ kế thừa ngôi báu, lúc này mới 13 tuổi, phải lẩn
tránh kẻ thù hung dữ nhiều nơi trong nước cùng với chú là vua Huê
Vương, để khỏi mất mạng, như nhiều người tổ tiên trong dòng họ
đã bị mất ngôi. Nguyễn Phước Ánh, sau này chính là Gia Long.
Sau khi Định Vương Nguyễn Phước Thuần bị giết, Nguyễn
Phước Ánh liên tục bị những người nổi dậy truy kích; sau mấy lần
mưu đồ chiếm lại giang sơn không thành, Nguyễn Phước Ánh phải
lẩn trốn sang Bangkok. Biết mình tứ cố vô thân và trong tay
không có một tài sản, một phương tiện nào, ông bèn nghĩ tới chuyện
kêu gọi người Hà Lan, người Anh, người Bồ Đào Nha, người Tây Ban
Nha tại Philippines giúp ông khôi phục ngai vàng. Cuối cùng, ông
https://thuviensach.vn
hướng sang nước Pháp, theo lời khuyên nhủ của Pierre Pigneau de
Béhaine, vừa được phong làm Giám mục Adran năm 1774, làm Khâm
mạng Tòa thánh, thuộc Hội Truyền giáo Lazaristes.
Đối với Pigneau de Béhaine, tất cả mọi phương tiện phục vụ có
lợi cho Tòa thánh và nước Pháp đều tốt. Người ta sẽ gặp ông, sau
việc đi sứ mà chúng tôi sắp nói tới, trở lại Việt Nam can thiệp vào
những vấn đề quân sự, việc binh đao, tỏ ra là một vị tướng lão
luyện, khi cần, sẵn sàng gác cây thánh giá lại một bên để cầm lấy
thanh gươm. Và người ta cũng sẽ thấy Nguyễn Phước Ánh, nhờ ông
ta mà trở thành vua Gia Long(7) sau này, tự mình đọc bài điếu văn
trước huyệt vị Giám mục. Vậy là Pigneau de Béhaine đã nh...
Table of Contents
MỤC LỤC
LỜI GIỚI THIỆU
LỜI ĐỀ BẠT
CẢM ƠN
QUY CÁCH BIÊN TẬP
DẪN NHẬP
Chương 1 NHỮNG MỤC TIÊU ĐẦU TIÊN CỦA PHÁP TẠI VIỆT
NAM - HIỆP ƯỚC VERSAILLES 1787
KHUYNH HƯỚNG THỰC DÂN CỦA NƯỚC PHÁP
Chương II CUỘC VIỄN CHINH PHÁP - TÂY BAN NHA ĐÁNH
CHIẾM NAM KỲ.
CUỘC ĐÁNH CHIẾM NAM KỲ CỦA PHÁP VÀ DỰ ÁN VỀ
SỰ HIỆN DIỆN CỦA TÂY BAN NHA Ở BẮC KỲ
Dự kiến chiếm thuộc địa ở Bắc Kỳ của Tây Ban Nha
Chương 3 VIỆC CHUẨN BỊ VÀ KÝ KẾT HIỆP ƯỚC SÀI GÒN
(1862)
KÝ KẾT HIỆP ƯỚC SÀI GÒN (1862)
Chương 4 HIỆP ƯỚC 1862 DƯỚI NHẬN XÉT CỦA PARIS,
MADRID VÀ HUẾ
Hiệp ước 1862 dưới cái nhìn của Madrid
Hiệp ước 1862 dưới con mắt của triều đình Huế
Chương 5 Phản ứng của nhân dân Việt Nam đối với hiệp ước 1862 và
các giáo sĩ
CÁC GIÁO SĨ
Chương 6 NHỮNG BIỆN PHÁP ĐẦU TIÊN CỦA CHÁNH PHỦ
PHÁP TẠI NAM KỲ, SỨ BỘ PHAN THANH GIẢN TẠI PHÁP
QUỐC VÀ HIỆP ƯỚC AUBARET (1864)
https://thuviensach.vn
PHÁI BỘ PHAN THANH GIẢN TẠI PHÁP HIỆP ƯỚC
5/6/1862
HIỆP ƯỚC AUBARET
Chương 7 PHÁP XÂM NHẬP BẮC KỲ VÀ CUỘC THÁM HIỂM
SÔNG CỬU LONG (MÉKONG)
CUỘC THÁM HIỂM SÔNG CỬU LONG (MÉKONG)
Chương 8 SỰ KIỆN J.DUPUIS VÀ NHỮNG CUỘC VIỄN CHINH
BẮC KỲ CỦA PHÁP
NỖI BẤT BÌNH CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM NHỮNG
CUỘC ĐẢO CHÍNH Ở TRIỀU ĐÌNH HUẾ
CUỘC CHIẾN TRANH PHÁP-ĐỨC (1870) VỚI VẤN ĐỀ
NAM KỲ
NHỮNG CUỘC LOẠN LẠC Ở BẮC KỲ
NHỮNG CUỘC VIỄN CHINH CỦA PHÁP TẠI BẮC KỲ
Chương 9 HIỆP ƯỚC 1874
Chương 10 SAU HIỆP ƯỚC 1874 NHỮNG PHẢN ỨNG CỦA
QUỐC TẾ VÀ CỦA VIỆT NAM
PHẢN ỨNG CỦA VIỆT NAM
TỰ ĐỨC HƯỚNG NHÌN VỀ TRUNG QUỐC
Chương 11 CHÍNH SÁCH CỦA PHÁP TẠI VIỆT NAM SAU HIỆP
ƯỚC 1874
HUẾ TÌM CÁCH TIẾP CẬN VỚI BẮC KINH
NHỮNG CUỘC CAN THIỆP ĐẦU TIÊN CỦA BẮC KINH
Chương 12 CUỘC ĐÁNH CHIẾM BẮC KỲ CỦA PHÁP
Chương 13 TỪ CUỘC VIỄN CHINH RIVIÈRE ĐẾN Ý ĐỒ PHÂN
CHIA XỨ BẮC KỲ GIỮA PHÁP VÀ TRUNG QUỐC
DỰ ÁN PHÂN CHIA BẮC KỲ CỦA PHÁP VÀ TRUNG
QUỐC
Chương 14 HIỆP ƯỚC HARMAND 1883
