Chiến binh cầu vồng

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 10h:45' 16-11-2024
Dung lượng: 3.2 MB
Số lượt tải: 1
Người gửi: Hoàng Thị Phương
Ngày gửi: 10h:45' 16-11-2024
Dung lượng: 3.2 MB
Số lượt tải: 1
Số lượt thích:
0 người
CHIẾN BINH CẦU VỒNG
GIỚI THIỆU TÁC GIẢ
Andrea Hirata là nhà văn Indonesia ăn khách nhất từ trước đến nay. Tác
phẩm đầu tay của ông, Chiến binh cầu vồng (tiếng Indonesia là Laskar
Pelangi) dựa trên câu chuyện có thực về thời thơ ấu của chính nhà văn. Ngay
từ lần xuất bản đầu tiên năm 2005, cuốn sách về mơ ước và cuộc đấu tranh
bền bỉ của thầy trò trường Muhammadiyah để gìn giữ quyền giáo dục cho
chính mình đã đạt thành công vang dội.
Chiến binh cầu vồng đã được chuyển thể thành phim điện ảnh, nhạc
kịch và phim truyền hình. Bộ phim Chiến binh cầu vồng đạt doanh thu cao
kỉ lục ở Indonesia đồng thời giành được nhiều giải thưởng trong nước cũng
như quốc tế.
Nhờ thành công của bộ phim và cuốn sách, lượng khách du lịch tới đảo
Belitong đã tăng đột biến.
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM
“Thầy Harfan và cô Mus nghèo khổ đã mang đến cho tôi tuổi thơ đẹp nhất, tình bạn đẹp nhất, và tâm hồn phong phú, một
điều gì đó vô giá, thậm chí còn có giá trị hơn những khao khát mơ ước. Có thể tôi lầm, nhưng theo ý tôi, đây thực sự là hơi thở
của giáo dục và linh hồn của một chốn được gọi là trường học.” - (Trích tác phẩm)
Trong ngày khai giảng, nhờ sự xuất hiện vào phút chót của cậu bé thiểu năng trí tuệ Harun,
trường Muhammadiyah may mắn thoát khỏi nguy cơ đóng cửa. Nhưng mơ ước dạy và học trong ngôi
trường Hồi giáo ấy liệu sẽ đi về đâu, khi ngôi trường xập xệ dường như sẵn sàng sụp xuống bất cứ
lúc nào, khi lời đe doạ đóng cửa từ viên thanh tra giáo dục luôn lơ lửng trên đầu, khi những cỗ máy
xúc hung dữ đang chực chờ xới tung ngôi trường để dò mạch thiếc…? Và liệu niềm đam mê học tập
của những Chiến binh cầu vồng đó có đủ sức chinh phục quãng đường ngày ngày đạp xe bốn mươi
cây số, rồi đầm cá sấu lúc nhúc bọn ăn thịt người, chưa kể sự mê hoặc từ những chuyến phiêu lưu
chết người theo tiếng gọi của ngài pháp sư bí ẩn trên đảo Hải Tặc, cùng sức cám dỗ khôn cưỡng từ
những đồng tiền còm kiếm được nhờ công việc cu li toàn thời gian…?
Chiến binh cầu vồng có cả tình yêu trong sáng tuổi học trò lẫn những trò đùa tinh quái, cả nước
mắt lẫn tiếng cười - một bức tranh chân thực về hố sâu ngăn cách giàu nghèo, một tác phẩm văn học
cảm động truyền tải sâu sắc nhất ý nghĩa đích thực của việc làm thầy, việc làm trò và việc học.
Tác phẩm đã bán được trên năm triệu bản, được dịch ra 26 thứ tiếng, là một trong những đại diện
xuất sắc nhất của văn học Indonesia hiện đại.
NHẬN XÉT
Cuốn sách dành cho mọi lứa tuổi. Đã lâu rồi tôi không đọc một cuốn sách nào hấp dẫn và xúc
động đến thế. Các nhân vật đều là những đứa trẻ nhỏ, nhưng cách mà chúng chiến đấu chống lại
những thế lực đàn áp phong kiến cổ hủ, muốn lật đổ ngôi trường và những suy nghĩ của chúng thật
đáng yêu, đáng trân trọng! Cuốn sách rất đáng bỏ tiền ra mua!
Nguyên Hương (13/07/2012)
Quả thật, dù chỉ đọc mới vài chương đầu tiên, nhưng tôi đã thật sự bị ám ảnh, bởi sự nghèo khó
của các "chiến binh" cũng như gia đình của các em. Làm sao quên được hình ảnh người cha không
biết chữ ngày đầu bối rối đưa con đến trường, đẹp & mộc mạc đến nao lòng! Dù cuộc sống chưa đầy
đủ lắm, nhưng so với các em, tôi thấy mình đã hạnh phúc hơn nhiều. Thầm ngưỡng mộ các em vì sự
hồn nhiên & nghị lực phi thường. Đọc và ngẫm, để cho từng câu chữ chạm đến tận đáy sâu tâm hồn,
rúng động, bồi hồi & đôi khi rơi cả nước mắt!
Kim Tuyến (28/09/2012)
Chương 1 - Mười học sinh mới
Chương 2 - Người đàn ông có dáng người giống cây thông
Chương 3 - Tủ kính trưng bày
Chương 4 - Gấu xám Bắc Mỹ
Chương 5 - Đảo Belitong
Chương 6 - Dân đen thấp cổ bé họng
Chương 7 - Lời hứa đầu tiên của Lintang
Chương 8 - Bệnh thần kinh số 5
Chương 9 - Pháp sư cá sấu
Chương 10 - Hai lần làm anh hùng
Chương 11 - Trăng rằm
Chương 12 - Kẻ làm hỏng bản hòa âm
Chương 13 - Kẻ mơ mộng
Chương 14 - Bảng điểm dành cho mẹ
Chương 15 - Mưa đầu mùa
Chương 16 - Bài thơ tuyệt hay và đàn chim Pelintang Pulau
Chương 17 - Mối tình ở cửa hàng tạp hóa xập xệ
Chương 18 - Kiệt tác
Chương 19 - Đòn trả thù được dàn dựng công phu
Chương 21 – Lễ giật đồ
Chương 22 - Tuk Bayan Tula
Chương 23 - Khuôn mặt anh luôn ẩn hiện khắp căn phòng
Chương 24 - Ta sẽ mang về cho em những bông hoa trên đỉnh núi
Chương 25 - Đá billitonite
Chương 26 - Ba đứa bé thần tiên nổi giận
Chương 27 - Edensor
Chương 28 - Kho tàng ẩn giấu bên dưới ngôi trường chúng tôi
Chương 29 - Kế hoạch B
Chương 30 - Lời hứa thứ hai của Lintang
Chương 31 - Người đàn ông có tấm lòng bao la như biển
Chương 32 - Thư ký của câu lạc bộ những người chuộng ma
Chương 33 - Lý Tiểu Long làm tổng thống
Chương 34 - Con thỏ bị liệt
Chương 35 - Đừng bỏ học
Chương 36 - Nửa linh hồn
Chương 37 - Cô gái trẻ thách thức Vua Thiếc
Chương 38 - Hóa ra thiên đàng lại ở ngay làng mình
Chương 39 - Người buôn cái nghèo
Chương 40 - Lời hứa của tôi với cô Mus
Chương 41- Đảo Hải tặc
Chương 42 - Thông điệp của pháp sư
Chương 43- Elvis đã đi khỏi tòa nhà
Chương 44 - Đoán ý Thượng đế
Chương 45 - Kế hoạch C
Chương 46 - Lời hứa thứ ba của Lintang
Chương 47 - Đảo Belington, hòn đảo của trớ trêu
Chương 48 - Đừng bỏ cuộc
Chương 1 - Mười học sinh mới
BUỔI SÁNG HÔM ẤY, hồi vẫn còn bé, tôi ngồi trên chiếc ghế dài trong sân trường. Dưới tán
cây filicium già nua rợp bóng. Cha tôi ngồi bên, hai tay ôm lấy vai tôi, gật đầu mỉm cười chào
những ông bố bà mẹ khác đang ngồi cạnh con mình trên chiếc ghế dài đối diện. Hôm nay là một
ngày trọng đại: ngày đầu tiên đi học.
Cuối những chiếc ghế dài ấy là cánh cửa để ngỏ dẫn vào một lớp học trống trơn. Khung cửa
cong queo. Thật ra, toàn bộ ngôi trường đang trong tình trạng ọp ẹp như thể nó sẽ đổ sập xuống
bất kỳ lúc nào. Hai giáo viên đứng ở cứa cứ như hai vị chủ nhà đang chào đón khách đến dự tiệc.
Một người đàn ông luống tuổi nét mặt điềm tĩnh, thầy hiệu trưởng K.A. Harfan Effendy Noor,
còn gọi là thầy Harfan và một cô gái trẻ măng quấn jilbab - khăn trùm đầu, cô NA. Muslimah
Hafsari, hay cô Mus. Giống như cha tôi, hai người họ cùng đang mỉm cười.
Nhưng nụ cười của cô Mus trông mới gượng gạo làm sao: cô đang lo lắng. Nét mặt cô căng
thẳng và các cơ cứ rần rật một cách bồn chồn. Cô đếm đi đếm lại mãi số học sinh đang ngồi trên
hàng ghế dài bên ngoài, lo lắng đến độ chẳng để ý gì tới mồ hôi đang vã xuống chảy cả vào mắt.
Những giọt mồ hôi đua nhau rịn ra xung quanh mũi làm nhòe nhoẹt lớp phấn trang điểm, vạch
những đường sọc loang lổ khắp mặt khiến trông giống như người hầu gái của nữ hoàng trong Dul
Muluk, một vở kịch cổ của làng chúng tôi.
“Chín em, mới có chín em thôi, thưa thầy, vẫn còn thiếu một,” cô nói với thầy hiệu trưởng
giọng âu lo. Thầy hiệu trưởng Harfan đưa mắt sang cô với ánh nhìn trống rỗng.
Tôi cũng cảm thấy căng thẳng. Căng thẳng bởi vì cô Mus đang bồn chồn không yên, và vì cảm
nhận được sức nặng từ cha đè lên toàn bộ cơ thể tôi. Mặc dù sáng nay trông ông có vẻ dễ chịu và
thoải mái, nhưng cánh tay thô ráp của ông choàng quanh cổ tôi khiến tôi nghe được cả nhịp tim
ông hối hả. Tôi biết ông cũng đang căng thẳng, và tôi cũng nhận thức được rằng đối với một
người cha bốn mươi bảy tuổi đông con làm nghề thợ mỏ với đồng lương eo hẹp, cho con đi học
không phải là chuyện đơn giản. Dắt tôi đến làm đứa giúp việc cho bà chủ cửa hàng tạp hóa người
Hoa ở phiên chợ sáng, hay cho tôi ra bờ biển làm cu li để giúp giảm đi phần nào gánh nặng tài
chính cho gia đình là việc dễ dàng hơn nhiều. Cho một đứa con đi học có nghĩa là phải trang trải
nhiều khoản chi phí trong suốt mấy năm trời, và đối với gia đình tôi ấy là một việc chẳng hề dễ.