TỰ ĐỨC BĂNG HÀ VÀ NHỮNG KHÓ KHĂN TRONG VIỆC
KẾ VỊ THỎA ƯỚC HARMAND
https://thuviensach.vn
Chương 15 THÁI ĐỘ CỦA TRUNG QUỐC VÀ CÁC CƯỜNG
QUỐC CHÂU ÂU TRƯỚC NHỮNG SỰ KIỆN BẮC KỲ
Chương 16 HIỆP ƯỚC PATENÔTRE (6/6/1884)
HIỆP HÒA BỊ TRUẤT NGÔI VÀ KIẾN PHƯỚC LÊN NGÔI
VUA
VIỆC LÊN NGÔI VUA VÀ SỰ ĐẦU HÀNG PHÁP CỦA KIẾN
PHƯỚC
VIỆC CÔNG BỐ BỨC THƯ CỦA TĂNG KỈ TRẠCH
THỎA ƯỚC THIÊN TÂN. HIỆP ƯỚC PATENÔTRE
NHỮNG BẢN TƯỜNG TRÌNH CỦA GIÁM MỤC PUGINIER
VÀ CÁC GIÁO SĨ Ở BẮC KỲ
Chương 17 VỤ BẠO ĐỘNG Ở KINH THÀNH HUẾ ĐÊM 45/7/1885 VÀ CÁC VỤ CƯỚP PHÁ CUNG ĐIỆN NHÀ VUA
CUỘC RÚT QUÂN KHỎI LẠNG SƠN
VỤ BẠO ĐỘNG NGÀY 5/7/1885 VÀ VIỆC CƯỚP PHÁ
CUNG ĐIỆN NHÀ VUA
Chương 18 CUỘC KHÁNG CHIẾN CỦA VUA HÀM NGHI VÀ
VIỆC VUA ĐỒNG KHÁNH LÊN NGÔI
ĐỒNG KHÁNH LÊN NGÔI
VUA HÀM NGHI BỊ BẮT
ĐỒNG KHÁNH VÀ NHỮNG LỢI ÍCH CỦA DÂN TỘC
Chương 19 NHỮNG BIỆN PHÁP ĐẦU TIÊN NHẰM THIẾT LẬP
HỆ THỐNG THUỘC ĐỊA
ĐẶT CƠ SỞ THUỘC ĐỊA
GIA-TÔ GIÁO
Phụ lục HIỆP ƯỚC GIỮA VUA PHÁP VÀ VUA NAM KỲ(1)
ĐIỀU KHOẢN TÁCH RIÊNG
HIỆP ƯỚC SÀI GÒN NGÀY 5 THÁNG 6 NĂM 1862(3)
HIỆP ƯỚC AUBARET NGÀY 15 THÁNG 7 NĂM 1864,
HUẾ(4)
HIỆP ƯỚC 15 THÁNG 3 NĂM 1874(5)
HIỆP ĐỊNH HARMAND(7) NGÀY 25 THÁNG 8 NĂM 1883
https://thuviensach.vn
HIỆP ƯỚC PATENÔTRE(9) NGÀY 6 THÁNG 6 NĂM 1884
THỎA ƯỚC THIÊN TÂN(10) NGÀY 11 THÁNG NĂM NĂM
1884
CHỈ DỤ VỀ VIỆC THIẾT LẬP NHỮNG KHU NHƯỢNG ĐỊA CỦA
PHÁP TRÊN LÃNH THỔ HÀ NỘI, HẢI PHÒNG VÀ ĐÀ NẴNG(1)
CHỈ DỤ BAN CHO CÁC CÔNG DÂN VÀ CÁC DÂN BẢO HỘ
PHÁP ĐƯỢC QUYỀN SỞ HỮU Ở AN NAM VÀ BẮC KỲ
VĨ THANH
LỜI BẠT
TỦ SÁCH ALPHA DI SẢN - GÓC NHÌN SỬ VIỆT
Table of Contents
Landmarks
https://thuviensach.vn
LỜI GIỚI THIỆU
MỤC LỤC
LỜI ĐỀ BẠT
CẢM ƠN
Kính dâng
QUY CÁCH BIÊN TẬP
DẪN NHẬP
Chương 1. NHỮNG MỤC TIÊU ĐẦU TIÊN CỦA PHÁP TẠI VIỆT
NAM - HIỆP ƯỚC VERSAILLES 1787
Chương 2. CUỘC VIỄN CHINH PHÁP - TÂY BAN NHA ĐÁNH
CHIẾM NAM KỲ
Chương 3. VIỆC CHUẨN BỊ VÀ KÝ KẾT HIỆP ƯỚC SÀI GÒN
(1862)
Chương 4. HIỆP ƯỚC 1862 DƯỚI NHẬN XÉT CỦA PARIS,
MADRID VÀ HUẾ
Chương 5. PHẢN ỨNG CỦA NHÂN DÂN VIỆT NAM ĐỐI VỚI
HIỆP ƯỚC 1862 VÀ CÁC GIÁO SĨ
Chương 6. NHỮNG BIỆN PHÁP ĐẦU TIÊN CỦA CHÁNH PHỦ
PHÁP TẠI NAM KỲ, SỨ BỘ PHAN THANH GIẢN TẠI PHÁP
QUỐC VÀ HIỆP ƯỚC AUBARET (1864)
https://thuviensach.vn
Chương 7. PHÁP XÂM NHẬP BẮC KỲ VÀ CUỘC THÁM HIỂM
SÔNG CỬU LONG (MÉKONG)
Chương 8. SỰ KIỆN J.DUPUIS VÀ NHỮNG CUỘC VIỄN CHINH
BẮC KỲ CỦA PHÁP
Chương 9. HIỆP ƯỚC 1874
Chương 10. SAU HIỆP ƯỚC 1874 NHỮNG PHẢN ỨNG CỦA
QUỐC TẾ VÀ CỦA VIỆT NAM
Chương 11. CHÍNH SÁCH CỦA PHÁP TẠI VIỆT NAM SAU HIỆP
ƯỚC 1874
Chương 12. CUỘC ĐÁNH CHIẾM BẮC KỲ CỦA PHÁP
Chương 13. TỪ CUỘC VIỄN CHINH RIVIÈRE ĐẾN Ý ĐỒ
PHÂN CHIA XỨ BẮC KỲ GIỮA PHÁP VÀ TRUNG QUỐC
Chương 14. HIỆP ƯỚC HARMAND 1883
Chương 15. THÁI ĐỘ CỦA TRUNG QUỐC VÀ CÁC CƯỜNG
QUỐC CHÂU ÂU TRƯỚC NHỮNG SỰ KIỆN BẮC KỲ
Chương 16. HIỆP ƯỚC PATENÔTRE (6/6/1884)
Chương 17. VỤ BẠO ĐỘNG Ở KINH THÀNH HUẾ ĐÊM 45/7/1885 VÀ CÁC VỤ CƯỚP PHÁ CUNG ĐIỆN NHÀ VUA
Chương 18. CUỘC KHÁNG CHIẾN CỦA VUA HÀM NGHI VÀ
VIỆC VUA ĐỒNG KHÁNH LÊN NGÔI
Chương 19. NHỮNG BIỆN PHÁP ĐẦU TIÊN NHẰM THIẾT
LẬP HỆ THỐNG THUỘC ĐỊA
Phụ lục. HIỆP ƯỚC GIỮA VUA PHÁP VÀ VUA NAM KỲ
https://thuviensach.vn
CHỈ DỤ VỀ VIỆC THIẾT LẬP NHỮNG KHU NHƯỢNG ĐỊA
CỦA PHÁP TRÊN LÃNH THỔ HÀ NỘI, HẢI PHÒNG VÀ ĐÀ NẴNG
CHỈ DỤ BAN CHO CÁC CÔNG DÂN VÀ CÁC DÂN BẢO HỘ
PHÁP ĐƯỢC QUYỀN SỞ HỮU Ở AN NAM VÀ BẮC KỲ
VĨ THANH
LỜI BẠT
https://thuviensach.vn
LỜI GIỚI THIỆU
Bạn đọc thân mến!
Lịch sử văn hóa của một dân tộc không phải của riêng cá nhân
nào, chính vì vậy, việc bảo tồn, gìn giữ và phát triển lịch sử văn hóa
cũng không phải riêng một người nào có thể gánh vác được, nó thuộc
về nhận thức chung của toàn xã hội và vai trò của từng nhân tố
trong mỗi chặng đường lịch sử. Lịch sử là một khoa học. Lịch sử
không phải là việc thống kê sự kiện một cách khô khan rời rạc. Bởi
mỗi sự kiện trong tiến trình đó đều có mối liên kết chặt chẽ với
nhau bằng sợi dây vô hình xuyên suốt không gian và thời gian tạo
nên lịch sử của một dân tộc.
Dân tộc Việt Nam trải hơn một nghìn năm Bắc thuộc, gần trăm
năm dưới ách cai trị của thực dân, đế quốc, nhưng con cháu bà
Trưng, bà Triệu, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang
Trung... vẫn kiên trì bền chí, tin tưởng ở quá khứ hào hùng, không
ngừng tranh đấu hướng tới tương lai rộng mở vì độc lập tự do của
đất nước.
Một dân tộc, một quốc gia muốn trường tồn và phát triển,
ngoài việc đẩy mạnh phát triển cơ sở hạ tầng, khoa học kỹ thuật,
điều quan trọng hơn nữa là phải có một nền tảng giáo dục vững
chắc. Trong đó, giáo dục về lịch sử và lòng tự hào dân tộc là cần
thiết để ghi khắc trong tâm trí các thế hệ, đặc biệt là tầng lớp
thanh niên ý thức về nguồn gốc dân tộc, truyền thống văn hóa
và nội lực quốc gia, đồng thời giúp định hình góc nhìn thấu đáo
https://thuviensach.vn
về vai trò của từng giai đoạn, triều đại và nhân vật - dù gây tranh
cãi - tạo nên lịch sử đó.
Chính vì những giá trị to lớn đó, vấn đề học tập, tìm hiểu lịch sử
nước nhà hiện đang là mối quan tâm hàng đầu của Nhà nước và
toàn xã hội. Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam, Quỹ Phát triển Sử học
Việt Nam, Tạp chí Xưa và Nay... và rất nhiều những tổ chức khác đã
và đang kiên trì con đường thúc đẩy sự phát triển của nền khoa học
lịch sử quốc gia, phổ biến tri thức lịch sử, góp phần giáo dục
truyền thống văn hóa dân tộc tới toàn xã hội.
Đồng hành với mối quan tâm của toàn xã hội, Công ty Cổ phần
Sách Alpha - một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xuất bản,
với tôn chỉ “Tri thức là sức mạnh” - đặc biệt quan tâm tới việc góp
phần nâng cao hiểu biết của người dân về truyền thống văn hóa
lịch sử đất nước.
Theo nhiều kết quả khảo sát, đánh giá nhu cầu của bạn đọc cho
thấy, “lỗ hổng lịch sử” ở không ít người trẻ hiện nay hoàn toàn có thể
bù lấp một phần dựa trên nhiều nguồn tư liệu, công trình nghiên
cứu, sách cổ sách quý hiện đang được các Viện nghiên cứu, các tổ
chức, cá nhân lưu giữ. Để chung tay tái hiện một cách rõ nét những
mảnh ghép lịch sử dân tộc, Công ty Cổ phần Sách Alpha đã triển
khai dự án xuất bản mang tên Góc nhìn sử Việt với mục đích xuất
bản lại và xuất bản mới một cách có hệ thống các công trình, tư liệu,
sách nghiên cứu, sách văn học có giá trị… về lịch sử, bước đầu hình
thành nên Tủ sách Alpha Di sản.
Cuốn sách “Bước mở đầu của sự thiết lập hệ thống
thuộc địa Pháp ở Việt Nam, 1858 - 1897” của tiến sĩ Nguyễn
Xuân Thọ, Alpha xuất bản tuân thủ bản nguyên gốc, không chỉnh
sửa nội dung, ngoại trừ chỉnh sửa lỗi chính tả theo nguyện vọng người
thân, bạn bè đồng nghiệp của tác giả.
https://thuviensach.vn
Alpha hân hạnh chuyển đến tay bạn đọc tác phẩm giá trị này.
Xin trân trọng giới thiệu.