Người cha đáng thương của tôi.
Tôi không đành lòng nhìn vào mắt ông.
Sẽ tốt hơn nếu ngay lúc này tôi đứng lên trở về nhà, quên đi chuyện học hành, nối gót mấy ông
anh và cả những người anh em họ của tôi nữa - trở thành một cu li...
Cha tôi không phải là người duy nhất đang trong tình trạng căng thẳng như vậy. Nét mặt của
những bậc cha mẹ khác cũng cho thấy dường như họ không thực sự đang ngồi trên dãy ghế này.
Giống như cha tôi, họ cũng đang đưa dòng suy tư của mình trôi về phiên chợ sáng với ý nghĩ con
trai họ nên đi làm thì hơn. Họ không mấy tin vào chuyện nếu con cái được học hành - mà họ
cũng chỉ đủ trang trải cho chúng đến hết bậc trung học cơ sở là cùng - tương lai của gia đình họ
sẽ tươi sáng hơn. Sáng nay họ buộc phải có mặt tại ngôi trường này, hoặc là để chính quyền địa
phương không khiển trách tại sao chẳng chịu đưa con em đến trường, hoặc là vì nghe theo lời
chính quyền những mong cho con mình thoát khỏi cảnh một chữ bẻ đôi cũng không biết.
Tôi quen mặt hết thảy các bậc cha mẹ và cả mấy đứa con của họ đang ngồi đằng trước tôi kia ngoại trừ một thằng bé nhỏ thó nhếch nhác với mái tóc đỏ xoăn tít cố vùng ra khỏi cái nắm tay
siết chặt của cha nó. Người cha đó chẳng giày dép gì cả, còn chiếc quần ông đang mặc được may
bằng loại vải cotton rẻ tiền. Tôi không hề biết họ.
Những đứa còn lại đều là bạn chí cốt của tôi. Như thằng Trapani đang ngồi trong lòng mẹ nó
kia, hoặc thằng Kucai ngồi cạnh cha nó, haỵ con Sahara, mới lúc nãy đã cáu kỉnh với mẹ nó chỉ
vì muốn mau được vào lớp học, rồi còn Syahdan, cái đứa chẳng có cha mẹ gì đi cùng. Chúng tôi
là hàng xóm, và đều là những người Belitong-Mã Lai thuộc cộng đồng, nghèo nhất trên đảo. Như
ngôi trường này đây, Trường Tiểu học Muhammadiyah, cũng là ngôi trường làng nghèo nhất ở
Belitong. Có ba lý do khiến các bậc phụ huynh đưa con em đến học trường này. Một là, Trường
Tiểu học Muhammadiyah không bắt buộc đóng học phí, và phụ huynh có thể đóng góp bất kỳ thứ
gì vào bất kỳ lúc nào họ có khả năng. Hai là, phụ huynh sợ rằng con em mình với tâm tính yếu
đuối có thể dễ bị cái xấu lôi kéo, thế nên họ muốn chúng được dạy dỗ theo những nguyên tắc
khắt khe của đạo Hồi ngay từ khi còn nhỏ. Ba là, không một trường nào khác nhận con em họ
vào học.
Cô giáo Mus, lúc này càng trở nên bồn chồn tợn, cứ dõi mắt chăm chăm ra đường cái với hy
vọng có thêm một học sinh mới nữa. Nhận thấy hy vọng của cô thật khó thành hiện thực, chúng
tôi đâm hoảng. Vậy nên không giống như mấy trường tiểu học khác nơi buổi tựu trường dành
cho học sinh lớp-một ngập tràn niềm hân hoan, không khí của ngày đầu tiên đi học tại Trường
Tiểu học Muhammadiyah này lại nhuốm một màu âu lo khắc khoải, và người lo lắng hơn cả
chính lã cô giáo Mus và thầy hiệu trưởng Harfan.
Hai con người khốn khổ đang lâm vào tình trạng đứng ngồí không yên như vậy là do chỉ thị từ
vị thanh tra trường học của Sở Giáo dục và Văn hóa miền Nam Sumatra rằng: Nếu trường Tiểu
học Muhammadiyah năm nay có ít hơn mười học sinh mới, thì ngôi trường lâu đời nhất ở
Belitong này sẽ bị đóng cửa. Do vậy, trong khi cô Mus và thầy hiệu trưởng Harfan lo lắng trường
sẽ có nguy cơ đóng cửa, các bậc phụ huynh lại lo lắng về những khoản chi phí, còn lũ trẻ chúng
tôi - chín đứa nhỏ mắc kẹt chính giữa - lại lo cả bọn sẽ không được đi học mất thôi.
Năm trước Trường Tiểu học Muhammadiyah chỉ có mười một học sinh. Thầy hiệu trưởng
Harfan không mấy tin rằng năm nay trường sẽ đạt chỉ tiêu mười học sinh, nên thầy đã âm thầm
chuẩn bị bài diễn văn đóng cửa trường học. Thầy chỉ mong muốn duy nhất một điều - thêm một
học sinh nữa. Thực tế đó sẽ khiến cho bài diễn văn càng thêm xót xa.
“Ta sẽ đợi đến mười một giờ,” thầy hiệu trưởng Harfan nói với cô Mus và với cả những bậc
phụ huynh hoàn toàn không còn chút hy vọng nào. Bầu không khí im phăng phắc bao trùm.
Khuôn mặt cô Mus giờ đã hơi sưng lên do cố nén những giọt nước mắt cứ chực trào ra. Tôi
hiểu cảm giác của cô hiện giờ, vì niềm hy vọng được đứng lớp của cô cũng lớn lao ngang bằng
niềm mong ước được đi học của bọn tôi. Hôm nay là ngày đầu tiên cô được làm cô giáo, cái giây
phút mà bao lâu nay cô hằng mong mỏi. Cô vừa tốt nghiệp trường Sekolah Kepandaian Putri
(trường dạy nghề dành cho nữ sinh) tuần trước, một trường trung học cơ sở ở Tanjong Pandan.
Cô chỉ mới mười lăm tuổi. Đáng buồn thay, cái mong ước bỏng cháy được làm cô giáo của cô
đang sắp bị thực tại cay đắng kia dập tắt một cách phũ phàng - trường học có nguy cơ đóng cửa
chỉ vì thiếu một học sinh.
Cô Mus đứng thần người ra bên dưới cái chuông, nhìn chăm chăm vào khoảng sân trường
rộng lớn và con đường cái phía trước. Vẫn không thấy ai xuất hiện.
Mặt trời lên cao, sắp Ngọ. Nỗi chờ đợi thêm một học sinh nữa chẳng khác nào nỗ lực cố tóm
bắt một cơn gió.
Trong lúc ấy, các bậc phụ huynh có lẽ đang miên man với suy nghĩ rằng thiếu đứa học sinh thứ
mười có nghĩa là con cái họ sẽ không phải đến trường nữa - thật tốt hơn nhiều nếu cho chúng đi
làm kiếm tiền. Cả tôi lẫn mấy đứa kia đều cảm thấy tim mình như vỡ ra: thật đau lòng khi phải
đối mặt với những người cha người mẹ nghèo khổ cơ cực, đau lòng khi phải chứng kiến những
giây phút cuối cùng của ngôi trường cũ kỹ trước khi nó bị đóng cửa vào chính cái ngày đầu tiên
đi học của bọn tôi, và đau lòng quá đỗi khi biết rằng cái khao khát học hành mãnh liệt của bọn
chúng tôi sẽ bị đập tan không thương tiếc chỉ bởi thiếu một học sinh. Đầu đứa nào đứa nấy đều rũ
cả xuống.
Còn năm phút nữa là đến mười một giờ. Cô Mus không thể che giấu nỗi thất vọng được nữa.
Những dự định lớn lao của cô dành cho ngôi trường tội nghiệp này sắp vỡ tan tành trước khi cô
kịp bắt tay vào thực hiện, và ba mươi hai năm toàn tâm toàn ý dành cho sự nghiệp trồng người
thầm lặng của thầy Harfan sắp khép lại vào buổi sáng bi thảm hôm nay.
“Chỉ có chín em thôi, thưa thầy,” cô Mus thốt lên giọng run rẩy. Cô dường như không còn
nghĩ ra được điều gì khác mà cứ lặp đi lặp lại mãi cái thực tế mà ai nấy đều đã rõ. Nghe giọng cô
cứ như thể cô sắp chết đến nơi.
Rốt cuộc, thời khắc quyết định đã điểm. Mười một giờ năm phút rồi mà tổng số học sinh vẫn
chưa đủ mười. Niềm hân hoan vô bờ bến khi được đến trường trong tôi giờ đã gần như cạn sạch.
Tôi hất tay cha ra khỏi vai. Sahara nức nở khóc trong vòng tay mẹ nó bởi vì quả thực nó muốn đi
học tại trường Tiểu học Muhammadiyah này biết mấy. Con nhỏ mang tất và giày, jilbab, chiếc áo
cánh, mấy cuốn sách, một chai nước và túi xách - tất cả đều mới toanh.
Thầy hiệu trưởng Harfan đến bên các bậc phụ huynh và chào lần lượt từng người một. Thật
đau lòng. Ai cũng vỗ vỗ lưng thầy tỏ ý an ủi. Hai mắt cô Mus giờ giàn giụa nước. Thầy hiệu
trưởng Harfan bước ra đứng trước các bậc phụ huynh. Trông thầy thật khốn khổ khi chuẩn bị đọc
bài phát biểu cuối cùng của mình. Thế nhưng, ngay khi thầy vừa thốt ra được mấy từ,
“Assalamu'alaikum, cầu chúc mọi người an lành,” thì thằng Trapani hét tướng lên và chỉ tay về
phía ngoài sân trường, khiến ai nấy đều giật bắn cả mình.
“Harun kìa!”
Ngay lập tức, tất cả đều quay lại nhìn, và ở xa tít ngoài kia là một cậu con trai gầy nhẳng cao
kều đang lóng ngóng tiến về phía chúng tôi. Quần áo đầu tóc của cậu rất tinh tươm. Cậu mặc sơ
mi trắng dài tay được bỏ gọn gàng trong quần soóc. Hai đầu gối cậu lục cục va vào nhau theo
mỗi bước đi loạng choạng. Một phụ nữ trung niên béo tròn đang chật vật cố nắm chặt tay cậu.