Công ty CP Sách Alpha
https://thuviensach.vn
LỜI ĐỀ BẠT
Paris, ngày 15 tháng 11, năm 1966
Q
uen biết rõ ông Nguyễn Xuân Thọ, từ nhiều năm, tôi đã có
thể đánh giá cao, một cách liên tục, những đức tánh về trí thức
và đạo đức của ông ấy.
Về phương diện trí thức, ông đã bắt đầu sưu tập ở Pháp và ở
Tây Ban Nha (còn gọi là Y-Pha-Nho), tư liệu của một luận án Tiến sĩ,
mà ông đã thuyết trình và bảo vệ tại Đại học Sorbonne, vào tháng
Bảy năm 1956, về “Cuộc viễn chinh Pháp - Tây Ban Nha tại Nam bộ
Việt Nam(1) năm 1858-1862.”
Cuộc sưu tập ấy đã cho thấy như công trình của một sử gia đủ tư
cách, cả về mặt chính xác của phương pháp, lẫn về mặt tao nhã của
hình thức (cách trình bày).
Lúc ấy, tôi là một thành viên trong ban khảo thí, có trách nhiệm
sát hạch và đánh giá luận án đó, luận án đã được xếp hạng “Très
Honorable” (Tối ưu).
Và ông Thọ đã tiếp tục công trình của ông, bằng cuộc nghiên
cứu này, về sự thâm nhập của người Pháp vào Việt Nam (18581897).
Công trình này, trong đó, ông Nguyễn Xuân Thọ đã dành một
phần lớn cho các tài liệu chính thức, phần nhiều là chưa được tiết
lộ, giúp chúng ta hiểu rõ hơn, một số giai đoạn trong lịch sử những
liên hệ giữa Pháp và Việt Nam vào thế kỷ vừa qua. Đồng thời, công
https://thuviensach.vn
trình này cũng soi sáng chúng ta về tấn thảm kịch đang chia cắt
mảnh đất đau khổ này của Á châu, trên cả hai bình diện chánh trị và
tôn giáo.
Về phương diện đạo đức, ông Nguyễn Xuân Thọ đã chứng tỏ với
tôi một đức tánh trung thực vẹn toàn. Theo nhãn quang tôi, ông là
một trong số những người Việt Nam có khả năng đảm trách công
cuộc phục hưng đất nước của ông, bằng cách sử dụng văn hóa Pháp,
mà ông đã khéo kết hợp được, trong một tinh thần độc lập dân tộc
và khách quan khoa học.
Maurice BAUMONT
Thành viên Viện Hàn Lâm Pháp,
Giáo sư danh dự Đại học Sorbonne.
C
onnaissant M.NGUYEN XUAN THO depuis plusieurs années.
j'ai pu apprécier d'une facon continue ses qualités
intellectuelles et morales.
Au point de vue intellectuel, il a commencé de réunir, en France
et en Espagne, la documentation d'une thèse de doctorat, soutenue à
la Sorbonne en juillet 1956, sur “L'expédition franco espagnole de
Cochinchine (1858-1862)”, et qui s'est révélée l'oeuvre d'un historien
qualifié tant par la rigueur de la méthode que l'élégance de la forme.
Je faisais partie du jury chargé d'examiner et de côter cette thèse qui
lui a valu la mention “Très Honorable”. Il a continué son travail par
cette étude de la pénétration francaise au Viet Nam (1858-1897).
Ce travail, dans lequel M. NGUYEN XUAN THO a réservé une
large place aux documents officiels pour la plupart inédits, nous aide
à mieux comprendre certains épisodes de l'histoire des relations
entre la France et le Viet Nam au siècle dernier, en même temps qu'il
https://thuviensach.vn
nous éclaire sur le drame qui déchire actuellement ce malheureux
pays d'Asie tant sur le plan politique que religieux.
Au point de vue moral, M. NGUYEN XUAN THO m'a toujours
donné la preuve d'une honnêteté intégrale; il est à mes yeux l'un des
Vietnamiens susceptibles d'assurer le relèvement de son pays en
utilisant la culture francaise qu'il a su s'incorporer dans un esprit
d'indépendance nationale et d'objectivité scientifique.
Maurice BAUMONT
Membre de l'Institut,
Professeur honoraire à la Sorbornne.
https://thuviensach.vn
CẢM ƠN
Tôi xin thành thật cảm ơn:
Bộ Ngoại giao Pháp và ông Amédée Outrey, cựu Giám đốc Văn
khố, đã có mỹ ý, để kỷ niệm những năm tôi làm việc tại Bộ Ngoại
giao (Quai d'Orsay, Paris), biếu tôi, đặc biệt, những bản phóng ảnh
của mấy hòa ước ký kết giữa Pháp và Việt Nam, nay in trong quyển
sách này.
Ban Văn khố Ngoại giao Pháp đã cho phép tôi xem những tài liệu
ngoại giao chánh thức, lâu nay chưa từng được công bố ra.
Ông Martin Artajo, cựu Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Tây Ban Nha, tại
Madrid, đã niềm nở thân thiện tiếp tôi nhiều lần tại Điện Viana
(Palais De Viana), và đã cho phép tôi xem những tài liệu ngoại giao
Tây Ban Nha.
Ông Lung Chang, cựu Đại sứ Cộng hòa Trung Quốc cạnh Trung
tâm Giáo dục, Khoa học, Văn hóa Liên Hiệp Quốc (UNESCO), Paris,
bạn đồng khóa và bạn thân với tôi, đã giúp tôi xem được những tài
liệu ngoại giao quý báu của Trung Quốc.
Bà Nữ Hoàng thân Như Mai, con gái đầu lòng vua Hàm Nghi, đã
niềm nở tiếp tôi nhiều lần và đã cho tôi biết về đời sống vua
Hàm Nghi trong những năm nhà vua ở tại Alger, cho đến khi mất.
Nguyễn Xuân Thọ
https://thuviensach.vn
Kính dâng
Hương Hồn Ông Cụ và Bà Cụ thân sinh tôi.
Nhớ nước đau lòng con quốc quốc,
Thương nhà mỏi miệng cái gia gia.
Bà Huyện Thanh Quan - “Qua Đèo Ngang”
https://thuviensach.vn
Chí làm trai dặm nghìn da ngựa
Gieo Thái Sơn nhẹ tựa hồng mao.
…………
Hồn tử sĩ gió ù ù thổi!
Mặt chinh phu trăng dõi dõi theo!
Chinh phu tử sĩ mấy người
Nào ai mạc mặt, nào ai gọi hồn!
“Chinh phụ ngâm”
(Thế kỷ thứ XVIII)
https://thuviensach.vn
T
QUY CÁCH BIÊN TẬP
ủ sách “Góc nhìn sử Việt” ra đời mục đích giới thiệu đến bạn
đọc những tác phẩm hay, có giá trị, đồng thời góp phần bảo
lưu gìn giữ những giá trị văn hóa của đất nước. Để thực hiện bộ
sách này, chúng tôi tuân thủ một số quy cách sau:
1. Bảo toàn văn phong, nội dung nguyên gốc, từ ngữ mang đậm văn
hóa vùng miền trong tác phẩm (trừ khẩu âm).
2. Biên tập đối chiếu trên bản gốc sưu tầm được và có ghi rõ tái
bản trên bản năm nào.
3. Chú thích từ ngữ cổ, từ Hán Việt.
4. Tra cứu bổ sung thông tin: tiểu dẫn, tiểu sử, sự kiện, nhân vật, phụ
lục (nếu cần thiết)...
5. Sửa lỗi chính tả trong bản gốc.
6. Giản lược gạch nối từ ghép, khôi phục từ Việt hóa tiếng nước
ngoài khi có đủ tài liệu tra cứu tin cậy (trừ trường hợp từ ngữ đó đã
dịch thành thuần Việt).
7. Trường hợp thông tin lịch sử trong sách có sai lệch so với chính sử,
chúng tôi sẽ chú thích hoặc đăng phụ lục phía cuối sách.
8. Một số hình ảnh trong sách gốc bị mờ, chất lượng kém… chúng
tôi sẽ đăng bổ sung - thay thế các hình ảnh có nội dung tương tự,
chất lượng tốt (nếu có).
https://thuviensach.vn
Mọi ý kiến đóng góp của độc giả sẽ giúp chúng tôi hoàn thiện tủ
sách.
Alpha Books
https://thuviensach.vn
D
DẪN NHẬP
o vị trí địa lý, nước Việt Nam nằm ở một trong những ngã tư
giao lưu quan trọng của châu Á. Việt Nam có khoảng 75 triệu
dân, trên một diện tích 328.000 cây số vuông, bám vào sườn
của châu Á, giữa bán lục địa Ấn Độ và các quốc gia Viễn Đông, như
“một bàn tay rộng mở của châu Á, chìa ra chào đón Thái Bình
Dương”, theo cách diễn đạt của Bernard Philippe Groslier. Đất nước
này từng tiếp nhận ảnh hưởng các dân tộc láng giềng, và làm bàn
đạp cho các dân tộc, sau khi băng qua Việt Nam, đã tỏa về phía các
đảo Nam Thái Bình Dương và sang Nhựt Bổn(1).
Vai trò làm cầu nối ấy giữa hai thế giới (mondes) giữa hai vũ
trụ (univers)(2), không dừng lại ở thời kỳ tiền sử, và Việt Nam đã trở
thành - và giờ đây, hơn bất cứ lúc nào hết - có thể vẫn tiếp tục một
vùng đất của sự liên hệ, của những sự gặp gỡ; đấy là nơi mà hai thế
giới, nom bề ngoài có vẻ đối nhau, đang có thể trong suốt quá
trình của lịch sử, tìm ra những điểm chung.
Sau gần một thế kỷ người Pháp hiện diện ở Việt Nam, một trang
sử mới, từ đây, đã mở ra cho các quan hệ giữa hai nước.
Mãi đến nay, lịch sử nước Việt Nam đã được những nhà sử học
người Pháp biên soạn và nhất là về thời kỳ liên quan đến chế độ
thực dân, nó đã được viết theo quan điểm người Pháp. Có một số ít
người Việt Nam muốn viết về lịch sử của đất nước họ, nhưng lại
không thể vượt qua được lằn ranh do chánh phủ “bảo hộ” đã vạch ra.
Việc giản lược hóa các tài liệu giáo khoa, các chỉ thị chặt chẽ đã được
ấn định trước, những sự cắt bỏ tinh vi, những sự giải thích sai lạc
https://thuviensach.vn
thường là cố ý… đã làm cho sự hiểu biết về lịch sử của đất nước
này không tiến thêm được chút nào, từ đầu thế kỷ cho tới nay.
Chúng tôi không hề có ý định quy sự thiên lệch ấy, hoặc sự
khiếm khuyết ấy cho ý đồ không tốt của các sử gia người Pháp.
Họ không phải là những người thiếu tính trung thực của nhà trí thức,
họ cũng không thiếu sự vô tư, nhưng tất cả những ai chuyên tâm
nghiên cứu về dân tộc Việt Nam, trong giai đoạn chiếm đóng của
người Pháp, thì đều, hoặc ít, hay nhiều bị bắt buộc phải đứng trên
quan điểm của “chính quốc”. Vả lại, không phải tất cả mọi người
trong số họ đều có thể đọc được chữ Nho và chữ Nôm. Cuối cùng,
công việc của họ trở nên khó khăn hơn, do hiếm các nguồn tài liệu
chính thức của phía Việt Nam.
Những công trình khoa học chuyên sâu, do hàng ngàn hậu bối
như chúng ta tiến hành, nhờ khai thác các kho lưu trữ hiếm hoi của
gia đình, dường như cần thiết. Trong những người Việt Nam này, có
một số người vì sự lệ thuộc của đất nước, nên họ cũng bị cam tâm
với những sự giải thích bế tắc cùng ngõ cụt không có lối thoát,
giống như các sử gia người Pháp. Một số người khác, mà lòng trung
thành với sự nghiệp quốc gia không bao giờ suy giảm, thì mong
muốn điều chỉnh lại cho đúng, bằng những công cuộc nghiên cứu
lịch sử một cách nghiêm túc, một số vấn đề về tình hình sinh
hoạt của đất nước họ, trong quá khứ, với những tài nguyên, phẩm
chất tốt đẹp của nó, cũng như những chỗ yếu kém, và họ cố
gắng đề cập một cách trực diện, một số điểm còn chưa sáng tỏ, và
đối với họ, thì những chỗ này, cho tới hiện nay, dường như đã được
giải thích một cách lệch lạc.