Cậu con trai ấy là Harun, một cậu con trai vui nhộn và là bạn tốt của cả bọn chúng tôi. Cậu đã
mười lăm tuổi, ngang tuổi với cô Mus, nhưng đầu óc hơi kém phát triển. Cậu vô cùng sung sướng
và bước đi thật nhanh gần như chạy, như thể cậu không thể đợi thêm một phút giây nào nữa để
được nhập bọn cùng chúng tôi. Cậu chẳng để ý gì đến mẹ mình, còn bà thì khấp kha khấp khởi
chạy theo cậu con trai, cố nắm chặt tay cậu.
Cả hai gần như thở không ra hơi khi đến được trước mặt thầy hiệu trưởng Harfan.
“Thưa thầy,” bà mẹ nói trong hơi thở hổn hển. “Làm ơn nhận thằng Harun với. Trường dành
cho trẻ đặc biệt mãi tít ở đảo Bangka. Chúng tôi không đủ tiền để cho thằng bé học ở đấy.”
Harun khoanh tay trước ngực, nét mặt bừng lên rạng rỡ. Mẹ cậu nói tiếp.
“Và quan trọng hơn cả, đưa nó vào học trường này còn hơn là cho nó ở nhà, thằng bé cứ rượt
đuổi bọn gà con chạy tán loạn hết cả.”
Harun ngoác miệng cười, để hở những chiếc răng dài, vàng khè.
Thầy hiệu trưởng Harfan cũng cười. Thầy đưa mắt nhìn cô Mus, nhún vai.
“Đủ mười rồi đấy,” thầy nói.
Harun đã cứu chúng tôi! Tất cả đồng loạt vỗ tay hoan hô. Con nhỏ Sahara không thể nào ngồi
yên được nữa, nó đứng thẳng lên sửa sang những nếp gấp trên jilbab và xốc xốc lại túi xách cho
chắc chắn. Cô Mus mặt đỏ bừng. Cô giáo trẻ giờ đã thôi khóc, lấy tay quệt vội mồ hôi trên khuôn
mặt nhòe nhoẹt phấn.
Chương 2 - Người đàn ông có dáng người giống cây thông
KHUÔN MẶT CÔ MUS mới một ít phút trước còn sưng húp, nhòe nhoẹt phấn, giờ tươi rói
như đóa hoa huệ tây trên rặng Himalaya. Cô rướn thẳng người hệt như thân cây của loài hoa xinh
đẹp ấy. Tấm khăn của cô mang vẻ mềm mại trắng muốt của hoa huệ tây, và quần áo của cô thậm
chí cũng tỏa ra mùi hương hoa huệ tây ngọt ngào. Với nét mặt hớn hở tươi vui như thế, cô bắt
đầu sắp xếp chỗ ngồi cho chúng tôi.
Cô Mus đến bên từng bậc cha mẹ đang ngồi trên những chiếc ghế băng dài, thân mật chào hỏi
vài ba câu trước khi bắt đầu điểm danh. Mấy đứa khác đều đã vào lớp và đã có bạn cùng bàn, chỉ
còn lại tôi và đứa con trai nhỏ thó nhếch nhác tóc đỏ hoe xoăn tít – cái đứa tôi chưa hề gặp lần
nào ấy. Thằng đó cứ ngọ nguậy suốt, và ở nó bốc ra mùi cao su cháy.
“Ông Cik, con trai ông sẽ ngồi cùng bàn với Lintang”, cô Mus nói với cha tôi.
Ồ, vậy ra tên nó là Lintang. Tên gì mà kì cục quá.
Nghe thấy thế, Lintang ngọ nguậy cố vùng ra khỏi vòng tay cha. Người cha cố hết sức giữ yên
nó, nhưng Lintang rốt cuộc cũng thoát ra được và chạy ù vào lớp tìm chỗ ngồi. Tôi bị bỏ lại đằng
sau, đứng trân trân nhìn vào lớp học. Thằng nhóc đó cứ như đứa bé ngồi trên con ngựa non –
sung sướng, chẳng muốn xuống tẹo nào. Nó đã vượt qua biết bao nhiêu khó khăn để được đi học
cơ mà.
Cô Mus lại gần cha Lintang. Ông giống hệt một cây thông bị sét đánh: đen trũi, héo hắt, gầy
gò, và khô đét. Ông làm nghề đánh cá nhưng nhìn mặt ai cũng nghĩ ông là một người chăn cừu
tốt bụng – một người hiền lành, nhân hậu và chứa chan hy vọng. Tuy vậy, giống như mọi người
dân Indonesia khác, ông không nhận thức được rằng đi học là một quyền cơ bản của con người.
Không như những ngư dân khác, giọng ông nghe rất nhẹ nhàng. Ông kể cho cô Mus nghe một
câu chuyện.
“Hôm qua”, giọng ông căng thẳng, “một đàn chim pelintang pulau về đậu trên bờ biển đấy.”
Ông tiếp tục kể cho cô giáo nghe về chuyện những con chim thiêng đó về đậu lại một chốc
trên đọt cây hạnh như, báo hiệu một cơn bão sắp đổ bộ vào, và thời tiết ngày càng khắc nghiệt
hơn, khiến cho biển cả nổi trận lôi đình. Ngư dân vùng Belitong, như cha của Lintang, có một
niềm tin mãnh liệt rằng sự xuất hiện của loài chim này báo hiệu cơn bão đang đến gần.
Chắc chắn rằng tất cả những thế hệ trước trong gia đình của người đàn ông có dáng người
giống cây thông này chưa khi nào thoát ra khỏi cái vòng lẩn quẩn của đói nghèo, cứ mặt nhiên trở
thành những ngư dân trong cộng đồng người Mã Lai này. Những ngư dân này không thể độc lập
làm việc được – không phải vì biển không đủ rộng, chỉ là vì thiếu thuyền. Năm nay, cha của
Lintang muốn bẽ gãy cái vòng lẩn quẩn đó. Đứa con trai cả, Lintang, sẽ không trở thành một ngư
dân như cha nó. Thay vào đó, Lintang sẽ ngồi bên cạnh một cậu nhóc khác với tóc xoăn tít – là
tôi – và ngày ngày sẽ đi xe đạp đến trường và về nhà. Nếu nó thực sự muốn trở thành một ngư
dân, thì đoạn đường dài bốn mươi cây gập ghềnh sỏi đá kia sẽ đập tan quyết định đi học của nó.
Cái mùi khét lẹt tôi ngửi thấy lúc nãy thật ra là mùi của đôi xăng đan cunghai làm từ lốp xe ô tô
nó đang đi. Đôi giày mòn vẹt và bốc mùi khét vì Lintang đã phải đạp xe hết một đoạn đường dài
mới đến được trường.
Gia đình của Lintang ở Tanjong Kelumpang, một ngôi làng cách bờ biển không xa lắm. Để
đến được đó, bạn phải đi qua bốn rừng cọ rậm rì, những vùng đầm lầy khiến cho người làng tôi
mỗi khi đi qua đều rợn cả tóc gáy. Nơi này, gặp phải cá sấu là chuyện thường – những con cá sấu
to bằng thân cây dứa hay bò ngang qua đường. Ngôi làng ven biển của Lintang nằm ở cực Đông
của Sumatra và có thể nói là nơi hẻo lánh và đói nghèo nhất đảo Belitong. Đối với Lintang, nơi
có ngôi trường nó đến học đây như thể là một thành phố mang tầm cỡ quốc tế, và đến được đây
nó đã phải bắt đầu đạp xe từ lúc subuh, giờ cầu kinh sáng, khoảng bốn giờ. Ái chà! Cái thằng nhỏ
thó đó...
Khi tôi vào lớp lại gần Lintang, nó chào tôi bằng một cái bắt tay siết chặt, cứ như một người
cha bắt tay chàng trai đầu tiên đến cầu hôn con gái mình vậy. Bầu nhiệt huyết dồi dào trong
người nó truyền sang tôi, lan khắp người tôi như một nguồn điện cao áp. Nó thao thao đầy hứng
khởi, bằng một thứ phương ngữ vùng Belitong, đặc trưng của dân vùng sâu vùng xa, nghe rất thú
vị. Mắt nó sáng rực lên khi lia khắp phòng học với vẻ háo hức không giấu đi đâu được. Nó cứ
như một cái cây dương xỉ. Hễ có vài giọt nước rơi xuống cánh hoa là ngay lập tức nó bắn tung
phấn ra – lấp lánh, rực rỡ và đầy nhựa sống. Ở bên cạnh Lintang, tôi cứ có cảm giác như thể
mình đang bị thách tham gia một cuộc chạy đua cự ly một trăm mét vậy. “Cậu chạy nhanh đến
mức nào?” ánh nhìn của nó thách thức.
Cô Mus phát cho tất cả các bậc cha mẹ mẫu đơn để điền các thông tin liên quan đến tên tuổi,
nghề nghiệp, nơi ở. Ai nấy cắm cúi viết, trừ cha của Lintang. Ông dè dặt đón lấy tờ mẫu, nắm
chặt trong tay, bồn chồn. Tờ giấy ấy cứ như một vật thể lạ trong nắm tay ông. Ông nhìn quanh
quất, sang trái, rồi sang phải, nhìn những bậc cha mẹ khác đang hí húi điền vào tờ mẫu. Ông lúng
túng đứng lên.
“Cô giáo à,” ông chậm rãi nói. “Thứ lỗi cho tôi, tôi không biết đọc biết viết.”
Rồi cha của Lintang rầu rầu nói thêm rằng ngay cả đến năm sinh của mình ông cũng không
biết nốt. Đột nhiên Lintang đứng lên đến bên cha mình, lấy tờ mẫu từ tay ông rồi dõng dạc, “Con
sẽ điền vào tờ mẫu này sau, thưa cô, chừng nào con biết đọc biết viết hẵng!”
Mọi người sửng sốt ngước nhìn Lintang, một đứa nhóc dám đứng ra che chở cho cha nó.
Chính tôi cũng cảm thấy bối rối. Một đứa nhóc trong thoáng chốc phải trải nghiệm quá nhiều
thứ mới mẻ. Căng thẳng, mừng rỡ, lo lắng, ngượng ngập, bạn mới, cô giáo mới, mọi cảm xúc lẫn
lộn rộn lên trong lòng tôi.