Chính trên tinh thần đó, chúng tôi mong muốn nghiên cứu một
cách thật sự vô tư, và dành cho những tư liệu lưu trữ này một vai trò
quan trọng, các quan hệ giữa Pháp và Việt Nam trong thời kỳ gây
cấn, kể từ cuộc hành quân của liên quân Pháp – Tây Ban Nha, ở
https://thuviensach.vn
Nam Bộ (1858), đến khi Việt Nam mất độc lập (1884), và sự thiết
lập chế độ thuộc địa (1897).
Như vậy, chúng tôi đã khai thác các kho tư liệu của Bộ Ngoại giao
Pháp, Bộ Ngoại vụ Tây Ban Nha, các Bộ Hải quân, Bộ Thuộc địa Pháp
cũng như những tài liệu rất hiếm hoi của Việt Nam.
Chúng tôi nói rõ “các tư liệu chính thức rất hiếm hoi của Việt
Nam”, bởi lẽ chúng ta không thể nào quên rằng văn khố của triều
đình Huế, của hầu hết các Bộ, các văn phòng của các nhà viết sử
biên niên, của Thư viện Quốc gia, đã bị quân đội của tướng De
Courcy cướp phá và thiêu hủy, ở Huế, trong những ngày sau cuộc nổi
dậy ngày 5 tháng 7 năm 1885. Những vụ cướp phá và thiêu hủy ấy,
mà không một tờ báo đương thời nào và từ đó tới nay, không một sử
gia Pháp nào nói đến, đối với sử gia còn bi thảm hơn các vụ cướp đã
tàn phá Cung Mùa Hè, ở Bắc Kinh, trước đó hai mươi lăm năm.
Chính nhờ các tài liệu ấy, hầu hết chưa được công bố, chúng
tôi cố gắng hiệu chính một vài giai đoạn trong lịch sử quan hệ giữa
Pháp và Việt Nam. Theo chúng tôi, cho đến nay, các quan hệ này
phần lớn chưa được hiểu một cách đúng đắn.
Theo nhiều tác giả, sự thống nhất của Việt Nam “không phải có
từ dân tộc, mà có từ khi Việt Nam là thuộc địa, bởi nó chỉ được xác
lập và duy trì do kẻ xâm lược ngoại bang(4)”. Theo chúng tôi, sự
khẳng định này hoàn toàn sai lầm. Rất lâu trước khi người Pháp
đến, Việt Nam đã là một quốc gia thống nhất, có nền tảng vững
vàng. Từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, có một dân tộc Việt Nam,
hoàn toàn thuần nhất, chỉ nói một thứ tiếng như nhau, có phong
tục tập quán như nhau. Nếu nhà cầm quyền Pháp đã chia đất
nước ra làm ba “kỳ”, đó không chỉ vì tiện lợi về hành chánh, mà chủ
yếu nhắm mục đích “chia để trị”. Theo chúng tôi, ông Louis Finot,
giáo sư danh dự ở Collège de France, đã sai lầm khi nói: “… những
https://thuviensach.vn
vụ khác biệt hiện có trong các chế độ hành chánh, áp dụng trong ba
xứ An Nam của Liên Hiệp… là phù hợp với các dữ kiện lịch sử, bởi
lịch sử cũng thừa nhận ở đó có ba đất nước được hình thành khác
nhau…”(4)
Vào thời thuộc địa, một thứ địa lý chính trị sơ lược, đã dẫn một số
tác giả đến chỗ muốn dùng một thứ địa lý bất biến, để biện minh
cho sự phân chia Việt Nam thành “Cochinchine” (Nam kỳ), “An Nam”
(Trung kỳ) và “Tonkin” (Bắc kỳ), mặc dù những tên gọi này hoàn
toàn xa lạ với truyền thống Việt Nam. Chúng tôi không công nhận
cái ý nghĩa không mấy tốt đẹp mà nhà cầm quyền thực dân đã
gán cho các từ ấy, song để độc giả phương Tây khỏi bỡ ngỡ đã quen
gọi như vậy, chúng tôi giữ nguyên các thuật ngữ ấy, để chỉ Nam Bộ,
Trung và Bắc Bộ, cũng như thuật ngữ Đông Dương(5) - để chỉ Việt
Nam, Campuchia và Lào, do người Pháp đặt ra.
Bằng cách vay mượn của người Trung Quốc từ “Đông Kinh”
(nghĩa từng chữ là Kinh đô ở phía Đông), để gọi tên Hà Nội, cũng như
“Bắc Kinh” và “Nam Kinh”, là kinh đô ở phía Bắc và kinh đô ở phía
Nam, các nhà truyền giáo và các thương nhân, vào thế kỷ XVII, đã
đặt tên “Tonkin” (tức Đông Kinh) cho miền Bắc Việt Nam, bằng
cách dựa trên sự phiên dịch đó và trên một cơ sở ngữ âm học đáng
nghi ngờ.
Còn về tên gọi “Cochinchine” (Nam kỳ), có nguồn gốc không rõ
ràng thường được tranh luận trong sách vở, dường như nó bắt
nguồn từ một sự biến dạng của từ Co-Cheng-Ching, là một tên gọi
bằng nguồn Trung Quốc dùng để chỉ vùng đất Champa cổ, là
đất phần phía Nam của nước Việt Nam, trước khi xảy ra cuộc Nam
tiến; hoặc giả nó bắt nguồn từ một từ Tây Ban Nha là Cauchichina, và một từ tiếng Ý là Caoci Cina, cả hai từ trên đều xuất xứ từ
chữ Kiaotche, hoặc Giao-chỉ, sau đó ghép thêm vào đó chữ China,
https://thuviensach.vn
hoặc Cina (Trung Quốc), để cho người ta khỏi lầm lẫn nó với thành
phố Cochin, ở Ấn Độ, hoặc theo Barrow(6), để khỏi lầm lẫn với
Kotchindiinna (Trung Quốc phía Tây), là tên gọi dùng để chỉ một
cộng đồng người Trung Quốc buộc phải rời tổ quốc, vào thời xâm
lược của những người Tartares – một tên gọi có nguồn gốc Nhựt
Bổn, và chuyển sang gia nhập ngôn ngữ Âu châu. Cái tên
gọi“Cochinchine”, trước hết, do chính những người phương Tây dùng
để đặt cho miền Trung của nước Việt Nam.
Cho đến thời Napoléon III, người ta gọi vùng các cửa sông Cửu
Long là “Basse-Cochinchine” (miền hạ Nam kỳ). Cũng không có lý lẽ
gì hơn, đến khoảng 1870, người ta lại có thói quen truyền
tên“Cochinchine” này cho vùng đất ở phía cực Nam, đồng thời
người ta dành riêng cho miền Trung của Việt Nam cái tên “An
Nam”.
Tuy nhiên có một số người Pháp vẫn tiếp tục gọi toàn bộ đất
nước này bằng cái tên mang tính chất miệt thị là “An Nam” (Miền
đất phía Nam đã được bình định) - và gọi cư dân của nó là
người“Annamites” , có ý nghĩa nhắc nhở, và như vậy, là có ý sử dụng
lại thuật ngữ “An Nam đô hộ phủ” (Phủ ở phía Nam được bình định và
chinh phục), do người Trung Quốc đặt cho vào năm 679, thời kỳ nhà
Đường (618-907) trực tiếp cai trị đất nước này(7).
Thật lý thú khi lưu ý là từ “An Nam” không hề có trong các thơ từ
chánh thức của Việt Nam và trong các văn bản bằng chữ Hán của các
hiệp ước 1862, 1874, và 1884, ký kết với Pháp. Đất nước Việt Nam
này đã được gọi bằng cái tên là Đại Nam (Vương quốc lớn ở phía
Nam).
https://thuviensach.vn
NHỮNG
MỤC
TI
Ê
U
ĐẦU
TI
Ê
N
CỦA
PHÁP TẠIVERSAIVIỆTLLESNAM1787- HIỆP ƯỚC
Chương 1
V
ào năm 1497, khi mà Vasco de Gama(1) đi vòng quanh Hảo
Vọng giác (Cap de Bonne Espérance), và năm 1521, Magellan
đi cắt ngang mũi đất cực Nam châu Mỹ, thì người ta biết từ
nay có thể đi thẳng bằng đường biển từ bờ biển châu Âu sang bờ biển
Thái Bình Dương. Và công cuộc “thực dân hóa” những vùng đất
thuộc bờ biển đó bắt đầu.
Đây không phải là một công cuộc thực dân chiếm thuộc địa theo
nghĩa hiện đại của từ này. Các dân cư (ngoại trừ đôi khi việc buôn bán
nô lệ) cũng như việc khai thác nông nghiệp, hoặc hầm mỏ, chưa lôi
cuốn các kẻ đi chinh phục; người ta chỉ đi tìm một cái cảng thiên
nhiên sẵn có, để thuận ra vào và người ta thực hiện với cư dân địa
phương những cuộc đổi chác có lợi, trong đó mỗi người đổi những thứ
ít giá trị, theo ý họ, lấy những thứ có giá trị lớn hơn cho mình.
Dĩ nhiên, xứ Hindoustan, mũi đất châu Á gần nhất đối với các
đường giao thông châu Âu, là địa điểm đầu tiên người ta đặt chân
lên. Người Bồ Đào Nha đã đổ bộ lên đây trong thế kỷ XV, rồi tiếp
tục đi xa nữa đến tận bờ biển các nước nằm giữa Ấn Độ và Trung
Quốc mà họ đặt tên cho là “Indo-chine” (Ấn Độ - Trung Quốc).
https://thuviensach.vn
Năm 1511, Albuquerque xây dựng lên tại mỏm cuối bán đảo
Malaysia một thành phố là Malacca; thành phố này đã nhanh
chóng trở nên phồn thịnh giàu có và trong một thời gian dài là trung
tâm thương mại chính của Âu châu, nằm giữa Trung Quốc, vùng
Đại quần đảo châu Á, và Hindoustan.
Nước Pháp đã rất nhanh chóng thay chân Bồ Đào Nha trong sự
nghiệp truyền đạo tại Đông Dương (tức Indochine), nhờ sự hoạt
động cá nhân của linh mục Alexandre de Rhodes, thuộc dòng Jésuites
(Dòng Tên), đã không ngừng làm công tác tuyên truyền tại Rome,
rồi tại Pháp, với những nhân vật thân cận của Richelieu, và từ 1625
đến 1630, đã phát triển Kitô giáo tại Nam bộ và Bắc bộ. Chẳng bao
lâu, những bài ký sự của vị giáo sĩ, Giám mục “vùng ngoại đạo”
Francois Pallu, đã làm cho người ta chú ý nhiều đến các cư dân Việt
Nam.
Vua Louis XIV quan tâm nhất là nước Xiêm. Vua đã gửi sang
Xiêm nhiều phái đoàn với nhiệm vụ đàm phán về những quan hệ
buôn bán, hữu nghị và cả khuyên nhà vua Xiêm theo đạo. Vua Xiêm
đáp lại vinh dự mà vua nước Pháp đã dành cho mình; vậy là các phái
đoàn Xiêm được tiếp đón tại cung điện Versailles, trước con mắt
ngạc nhiên của các triều thần. Nhưng rồi chẳng bao lâu một phong
trào bài ngoại mãnh liệt xuất hiện tại Xiêm; người Pháp bị bắt
giam, hoặc bị trục xuất, và thế là vấn đề nước Xiêm, đã từng khơi
gợi bao niềm hy vọng lớn, bỗng trở thành một con số không.