Một chuyện nữa khiến tình huống tệ hơn: ấy là đôi giày mẹ mới mua cho. Tôi thụt chân ra
đằng sau cố giấu để không ai trông thấy. Đôi giày đen sọc trắng bằng nhựa cứng giống như giày
đá banh xấu không chịu nổi. Bữa sáng nay, mấy ông anh trai cười nắc nẻ. Chỉ một cái liếc mắt
của cha tôi thôi là mấy ông tướng đó im bặt. Nhưng chân tôi thì đau và lại còn ngượng nữa chứ,
tất cả cũng chỉ tại đôi giày này mà ra cả.
Trong lúc ấy, đầu thằng Lintang cứ xoay qua xoay lại như đầu một con cú. Đối với nó, khung
cảnh hỗn độn của lớp học – một cây thước gỗ, một lọ hoa bằng đất sét do mấy anh chị lớp sáu
làm trong giờ thủ công nằm chễm chệ trên bàn cô Mus, một tấm bảng đen cổ lỗ sĩ và những mẩu
phấn vung vãi khắp sàn, một số mẩu vừa mới bị nghiền nát bốc lên một lớp bụi mỏng – khiến nó
cực kỳ ngạc nhiên và thích thú.
Rồi tôi trông thấy cha của Lintang, người đàn ông có dáng người giống cây thông ấy, nhìn
thằng con đang ngắm nghía xung quanh với niềm háo hức ngày một dâng cao, miệng ông cười
mà lòng ngổn ngang – buồn vui lẫn lộn. Tôi hiểu. Người đàn ông đến năm sinh của mình cũng
không biết tưởng tượng ra cảnh thấy thằng con sẽ rầu rĩ đến thế nào nếu buộc phải thôi học năm
lớp một hay lớp hai bậc tiểu học vì những lý do muôn thuở liên quan đến tiền bạc hay những bức
bách đầy bất công của cuộc sống. Đối với ông, giáo dục là một điều bí ẩn. Nếu cha Lintang nhớ
không lầm thì trong bốn đời dòng họ nhà ông. Lintang là người đầu tiên được đến trường. Còn
nhiều thế hệ trước đó nữa mà ông không thể nào kể hết được, những thế hệ sống cách đây đã lâu
rồi, khi người Mã Lai vẫn còn sống rày đây mai đó. Họ mặc quần áo làm từ vỏ cây, ngủ trên các
cành cây và thờ mặt trăng.
Nhìn chung, cô Mus xếp chúng tôi ngồi chung dựa trên nét giống nhau của hai đứa. Lintang và
tôi ngồi cùng bàn vì tóc cả hai đều xoăn tít. Trapani ngồi cùng Mahar vì hai đứa đó dễ coi nhất,
có nhiều nét giống hệt những ca sĩ Mã Lai truyền thống được mọi người hâm mộ. Trapani không
màng gì tới lớp học; nó cứ liếc trộm ra ngoài cửa sổ, dõi theo cái đầu của mẹ nó nhấp nhô lẫn với
đầu các bậc cha mẹ khác.
Nhưng Borek và Kucai được xếp ngồi chung không phải vì chúng trông giống nhau mà vì cả
hai đều nghịch như quỷ sứ. Chỉ mới một lúc thôi mà thằng Borek đã kịp lấy khăn lau bảng chùi
khắp mặt thằng Kucai. Nhất là con nhỏ Sahara, đứa con gái nhỏ người quấn khăn ấy, nó cố tình
hất đổ chai nước của thằng A Kiong, khiến thằng nhóc người Phúc Kiến – Trung Quốc khóc thét
lên như thấy ma hiện hồn. Sahara đúng là một con nhóc ương ngạnh hết chỗ nói. Chuyện chai
nước hôm đó đã khởi sự mối thù nghịch giữa hai đứa kéo dài mãi cho đến những năm sau. Cơn
khóc của thằng A Kiong suýt chút nữa khiến cho buổi học đầu tiên đầy rộn ràng kém vui đi.
Đối với tôi, sáng hôm ấy là một buổi sáng không thể nào quên, nó luôn hiện hữu trong tâm trí
tôi suốt hàng chục năm sau đó. Sáng hôm ấy, tôi trông thấy Lintang lóng ngóng đánh vật với cây
bút chì to tổ bố, đầu chì không được vót nhọn, cứ như cầm con dao thái. Cha nó đã mua phải bút
chì không phù hợp. Nó có hai màu khác nhau, một đầu màu đen, đầu kia màu xanh da trời. Đó
chẳng phải loại bút thợ may dùng để làm dấu lên vải hay sao? Hay thợ đóng giày dùng để làm
dấu lên da? Dù cho thế nào đi nữa, đây dứt khoát không thể là bút dùng để viết.
Ông cũng mua phải loại vở không phù hợp. Ấy là một cuốn vở bìa màu xanh dương loại ba ô
li. Có phải ấy là loại vở dùng cho lớp hai khi chúng tôi tập viết chữ thảo không nhỉ? Nhưng có
một điều tôi không thể nào quên được, đó là buổi sáng hôm ấy, tôi được mục kích một đứa con
trai miền biển, bạn cùng bàn, lần đầu tiên được cầm bút vở. Và suốt những năm sau đó, mọi thứ
nó viết ra đều là thành quả của một bộ óc sáng sủa, một câu nói thốt ra từ miệng nó đều tỏa rạng
một thứ ánh sáng chan hòa rực rỡ. Và cùng với thời gian, đứa con trai miền biển nghèo khó ấy đã
xua tan đám mây đen u ám bấy lâu bao phủ ngôi trường vì sau này cậu đã trở thành một nhân vật
kiệt xuất nhất tôi từng gặp trong suốt cả cuộc đời mình.
Chương 3 - Tủ kính trưng bày
MUỐN MIÊU TẢ NGÔI TRƯỜNG của bọn tôi thì chẳng khó khăn gì. Ấy là một trong hàng
trăm - thậm chí là hàng ngàn - ngôi trường cũ kỹ xập xệ ở Indonesia. Nói không ngoa, nếu có con
dê nào đang nổi cơn động dục chạy đâm sầm vào thì nó sẽ ngay lập tức đổ ầm xuống thành một
đống gạch vụn cho xem.
Ở đây chỉ có hai giáo viên đảm nhiệm tất cả các môn và tất cả các khối lớp. Bọn tôi không có
đồng phục gì cả. Ngay cả toa lét cũng không nốt. Ngôi trường này nằm ngay bìa rừng, thế nên
mỗi khi thấy buồn đi, bọn tôi chỉ cần chui vào bụi rậm là xong. Cô giáo thường phải đi theo trông
chừng, nhỡ có đứa nào đụng phải rắn rết nơi nhà xí lộ thiên đó.
Ở đây cũng không có dụng cụ sơ cứu y tế. Hễ đứa nào ốm, dù bất kỳ bệnh gì - tiêu chảy, sưng,
ho, cảm cúm, ghẻ ngứa - cô giáo đều cho uống ngay một viên thuốc tròn to cồ cộ như cái cúc áo
đi mưa. Viên thuốc màu trắng, đăng đắng, uống xong là no luôn. Trên viên thuốc có ba chữ cái to
tướng: APC - Aspirin, Phenacetin và Caffein. Viên thuốc APC trở thành huyền thoại khắp miền
ngoại ô Belitong như một thứ thần dược có thể chữa bách bệnh. Viên thuốc chữa bách bệnh đó là
giải pháp của chính phủ dành cho người nghèo thiếu thuốc men.
Trường chúng tôi chưa khi nào được các vị quan chức, các nhà quản lý giáo dục, hay những
thành viên của hội đồng lập pháp đến thăm hỏi lấy một lần. Chỉ có mỗi một anh ăn mặc hệt ninja
là đều đặn đến thôi. Anh đeo trên lưng một cái bình bằng nhôm có vòi kéo lê theo sau. Trông cứ
như anh sắp lên mặt trăng ấy. Anh này do sở y tế cử đến làm nhiệm vụ phun thuốc diệt muỗi. Cứ
hễ thấy luồng hơi trắng đậm đặc phụt ra giống như những đám khói tín hiệu là bọn tôi nhất loạt
hò reo vang dội.
Trường bọn tôi không cần bảo vệ vì chẳng có thứ gì đáng giá để bọn trộm nhìn ngó. Người ta
biết chỗ này là trường học nhờ vào một thứ duy nhất - cái cột cờ bằng tre đã ngả vàng. Trên đó
lủng lẳng một tấm biển màu xanh lá cây có vẽ hình mặt trời tỏa tia nắng màu trắng. Chính giữa
tấm bảng có hai dòng chữ:
SD MD
Sekolah Dasar Muhammadiyah
Có một câu được viết bằng tiếng Ả Rập ngay bên dưới biểu tượng mặt trời. Năm lớp hai, khi
đã rành tiếng Ả Rập, tôi mới biết câu amar makruf nahi mungkar ấy có nghĩa là “nên làm điều
thiện, tránh làm điều ác” - nguyên tắc số một của Muhammadiyah, tổ chức Hồi giáo lớn thứ hai
tại Indonesia với hơn ba mươi triệu tín đồ. Lời răn ấy khắc sâu vào tâm trí chúng tôi và ở mãi đó
trong suốt những năm tháng học làm người; đứa nào cũng thuộc nằm lòng.
Nhìn từ xa, ngôi trường cứ như thể muốn đổ sụp xuống bất cứ lúc nào. Những xà gỗ đã mục
ruỗng nằm xộc xệch, không thể chịu nổi cái nặng trình trịch. Nó giống như một kho chứa củi dừa
khô. Kết cấu của ngôi trường không theo một lối kiến trúc quy củ nào. Cửa sổ và cửa lớn không
thể đóng được vì không khớp với khung, nhưng đằng nào thì cũng đâu cần phải khóa.
Quang cảnh trong lớp học có thể được miêu tả bằng những từ như thế này: ít sử dụng, lạ lùng,
gợi lên lòng thương cảm đến ngậm ngùi. Một trong những thứ ít được sử dụng nhất là cái tủ kính
trưng bày bằng cấp cửa đóng không khít. Chỉ có thể đóng kín cánh cửa bằng cách gấp một tờ
giấy làm cái nêm. Bên trong một lớp học đích thực, cái tủ trưng bày như thế thường lưu giữ ảnh
các cựu học sinh thành đạt hay ảnh chụp thầy hiệu trưởng cùng bộ trưởng bộ giáo dục, hoặc thầy
phó hiệu trưởng cùng các vị thứ trưởng giáo dục, có khi cái tủ ấy cũng được dùng để trưng bày
giấy khen, huy chương, chứng chỉ, kỷ niệm chương về những thành tích vang dội của nhà trường.
Thế nhưng trong lớp học của bọn tôi, cái tủ kính to tướng ấy đứng chơ vơ tủi hổ nơi góc phòng.