Vả lại, “công ty Ấn Độ”(2) đã nghĩ chuyện lập một thương điếm
tại một vài đảo ngoài khơi bờ biển Việt Nam: từ 1686, một trong các
nhânviên công ty đưa ra đề nghị chiếm Côn Đảo. Lúc đầu, không
ai đáp ứng, nhưng rồi các thống đốc những thương điếm của
Pháp tại Ấn Độ, Dumas và Dupleix, đã đưa ra lại đề án ấy.
https://thuviensach.vn
Sau khi ký kết hiệp định Aix-la-Chapelle, năm 1748, công ty đã
giao cho Pierre Poivre, vừa từ Viễn Đông về và có viết một báo cáo
chi tiết về các tài nguyên Việt Nam, trách nhiệm thành lập tại nước
này một chi nhánh. Pierre Poivre đến Đà Nẵng năm 1749, được vua
Võ Vương đón tiếp tử tế ngay tại Huế; tuy nhiên, những cố gắng
của ông không đi đến thành công. Mặc dù vậy, đề án trên vẫn được
đưa ra lại mấy lần nữa (1753 - 1755). Sau Hiệp định Paris, một ủy
ban được thành lập nhằm mục đích cổ vũ cho sự thành lập một chi
nhánh công ty tại Nam bộ Việt Nam “để nó có thể, trong một chừng
mực nào đó, đạt được những quyền lợi cân bằng với những quyền
lợi nước Anh đã đạt được” (tại Ấn Độ). Ủy ban này rất lo sợ nước
Pháp sẽ bị Anh, đi trước mình, ở Nam bộ.
Về thực tế, chính tham vọng của một ông hoàng Việt Nam
muốn chiếm lại ngôi báu, bằng cách dựa vào một vị giáo sĩ Pháp,
sẽ thuyết phục Louis XVI nghĩ tới một cuộc vũ trang can thiệp vào
Việt Nam.
Tại Việt Nam, lúc này, giữa chúa Trịnh ở phía Bắc và chúa
Nguyễn ở phía Nam, đang có một cuộc phân tranh quyết liệt. Sông
Gianh là đường ranh giới giữa hai bên. Cuộc phân tranh bắt đầu từ
thế kỷ XVII đến thế kỷ XIX mới chấm dứt, với sự tiêu diệt thế
lực họ Trịnh. Những trận đánh không xảy ra liên tục.
Trong giai đoạn đầu (1620-1674), hai bên đã có những lực lượng
quan trọng. Quân Nguyễn ra sức củng cố những nơi phòng thủ tự
nhiên, dọc biên giới của mình và xây đắp chủ yếu là hai bức tường
thành lớn, chặn lối đi của quân Bắc vào: lũy Trường Dục (1630),
dọc theo sông Nhật Lệ và lũy Đồng Hới (1631), từ chân núi Đâu Mâu
đến cửa sông Nhật Lệ.
Theo dòng thời gian, những cuộc nổi loạn và phiến động, do
hậuquả của những cuộc chiến liên miên, giữa hai dòng họ Trịnh-
https://thuviensach.vn
Nguyễn, làm cho kiệt sức cả hai miền Bắc cũng như Nam, dẫn tới
một cuộc khởi nghĩa lớn của nhân dân. Năm 1773, ba anh em quê
làng Tây Sơn, tỉnh Bình Định, là Nguyễn Văn Nhạc, Nguyễn Văn Huệ
và Nguyễn Văn Lữ(3) lãnh đạo phong trào nổi dậy của nhân dân và
đuổi chúa Định Vương Nguyễn Phước Thuần (1765-1777). Định
Vương phải rời bỏ Huế, trốn vào Nam Bộ, tìm nơi ẩn lánh. Quân
Tây Sơn đuổi theo, vào Sài Gòn năm 1777, bắt được Định Vương tại
Long Xuyên và xử tử vào giữa tháng 10 năm 1777 tại Sài Gòn(4) (Định
Vương lúc này 24 tuổi), cùng một lúc với Nguyễn Phước Dương(5).
Quân Trịnh lợi dụng lúc quân Nguyễn đang phải đối phó với
quân Tây Sơn, để gây lại chiến sự bị gián đoạn mất một trăm năm
đình chiến (1674-1774) và chiếm được Huế.
Quân Trịnh đã nhân thời gian ngưng chiến này tiến hành tước
đoạt của nhà Lê đang trị vì ở miền Bắc, mọi quyền hành thực tế.
Ông vua cuối cùng của nhà Lê, là Lê Chiêu Thống (1781-1788), bị
quân Tây Sơn đuổi, được quân Thanh đưa về một thời gian, để rồi
lại rút sang Trung Quốc, sau trận đại bại của quân Thanh và mất tại
Bắc Kinh năm 1793. Nhưng Nguyễn Phước Ánh(6), con của Nguyễn
Phước Luân, là kẻ kế thừa ngôi báu, lúc này mới 13 tuổi, phải lẩn
tránh kẻ thù hung dữ nhiều nơi trong nước cùng với chú là vua Huê
Vương, để khỏi mất mạng, như nhiều người tổ tiên trong dòng họ
đã bị mất ngôi. Nguyễn Phước Ánh, sau này chính là Gia Long.
Sau khi Định Vương Nguyễn Phước Thuần bị giết, Nguyễn
Phước Ánh liên tục bị những người nổi dậy truy kích; sau mấy lần
mưu đồ chiếm lại giang sơn không thành, Nguyễn Phước Ánh phải
lẩn trốn sang Bangkok. Biết mình tứ cố vô thân và trong tay
không có một tài sản, một phương tiện nào, ông bèn nghĩ tới chuyện
kêu gọi người Hà Lan, người Anh, người Bồ Đào Nha, người Tây Ban
Nha tại Philippines giúp ông khôi phục ngai vàng. Cuối cùng, ông
https://thuviensach.vn
hướng sang nước Pháp, theo lời khuyên nhủ của Pierre Pigneau de
Béhaine, vừa được phong làm Giám mục Adran năm 1774, làm Khâm
mạng Tòa thánh, thuộc Hội Truyền giáo Lazaristes.
Đối với Pigneau de Béhaine, tất cả mọi phương tiện phục vụ có
lợi cho Tòa thánh và nước Pháp đều tốt. Người ta sẽ gặp ông, sau
việc đi sứ mà chúng tôi sắp nói tới, trở lại Việt Nam can thiệp vào
những vấn đề quân sự, việc binh đao, tỏ ra là một vị tướng lão
luyện, khi cần, sẵn sàng gác cây thánh giá lại một bên để cầm lấy
thanh gươm. Và người ta cũng sẽ thấy Nguyễn Phước Ánh, nhờ ông
ta mà trở thành vua Gia Long(7) sau này, tự mình đọc bài điếu văn
trước huyệt vị Giám mục. Vậy là Pigneau de Béhaine đã nh...
 