Nó trống hơ trống hoác trông hết sức thảm thương vì chẳng có vị quan chức nào muốn đến thăm
thầy cô giáo trường bọn tôi, trường cũng chẳng có lấy ...
GIỚI THIỆU TÁC GIẢ
Andrea Hirata là nhà văn Indonesia ăn khách nhất từ trước đến nay. Tác
phẩm đầu tay của ông, Chiến binh cầu vồng (tiếng Indonesia là Laskar
Pelangi) dựa trên câu chuyện có thực về thời thơ ấu của chính nhà văn. Ngay
từ lần xuất bản đầu tiên năm 2005, cuốn sách về mơ ước và cuộc đấu tranh
bền bỉ của thầy trò trường Muhammadiyah để gìn giữ quyền giáo dục cho
chính mình đã đạt thành công vang dội.
Chiến binh cầu vồng đã được chuyển thể thành phim điện ảnh, nhạc
kịch và phim truyền hình. Bộ phim Chiến binh cầu vồng đạt doanh thu cao
kỉ lục ở Indonesia đồng thời giành được nhiều giải thưởng trong nước cũng
như quốc tế.
Nhờ thành công của bộ phim và cuốn sách, lượng khách du lịch tới đảo
Belitong đã tăng đột biến.
GIỚI THIỆU TÁC PHẨM
“Thầy Harfan và cô Mus nghèo khổ đã mang đến cho tôi tuổi thơ đẹp nhất, tình bạn đẹp nhất, và tâm hồn phong phú, một
điều gì đó vô giá, thậm chí còn có giá trị hơn những khao khát mơ ước. Có thể tôi lầm, nhưng theo ý tôi, đây thực sự là hơi thở
của giáo dục và linh hồn của một chốn được gọi là trường học.” - (Trích tác phẩm)
Trong ngày khai giảng, nhờ sự xuất hiện vào phút chót của cậu bé thiểu năng trí tuệ Harun,
trường Muhammadiyah may mắn thoát khỏi nguy cơ đóng cửa. Nhưng mơ ước dạy và học trong ngôi
trường Hồi giáo ấy liệu sẽ đi về đâu, khi ngôi trường xập xệ dường như sẵn sàng sụp xuống bất cứ
lúc nào, khi lời đe doạ đóng cửa từ viên thanh tra giáo dục luôn lơ lửng trên đầu, khi những cỗ máy
xúc hung dữ đang chực chờ xới tung ngôi trường để dò mạch thiếc…? Và liệu niềm đam mê học tập
của những Chiến binh cầu vồng đó có đủ sức chinh phục quãng đường ngày ngày đạp xe bốn mươi
cây số, rồi đầm cá sấu lúc nhúc bọn ăn thịt người, chưa kể sự mê hoặc từ những chuyến phiêu lưu
chết người theo tiếng gọi của ngài pháp sư bí ẩn trên đảo Hải Tặc, cùng sức cám dỗ khôn cưỡng từ
những đồng tiền còm kiếm được nhờ công việc cu li toàn thời gian…?
Chiến binh cầu vồng có cả tình yêu trong sáng tuổi học trò lẫn những trò đùa tinh quái, cả nước
mắt lẫn tiếng cười - một bức tranh chân thực về hố sâu ngăn cách giàu nghèo, một tác phẩm văn học
cảm động truyền tải sâu sắc nhất ý nghĩa đích thực của việc làm thầy, việc làm trò và việc học.
Tác phẩm đã bán được trên năm triệu bản, được dịch ra 26 thứ tiếng, là một trong những đại diện
xuất sắc nhất của văn học Indonesia hiện đại.
NHẬN XÉT
Cuốn sách dành cho mọi lứa tuổi. Đã lâu rồi tôi không đọc một cuốn sách nào hấp dẫn và xúc
động đến thế. Các nhân vật đều là những đứa trẻ nhỏ, nhưng cách mà chúng chiến đấu chống lại
những thế lực đàn áp phong kiến cổ hủ, muốn lật đổ ngôi trường và những suy nghĩ của chúng thật
đáng yêu, đáng trân trọng! Cuốn sách rất đáng bỏ tiền ra mua!
Nguyên Hương (13/07/2012)
Quả thật, dù chỉ đọc mới vài chương đầu tiên, nhưng tôi đã thật sự bị ám ảnh, bởi sự nghèo khó
của các "chiến binh" cũng như gia đình của các em. Làm sao quên được hình ảnh người cha không
biết chữ ngày đầu bối rối đưa con đến trường, đẹp & mộc mạc đến nao lòng! Dù cuộc sống chưa đầy
đủ lắm, nhưng so với các em, tôi thấy mình đã hạnh phúc hơn nhiều. Thầm ngưỡng mộ các em vì sự
hồn nhiên & nghị lực phi thường. Đọc và ngẫm, để cho từng câu chữ chạm đến tận đáy sâu tâm hồn,
rúng động, bồi hồi & đôi khi rơi cả nước mắt!
Kim Tuyến (28/09/2012)
Chương 1 - Mười học sinh mới
Chương 2 - Người đàn ông có dáng người giống cây thông
Chương 3 - Tủ kính trưng bày
Chương 4 - Gấu xám Bắc Mỹ
Chương 5 - Đảo Belitong
Chương 6 - Dân đen thấp cổ bé họng
Chương 7 - Lời hứa đầu tiên của Lintang
Chương 8 - Bệnh thần kinh số 5
Chương 9 - Pháp sư cá sấu
Chương 10 - Hai lần làm anh hùng
Chương 11 - Trăng rằm
Chương 12 - Kẻ làm hỏng bản hòa âm
Chương 13 - Kẻ mơ mộng
Chương 14 - Bảng điểm dành cho mẹ
Chương 15 - Mưa đầu mùa
Chương 16 - Bài thơ tuyệt hay và đàn chim Pelintang Pulau
Chương 17 - Mối tình ở cửa hàng tạp hóa xập xệ
Chương 18 - Kiệt tác
Chương 19 - Đòn trả thù được dàn dựng công phu
Chương 21 – Lễ giật đồ
Chương 22 - Tuk Bayan Tula
Chương 23 - Khuôn mặt anh luôn ẩn hiện khắp căn phòng
Chương 24 - Ta sẽ mang về cho em những bông hoa trên đỉnh núi
Chương 25 - Đá billitonite
Chương 26 - Ba đứa bé thần tiên nổi giận
Chương 27 - Edensor
Chương 28 - Kho tàng ẩn giấu bên dưới ngôi trường chúng tôi
Chương 29 - Kế hoạch B
Chương 30 - Lời hứa thứ hai của Lintang
Chương 31 - Người đàn ông có tấm lòng bao la như biển
Chương 32 - Thư ký của câu lạc bộ những người chuộng ma
Chương 33 - Lý Tiểu Long làm tổng thống
Chương 34 - Con thỏ bị liệt
Chương 35 - Đừng bỏ học
Chương 36 - Nửa linh hồn
Chương 37 - Cô gái trẻ thách thức Vua Thiếc
Chương 38 - Hóa ra thiên đàng lại ở ngay làng mình
Chương 39 - Người buôn cái nghèo
Chương 40 - Lời hứa của tôi với cô Mus
Chương 41- Đảo Hải tặc
Chương 42 - Thông điệp của pháp sư
Chương 43- Elvis đã đi khỏi tòa nhà
Chương 44 - Đoán ý Thượng đế
Chương 45 - Kế hoạch C
Chương 46 - Lời hứa thứ ba của Lintang
Chương 47 - Đảo Belington, hòn đảo của trớ trêu
Chương 48 - Đừng bỏ cuộc
Chương 1 - Mười học sinh mới
BUỔI SÁNG HÔM ẤY, hồi vẫn còn bé, tôi ngồi trên chiếc ghế dài trong sân trường. Dưới tán
cây filicium già nua rợp bóng. Cha tôi ngồi bên, hai tay ôm lấy vai tôi, gật đầu mỉm cười chào
những ông bố bà mẹ khác đang ngồi cạnh con mình trên chiếc ghế dài đối diện. Hôm nay là một
ngày trọng đại: ngày đầu tiên đi học.
Cuối những chiếc ghế dài ấy là cánh cửa để ngỏ dẫn vào một lớp học trống trơn. Khung cửa
cong queo. Thật ra, toàn bộ ngôi trường đang trong tình trạng ọp ẹp như thể nó sẽ đổ sập xuống
bất kỳ lúc nào. Hai giáo viên đứng ở cứa cứ như hai vị chủ nhà đang chào đón khách đến dự tiệc.
Một người đàn ông luống tuổi nét mặt điềm tĩnh, thầy hiệu trưởng K.A. Harfan Effendy Noor,
còn gọi là thầy Harfan và một cô gái trẻ măng quấn jilbab - khăn trùm đầu, cô NA. Muslimah
Hafsari, hay cô Mus. Giống như cha tôi, hai người họ cùng đang mỉm cười.
Nhưng nụ cười của cô Mus trông mới gượng gạo làm sao: cô đang lo lắng. Nét mặt cô căng
thẳng và các cơ cứ rần rật một cách bồn chồn. Cô đếm đi đếm lại mãi số học sinh đang ngồi trên
hàng ghế dài bên ngoài, lo lắng đến độ chẳng để ý gì tới mồ hôi đang vã xuống chảy cả vào mắt.
Những giọt mồ hôi đua nhau rịn ra xung quanh mũi làm nhòe nhoẹt lớp phấn trang điểm, vạch
những đường sọc loang lổ khắp mặt khiến trông giống như người hầu gái của nữ hoàng trong Dul
Muluk, một vở kịch cổ của làng chúng tôi.
“Chín em, mới có chín em thôi, thưa thầy, vẫn còn thiếu một,” cô nói với thầy hiệu trưởng
giọng âu lo. Thầy hiệu trưởng Harfan đưa mắt sang cô với ánh nhìn trống rỗng.
Tôi cũng cảm thấy căng thẳng. Căng thẳng bởi vì cô Mus đang bồn chồn không yên, và vì cảm
nhận được sức nặng từ cha đè lên toàn bộ cơ thể tôi. Mặc dù sáng nay trông ông có vẻ dễ chịu và
thoải mái, nhưng cánh tay thô ráp của ông choàng quanh cổ tôi khiến tôi nghe được cả nhịp tim
ông hối hả. Tôi biết ông cũng đang căng thẳng, và tôi cũng nhận thức được rằng đối với một
người cha bốn mươi bảy tuổi đông con làm nghề thợ mỏ với đồng lương eo hẹp, cho con đi học
không phải là chuyện đơn giản. Dắt tôi đến làm đứa giúp việc cho bà chủ cửa hàng tạp hóa người
Hoa ở phiên chợ sáng, hay cho tôi ra bờ biển làm cu li để giúp giảm đi phần nào gánh nặng tài
chính cho gia đình là việc dễ dàng hơn nhiều. Cho một đứa con đi học có nghĩa là phải trang trải
nhiều khoản chi phí trong suốt mấy năm trời, và đối với gia đình tôi ấy là một việc chẳng hề dễ.
Người cha đáng thương của tôi.
Tôi không đành lòng nhìn vào mắt ông.
Sẽ tốt hơn nếu ngay lúc này tôi đứng lên trở về nhà, quên đi chuyện học hành, nối gót mấy ông
anh và cả những người anh em họ của tôi nữa - trở thành một cu li...
Cha tôi không phải là người duy nhất đang trong tình trạng căng thẳng như vậy. Nét mặt của
những bậc cha mẹ khác cũng cho thấy dường như họ không thực sự đang ngồi trên dãy ghế này.
Giống như cha tôi, họ cũng đang đưa dòng suy tư của mình trôi về phiên chợ sáng với ý nghĩ con
trai họ nên đi làm thì hơn. Họ không mấy tin vào chuyện nếu con cái được học hành - mà họ
cũng chỉ đủ trang trải cho chúng đến hết bậc trung học cơ sở là cùng - tương lai của gia đình họ
sẽ tươi sáng hơn. Sáng nay họ buộc phải có mặt tại ngôi trường này, hoặc là để chính quyền địa
phương không khiển trách tại sao chẳng chịu đưa con em đến trường, hoặc là vì nghe theo lời
chính quyền những mong cho con mình thoát khỏi cảnh một chữ bẻ đôi cũng không biết.
Tôi quen mặt hết thảy các bậc cha mẹ và cả mấy đứa con của họ đang ngồi đằng trước tôi kia ngoại trừ một thằng bé nhỏ thó nhếch nhác với mái tóc đỏ xoăn tít cố vùng ra khỏi cái nắm tay
siết chặt của cha nó. Người cha đó chẳng giày dép gì cả, còn chiếc quần ông đang mặc được may
bằng loại vải cotton rẻ tiền. Tôi không hề biết họ.
Những đứa còn lại đều là bạn chí cốt của tôi. Như thằng Trapani đang ngồi trong lòng mẹ nó
kia, hoặc thằng Kucai ngồi cạnh cha nó, haỵ con Sahara, mới lúc nãy đã cáu kỉnh với mẹ nó chỉ
vì muốn mau được vào lớp học, rồi còn Syahdan, cái đứa chẳng có cha mẹ gì đi cùng. Chúng tôi
là hàng xóm, và đều là những người Belitong-Mã Lai thuộc cộng đồng, nghèo nhất trên đảo. Như
ngôi trường này đây, Trường Tiểu học Muhammadiyah, cũng là ngôi trường làng nghèo nhất ở
Belitong. Có ba lý do khiến các bậc phụ huynh đưa con em đến học trường này. Một là, Trường
Tiểu học Muhammadiyah không bắt buộc đóng học phí, và phụ huynh có thể đóng góp bất kỳ thứ
gì vào bất kỳ lúc nào họ có khả năng. Hai là, phụ huynh sợ rằng con em mình với tâm tính yếu
đuối có thể dễ bị cái xấu lôi kéo, thế nên họ muốn chúng được dạy dỗ theo những nguyên tắc
khắt khe của đạo Hồi ngay từ khi còn nhỏ. Ba là, không một trường nào khác nhận con em họ
vào học.
Cô giáo Mus, lúc này càng trở nên bồn chồn tợn, cứ dõi mắt chăm chăm ra đường cái với hy
vọng có thêm một học sinh mới nữa. Nhận thấy hy vọng của cô thật khó thành hiện thực, chúng
tôi đâm hoảng. Vậy nên không giống như mấy trường tiểu học khác nơi buổi tựu trường dành
cho học sinh lớp-một ngập tràn niềm hân hoan, không khí của ngày đầu tiên đi học tại Trường
Tiểu học Muhammadiyah này lại nhuốm một màu âu lo khắc khoải, và người lo lắng hơn cả
chính lã cô giáo Mus và thầy hiệu trưởng Harfan.
Hai con người khốn khổ đang lâm vào tình trạng đứng ngồí không yên như vậy là do chỉ thị từ
vị thanh tra trường học của Sở Giáo dục và Văn hóa miền Nam Sumatra rằng: Nếu trường Tiểu
học Muhammadiyah năm nay có ít hơn mười học sinh mới, thì ngôi trường lâu đời nhất ở
Belitong này sẽ bị đóng cửa. Do vậy, trong khi cô Mus và thầy hiệu trưởng Harfan lo lắng trường
sẽ có nguy cơ đóng cửa, các bậc phụ huynh lại lo lắng về những khoản chi phí, còn lũ trẻ chúng
tôi - chín đứa nhỏ mắc kẹt chính giữa - lại lo cả bọn sẽ không được đi học mất thôi.
Năm trước Trường Tiểu học Muhammadiyah chỉ có mười một học sinh. Thầy hiệu trưởng
Harfan không mấy tin rằng năm nay trường sẽ đạt chỉ tiêu mười học sinh, nên thầy đã âm thầm
chuẩn bị bài diễn văn đóng cửa trường học. Thầy chỉ mong muốn duy nhất một điều - thêm một
học sinh nữa. Thực tế đó sẽ khiến cho bài diễn văn càng thêm xót xa.
“Ta sẽ đợi đến mười một giờ,” thầy hiệu trưởng Harfan nói với cô Mus và với cả những bậc
phụ huynh hoàn toàn không còn chút hy vọng nào. Bầu không khí im phăng phắc bao trùm.
Khuôn mặt cô Mus giờ đã hơi sưng lên do cố nén những giọt nước mắt cứ chực trào ra. Tôi
hiểu cảm giác của cô hiện giờ, vì niềm hy vọng được đứng lớp của cô cũng lớn lao ngang bằng
niềm mong ước được đi học của bọn tôi. Hôm nay là ngày đầu tiên cô được làm cô giáo, cái giây
phút mà bao lâu nay cô hằng mong mỏi. Cô vừa tốt nghiệp trường Sekolah Kepandaian Putri
(trường dạy nghề dành cho nữ sinh) tuần trước, một trường trung học cơ sở ở Tanjong Pandan.
Cô chỉ mới mười lăm tuổi. Đáng buồn thay, cái mong ước bỏng cháy được làm cô giáo của cô
đang sắp bị thực tại cay đắng kia dập tắt một cách phũ phàng - trường học có nguy cơ đóng cửa
chỉ vì thiếu một học sinh.
Cô Mus đứng thần người ra bên dưới cái chuông, nhìn chăm chăm vào khoảng sân trường
rộng lớn và con đường cái phía trước. Vẫn không thấy ai xuất hiện.
Mặt trời lên cao, sắp Ngọ. Nỗi chờ đợi thêm một học sinh nữa chẳng khác nào nỗ lực cố tóm
bắt một cơn gió.
Trong lúc ấy, các bậc phụ huynh có lẽ đang miên man với suy nghĩ rằng thiếu đứa học sinh thứ
mười có nghĩa là con cái họ sẽ không phải đến trường nữa - thật tốt hơn nhiều nếu cho chúng đi
làm kiếm tiền. Cả tôi lẫn mấy đứa kia đều cảm thấy tim mình như vỡ ra: thật đau lòng khi phải
đối mặt với những người cha người mẹ nghèo khổ cơ cực, đau lòng khi phải chứng kiến những
giây phút cuối cùng của ngôi trường cũ kỹ trước khi nó bị đóng cửa vào chính cái ngày đầu tiên
đi học của bọn tôi, và đau lòng quá đỗi khi biết rằng cái khao khát học hành mãnh liệt của bọn
chúng tôi sẽ bị đập tan không thương tiếc chỉ bởi thiếu một học sinh. Đầu đứa nào đứa nấy đều rũ
cả xuống.
Còn năm phút nữa là đến mười một giờ. Cô Mus không thể che giấu nỗi thất vọng được nữa.
Những dự định lớn lao của cô dành cho ngôi trường tội nghiệp này sắp vỡ tan tành trước khi cô
kịp bắt tay vào thực hiện, và ba mươi hai năm toàn tâm toàn ý dành cho sự nghiệp trồng người
thầm lặng của thầy Harfan sắp khép lại vào buổi sáng bi thảm hôm nay.
“Chỉ có chín em thôi, thưa thầy,” cô Mus thốt lên giọng run rẩy. Cô dường như không còn
nghĩ ra được điều gì khác mà cứ lặp đi lặp lại mãi cái thực tế mà ai nấy đều đã rõ. Nghe giọng cô
cứ như thể cô sắp chết đến nơi.
Rốt cuộc, thời khắc quyết định đã điểm. Mười một giờ năm phút rồi mà tổng số học sinh vẫn
chưa đủ mười. Niềm hân hoan vô bờ bến khi được đến trường trong tôi giờ đã gần như cạn sạch.
Tôi hất tay cha ra khỏi vai. Sahara nức nở khóc trong vòng tay mẹ nó bởi vì quả thực nó muốn đi
học tại trường Tiểu học Muhammadiyah này biết mấy. Con nhỏ mang tất và giày, jilbab, chiếc áo
cánh, mấy cuốn sách, một chai nước và túi xách - tất cả đều mới toanh.
Thầy hiệu trưởng Harfan đến bên các bậc phụ huynh và chào lần lượt từng người một. Thật
đau lòng. Ai cũng vỗ vỗ lưng thầy tỏ ý an ủi. Hai mắt cô Mus giờ giàn giụa nước. Thầy hiệu
trưởng Harfan bước ra đứng trước các bậc phụ huynh. Trông thầy thật khốn khổ khi chuẩn bị đọc
bài phát biểu cuối cùng của mình. Thế nhưng, ngay khi thầy vừa thốt ra được mấy từ,
“Assalamu'alaikum, cầu chúc mọi người an lành,” thì thằng Trapani hét tướng lên và chỉ tay về
phía ngoài sân trường, khiến ai nấy đều giật bắn cả mình.
“Harun kìa!”
Ngay lập tức, tất cả đều quay lại nhìn, và ở xa tít ngoài kia là một cậu con trai gầy nhẳng cao
kều đang lóng ngóng tiến về phía chúng tôi. Quần áo đầu tóc của cậu rất tinh tươm. Cậu mặc sơ
mi trắng dài tay được bỏ gọn gàng trong quần soóc. Hai đầu gối cậu lục cục va vào nhau theo
mỗi bước đi loạng choạng. Một phụ nữ trung niên béo tròn đang chật vật cố nắm chặt tay cậu.
Cậu con trai ấy là Harun, một cậu con trai vui nhộn và là bạn tốt của cả bọn chúng tôi. Cậu đã
mười lăm tuổi, ngang tuổi với cô Mus, nhưng đầu óc hơi kém phát triển. Cậu vô cùng sung sướng
và bước đi thật nhanh gần như chạy, như thể cậu không thể đợi thêm một phút giây nào nữa để
được nhập bọn cùng chúng tôi. Cậu chẳng để ý gì đến mẹ mình, còn bà thì khấp kha khấp khởi
chạy theo cậu con trai, cố nắm chặt tay cậu.
Cả hai gần như thở không ra hơi khi đến được trước mặt thầy hiệu trưởng Harfan.
“Thưa thầy,” bà mẹ nói trong hơi thở hổn hển. “Làm ơn nhận thằng Harun với. Trường dành
cho trẻ đặc biệt mãi tít ở đảo Bangka. Chúng tôi không đủ tiền để cho thằng bé học ở đấy.”
Harun khoanh tay trước ngực, nét mặt bừng lên rạng rỡ. Mẹ cậu nói tiếp.
“Và quan trọng hơn cả, đưa nó vào học trường này còn hơn là cho nó ở nhà, thằng bé cứ rượt
đuổi bọn gà con chạy tán loạn hết cả.”
Harun ngoác miệng cười, để hở những chiếc răng dài, vàng khè.
Thầy hiệu trưởng Harfan cũng cười. Thầy đưa mắt nhìn cô Mus, nhún vai.
“Đủ mười rồi đấy,” thầy nói.
Harun đã cứu chúng tôi! Tất cả đồng loạt vỗ tay hoan hô. Con nhỏ Sahara không thể nào ngồi
yên được nữa, nó đứng thẳng lên sửa sang những nếp gấp trên jilbab và xốc xốc lại túi xách cho
chắc chắn. Cô Mus mặt đỏ bừng. Cô giáo trẻ giờ đã thôi khóc, lấy tay quệt vội mồ hôi trên khuôn
mặt nhòe nhoẹt phấn.
Chương 2 - Người đàn ông có dáng người giống cây thông
KHUÔN MẶT CÔ MUS mới một ít phút trước còn sưng húp, nhòe nhoẹt phấn, giờ tươi rói
như đóa hoa huệ tây trên rặng Himalaya. Cô rướn thẳng người hệt như thân cây của loài hoa xinh
đẹp ấy. Tấm khăn của cô mang vẻ mềm mại trắng muốt của hoa huệ tây, và quần áo của cô thậm
chí cũng tỏa ra mùi hương hoa huệ tây ngọt ngào. Với nét mặt hớn hở tươi vui như thế, cô bắt
đầu sắp xếp chỗ ngồi cho chúng tôi.
Cô Mus đến bên từng bậc cha mẹ đang ngồi trên những chiếc ghế băng dài, thân mật chào hỏi
vài ba câu trước khi bắt đầu điểm danh. Mấy đứa khác đều đã vào lớp và đã có bạn cùng bàn, chỉ
còn lại tôi và đứa con trai nhỏ thó nhếch nhác tóc đỏ hoe xoăn tít – cái đứa tôi chưa hề gặp lần
nào ấy. Thằng đó cứ ngọ nguậy suốt, và ở nó bốc ra mùi cao su cháy.
“Ông Cik, con trai ông sẽ ngồi cùng bàn với Lintang”, cô Mus nói với cha tôi.
Ồ, vậy ra tên nó là Lintang. Tên gì mà kì cục quá.
Nghe thấy thế, Lintang ngọ nguậy cố vùng ra khỏi vòng tay cha. Người cha cố hết sức giữ yên
nó, nhưng Lintang rốt cuộc cũng thoát ra được và chạy ù vào lớp tìm chỗ ngồi. Tôi bị bỏ lại đằng
sau, đứng trân trân nhìn vào lớp học. Thằng nhóc đó cứ như đứa bé ngồi trên con ngựa non –
sung sướng, chẳng muốn xuống tẹo nào. Nó đã vượt qua biết bao nhiêu khó khăn để được đi học
cơ mà.
Cô Mus lại gần cha Lintang. Ông giống hệt một cây thông bị sét đánh: đen trũi, héo hắt, gầy
gò, và khô đét. Ông làm nghề đánh cá nhưng nhìn mặt ai cũng nghĩ ông là một người chăn cừu
tốt bụng – một người hiền lành, nhân hậu và chứa chan hy vọng. Tuy vậy, giống như mọi người
dân Indonesia khác, ông không nhận thức được rằng đi học là một quyền cơ bản của con người.
Không như những ngư dân khác, giọng ông nghe rất nhẹ nhàng. Ông kể cho cô Mus nghe một
câu chuyện.
“Hôm qua”, giọng ông căng thẳng, “một đàn chim pelintang pulau về đậu trên bờ biển đấy.”
Ông tiếp tục kể cho cô giáo nghe về chuyện những con chim thiêng đó về đậu lại một chốc
trên đọt cây hạnh như, báo hiệu một cơn bão sắp đổ bộ vào, và thời tiết ngày càng khắc nghiệt
hơn, khiến cho biển cả nổi trận lôi đình. Ngư dân vùng Belitong, như cha của Lintang, có một
niềm tin mãnh liệt rằng sự xuất hiện của loài chim này báo hiệu cơn bão đang đến gần.
Chắc chắn rằng tất cả những thế hệ trước trong gia đình của người đàn ông có dáng người
giống cây thông này chưa khi nào thoát ra khỏi cái vòng lẩn quẩn của đói nghèo, cứ mặt nhiên trở
thành những ngư dân trong cộng đồng người Mã Lai này. Những ngư dân này không thể độc lập
làm việc được – không phải vì biển không đủ rộng, chỉ là vì thiếu thuyền. Năm nay, cha của
Lintang muốn bẽ gãy cái vòng lẩn quẩn đó. Đứa con trai cả, Lintang, sẽ không trở thành một ngư
dân như cha nó. Thay vào đó, Lintang sẽ ngồi bên cạnh một cậu nhóc khác với tóc xoăn tít – là
tôi – và ngày ngày sẽ đi xe đạp đến trường và về nhà. Nếu nó thực sự muốn trở thành một ngư
dân, thì đoạn đường dài bốn mươi cây gập ghềnh sỏi đá kia sẽ đập tan quyết định đi học của nó.
Cái mùi khét lẹt tôi ngửi thấy lúc nãy thật ra là mùi của đôi xăng đan cunghai làm từ lốp xe ô tô
nó đang đi. Đôi giày mòn vẹt và bốc mùi khét vì Lintang đã phải đạp xe hết một đoạn đường dài
mới đến được trường.
Gia đình của Lintang ở Tanjong Kelumpang, một ngôi làng cách bờ biển không xa lắm. Để
đến được đó, bạn phải đi qua bốn rừng cọ rậm rì, những vùng đầm lầy khiến cho người làng tôi
mỗi khi đi qua đều rợn cả tóc gáy. Nơi này, gặp phải cá sấu là chuyện thường – những con cá sấu
to bằng thân cây dứa hay bò ngang qua đường. Ngôi làng ven biển của Lintang nằm ở cực Đông
của Sumatra và có thể nói là nơi hẻo lánh và đói nghèo nhất đảo Belitong. Đối với Lintang, nơi
có ngôi trường nó đến học đây như thể là một thành phố mang tầm cỡ quốc tế, và đến được đây
nó đã phải bắt đầu đạp xe từ lúc subuh, giờ cầu kinh sáng, khoảng bốn giờ. Ái chà! Cái thằng nhỏ
thó đó...
Khi tôi vào lớp lại gần Lintang, nó chào tôi bằng một cái bắt tay siết chặt, cứ như một người
cha bắt tay chàng trai đầu tiên đến cầu hôn con gái mình vậy. Bầu nhiệt huyết dồi dào trong
người nó truyền sang tôi, lan khắp người tôi như một nguồn điện cao áp. Nó thao thao đầy hứng
khởi, bằng một thứ phương ngữ vùng Belitong, đặc trưng của dân vùng sâu vùng xa, nghe rất thú
vị. Mắt nó sáng rực lên khi lia khắp phòng học với vẻ háo hức không giấu đi đâu được. Nó cứ
như một cái cây dương xỉ. Hễ có vài giọt nước rơi xuống cánh hoa là ngay lập tức nó bắn tung
phấn ra – lấp lánh, rực rỡ và đầy nhựa sống. Ở bên cạnh Lintang, tôi cứ có cảm giác như thể
mình đang bị thách tham gia một cuộc chạy đua cự ly một trăm mét vậy. “Cậu chạy nhanh đến
mức nào?” ánh nhìn của nó thách thức.
Cô Mus phát cho tất cả các bậc cha mẹ mẫu đơn để điền các thông tin liên quan đến tên tuổi,
nghề nghiệp, nơi ở. Ai nấy cắm cúi viết, trừ cha của Lintang. Ông dè dặt đón lấy tờ mẫu, nắm
chặt trong tay, bồn chồn. Tờ giấy ấy cứ như một vật thể lạ trong nắm tay ông. Ông nhìn quanh
quất, sang trái, rồi sang phải, nhìn những bậc cha mẹ khác đang hí húi điền vào tờ mẫu. Ông lúng
túng đứng lên.
“Cô giáo à,” ông chậm rãi nói. “Thứ lỗi cho tôi, tôi không biết đọc biết viết.”
Rồi cha của Lintang rầu rầu nói thêm rằng ngay cả đến năm sinh của mình ông cũng không
biết nốt. Đột nhiên Lintang đứng lên đến bên cha mình, lấy tờ mẫu từ tay ông rồi dõng dạc, “Con
sẽ điền vào tờ mẫu này sau, thưa cô, chừng nào con biết đọc biết viết hẵng!”
Mọi người sửng sốt ngước nhìn Lintang, một đứa nhóc dám đứng ra che chở cho cha nó.
Chính tôi cũng cảm thấy bối rối. Một đứa nhóc trong thoáng chốc phải trải nghiệm quá nhiều
thứ mới mẻ. Căng thẳng, mừng rỡ, lo lắng, ngượng ngập, bạn mới, cô giáo mới, mọi cảm xúc lẫn
lộn rộn lên trong lòng tôi.
Một chuyện nữa khiến tình huống tệ hơn: ấy là đôi giày mẹ mới mua cho. Tôi thụt chân ra
đằng sau cố giấu để không ai trông thấy. Đôi giày đen sọc trắng bằng nhựa cứng giống như giày
đá banh xấu không chịu nổi. Bữa sáng nay, mấy ông anh trai cười nắc nẻ. Chỉ một cái liếc mắt
của cha tôi thôi là mấy ông tướng đó im bặt. Nhưng chân tôi thì đau và lại còn ngượng nữa chứ,
tất cả cũng chỉ tại đôi giày này mà ra cả.
Trong lúc ấy, đầu thằng Lintang cứ xoay qua xoay lại như đầu một con cú. Đối với nó, khung
cảnh hỗn độn của lớp học – một cây thước gỗ, một lọ hoa bằng đất sét do mấy anh chị lớp sáu
làm trong giờ thủ công nằm chễm chệ trên bàn cô Mus, một tấm bảng đen cổ lỗ sĩ và những mẩu
phấn vung vãi khắp sàn, một số mẩu vừa mới bị nghiền nát bốc lên một lớp bụi mỏng – khiến nó
cực kỳ ngạc nhiên và thích thú.
Rồi tôi trông thấy cha của Lintang, người đàn ông có dáng người giống cây thông ấy, nhìn
thằng con đang ngắm nghía xung quanh với niềm háo hức ngày một dâng cao, miệng ông cười
mà lòng ngổn ngang – buồn vui lẫn lộn. Tôi hiểu. Người đàn ông đến năm sinh của mình cũng
không biết tưởng tượng ra cảnh thấy thằng con sẽ rầu rĩ đến thế nào nếu buộc phải thôi học năm
lớp một hay lớp hai bậc tiểu học vì những lý do muôn thuở liên quan đến tiền bạc hay những bức
bách đầy bất công của cuộc sống. Đối với ông, giáo dục là một điều bí ẩn. Nếu cha Lintang nhớ
không lầm thì trong bốn đời dòng họ nhà ông. Lintang là người đầu tiên được đến trường. Còn
nhiều thế hệ trước đó nữa mà ông không thể nào kể hết được, những thế hệ sống cách đây đã lâu
rồi, khi người Mã Lai vẫn còn sống rày đây mai đó. Họ mặc quần áo làm từ vỏ cây, ngủ trên các
cành cây và thờ mặt trăng.
Nhìn chung, cô Mus xếp chúng tôi ngồi chung dựa trên nét giống nhau của hai đứa. Lintang và
tôi ngồi cùng bàn vì tóc cả hai đều xoăn tít. Trapani ngồi cùng Mahar vì hai đứa đó dễ coi nhất,
có nhiều nét giống hệt những ca sĩ Mã Lai truyền thống được mọi người hâm mộ. Trapani không
màng gì tới lớp học; nó cứ liếc trộm ra ngoài cửa sổ, dõi theo cái đầu của mẹ nó nhấp nhô lẫn với
đầu các bậc cha mẹ khác.
Nhưng Borek và Kucai được xếp ngồi chung không phải vì chúng trông giống nhau mà vì cả
hai đều nghịch như quỷ sứ. Chỉ mới một lúc thôi mà thằng Borek đã kịp lấy khăn lau bảng chùi
khắp mặt thằng Kucai. Nhất là con nhỏ Sahara, đứa con gái nhỏ người quấn khăn ấy, nó cố tình
hất đổ chai nước của thằng A Kiong, khiến thằng nhóc người Phúc Kiến – Trung Quốc khóc thét
lên như thấy ma hiện hồn. Sahara đúng là một con nhóc ương ngạnh hết chỗ nói. Chuyện chai
nước hôm đó đã khởi sự mối thù nghịch giữa hai đứa kéo dài mãi cho đến những năm sau. Cơn
khóc của thằng A Kiong suýt chút nữa khiến cho buổi học đầu tiên đầy rộn ràng kém vui đi.
Đối với tôi, sáng hôm ấy là một buổi sáng không thể nào quên, nó luôn hiện hữu trong tâm trí
tôi suốt hàng chục năm sau đó. Sáng hôm ấy, tôi trông thấy Lintang lóng ngóng đánh vật với cây
bút chì to tổ bố, đầu chì không được vót nhọn, cứ như cầm con dao thái. Cha nó đã mua phải bút
chì không phù hợp. Nó có hai màu khác nhau, một đầu màu đen, đầu kia màu xanh da trời. Đó
chẳng phải loại bút thợ may dùng để làm dấu lên vải hay sao? Hay thợ đóng giày dùng để làm
dấu lên da? Dù cho thế nào đi nữa, đây dứt khoát không thể là bút dùng để viết.
Ông cũng mua phải loại vở không phù hợp. Ấy là một cuốn vở bìa màu xanh dương loại ba ô
li. Có phải ấy là loại vở dùng cho lớp hai khi chúng tôi tập viết chữ thảo không nhỉ? Nhưng có
một điều tôi không thể nào quên được, đó là buổi sáng hôm ấy, tôi được mục kích một đứa con
trai miền biển, bạn cùng bàn, lần đầu tiên được cầm bút vở. Và suốt những năm sau đó, mọi thứ
nó viết ra đều là thành quả của một bộ óc sáng sủa, một câu nói thốt ra từ miệng nó đều tỏa rạng
một thứ ánh sáng chan hòa rực rỡ. Và cùng với thời gian, đứa con trai miền biển nghèo khó ấy đã
xua tan đám mây đen u ám bấy lâu bao phủ ngôi trường vì sau này cậu đã trở thành một nhân vật
kiệt xuất nhất tôi từng gặp trong suốt cả cuộc đời mình.
Chương 3 - Tủ kính trưng bày
MUỐN MIÊU TẢ NGÔI TRƯỜNG của bọn tôi thì chẳng khó khăn gì. Ấy là một trong hàng
trăm - thậm chí là hàng ngàn - ngôi trường cũ kỹ xập xệ ở Indonesia. Nói không ngoa, nếu có con
dê nào đang nổi cơn động dục chạy đâm sầm vào thì nó sẽ ngay lập tức đổ ầm xuống thành một
đống gạch vụn cho xem.
Ở đây chỉ có hai giáo viên đảm nhiệm tất cả các môn và tất cả các khối lớp. Bọn tôi không có
đồng phục gì cả. Ngay cả toa lét cũng không nốt. Ngôi trường này nằm ngay bìa rừng, thế nên
mỗi khi thấy buồn đi, bọn tôi chỉ cần chui vào bụi rậm là xong. Cô giáo thường phải đi theo trông
chừng, nhỡ có đứa nào đụng phải rắn rết nơi nhà xí lộ thiên đó.
Ở đây cũng không có dụng cụ sơ cứu y tế. Hễ đứa nào ốm, dù bất kỳ bệnh gì - tiêu chảy, sưng,
ho, cảm cúm, ghẻ ngứa - cô giáo đều cho uống ngay một viên thuốc tròn to cồ cộ như cái cúc áo
đi mưa. Viên thuốc màu trắng, đăng đắng, uống xong là no luôn. Trên viên thuốc có ba chữ cái to
tướng: APC - Aspirin, Phenacetin và Caffein. Viên thuốc APC trở thành huyền thoại khắp miền
ngoại ô Belitong như một thứ thần dược có thể chữa bách bệnh. Viên thuốc chữa bách bệnh đó là
giải pháp của chính phủ dành cho người nghèo thiếu thuốc men.
Trường chúng tôi chưa khi nào được các vị quan chức, các nhà quản lý giáo dục, hay những
thành viên của hội đồng lập pháp đến thăm hỏi lấy một lần. Chỉ có mỗi một anh ăn mặc hệt ninja
là đều đặn đến thôi. Anh đeo trên lưng một cái bình bằng nhôm có vòi kéo lê theo sau. Trông cứ
như anh sắp lên mặt trăng ấy. Anh này do sở y tế cử đến làm nhiệm vụ phun thuốc diệt muỗi. Cứ
hễ thấy luồng hơi trắng đậm đặc phụt ra giống như những đám khói tín hiệu là bọn tôi nhất loạt
hò reo vang dội.
Trường bọn tôi không cần bảo vệ vì chẳng có thứ gì đáng giá để bọn trộm nhìn ngó. Người ta
biết chỗ này là trường học nhờ vào một thứ duy nhất - cái cột cờ bằng tre đã ngả vàng. Trên đó
lủng lẳng một tấm biển màu xanh lá cây có vẽ hình mặt trời tỏa tia nắng màu trắng. Chính giữa
tấm bảng có hai dòng chữ:
SD MD
Sekolah Dasar Muhammadiyah
Có một câu được viết bằng tiếng Ả Rập ngay bên dưới biểu tượng mặt trời. Năm lớp hai, khi
đã rành tiếng Ả Rập, tôi mới biết câu amar makruf nahi mungkar ấy có nghĩa là “nên làm điều
thiện, tránh làm điều ác” - nguyên tắc số một của Muhammadiyah, tổ chức Hồi giáo lớn thứ hai
tại Indonesia với hơn ba mươi triệu tín đồ. Lời răn ấy khắc sâu vào tâm trí chúng tôi và ở mãi đó
trong suốt những năm tháng học làm người; đứa nào cũng thuộc nằm lòng.
Nhìn từ xa, ngôi trường cứ như thể muốn đổ sụp xuống bất cứ lúc nào. Những xà gỗ đã mục
ruỗng nằm xộc xệch, không thể chịu nổi cái nặng trình trịch. Nó giống như một kho chứa củi dừa
khô. Kết cấu của ngôi trường không theo một lối kiến trúc quy củ nào. Cửa sổ và cửa lớn không
thể đóng được vì không khớp với khung, nhưng đằng nào thì cũng đâu cần phải khóa.
Quang cảnh trong lớp học có thể được miêu tả bằng những từ như thế này: ít sử dụng, lạ lùng,
gợi lên lòng thương cảm đến ngậm ngùi. Một trong những thứ ít được sử dụng nhất là cái tủ kính
trưng bày bằng cấp cửa đóng không khít. Chỉ có thể đóng kín cánh cửa bằng cách gấp một tờ
giấy làm cái nêm. Bên trong một lớp học đích thực, cái tủ trưng bày như thế thường lưu giữ ảnh
các cựu học sinh thành đạt hay ảnh chụp thầy hiệu trưởng cùng bộ trưởng bộ giáo dục, hoặc thầy
phó hiệu trưởng cùng các vị thứ trưởng giáo dục, có khi cái tủ ấy cũng được dùng để trưng bày
giấy khen, huy chương, chứng chỉ, kỷ niệm chương về những thành tích vang dội của nhà trường.
Thế nhưng trong lớp học của bọn tôi, cái tủ kính to tướng ấy đứng chơ vơ tủi hổ nơi góc phòng.
Nó trống hơ trống hoác trông hết sức thảm thương vì chẳng có vị quan chức nào muốn đến thăm
thầy cô giáo trường bọn tôi, trường cũng chẳng có lấy ...
 





