NHỮNG NGÀY TẾT TA


TẠP CHÍ THƯ VIỆN 2025-2026

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Sách mang trong mình sứ mệnh đưa độc giả đi du lịch khắp muôn nơi mà không cần di chuyển một bước.” – Jumpa Lahiri

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Bài hát Trang sách em yêu


    Bản tin thư viện

    < Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z7427905612002_9e0abcb2025d715b725d8f6419a1ecd0.jpg Z7427905615184_0aa70673ae8b39fc6b6f34b4c6ad4ef2.jpg Z7427905618184_32a701ebb60894d690d1568237b71a8d.jpg Z7427905623656_562b514c3bf2d92c3dc62bb3d3a231d5.jpg Z7427905605040_aef60c178a60f4022647eea9cc82a784.jpg Z7427905628062_25ef73b0d8c648eece3dc4b78982c882.jpg Z7427905631997_6c37185ce800dfd8291687bf71c2014b.jpg Z7410066772617_3822b51cdee110fc57ef821483e9d307.jpg Z7410066784938_3a9a4c4e5d658cd5d6632f075b8e097d.jpg Z7410066786596_80da2adf01d0df168233f538b1db22fc.jpg Z7382833702596_f28f648a58a9101031fc2523c48f33b6.jpg Z7382833680559_4b81b1682a7ac8d5e9e78e2100e0749a.jpg Z7382833706264_8134c1277aedde9be8354c9d2977df47.jpg Z7382833696286_466a8c2ab213e7c884e972d88e8500a1.jpg Z7382833694322_b3088e121328fb39e6a916b2a6a17633.jpg Z7382833685175_03676035d85901dc7adada9d5d00535b.jpg Z7382833684944_fab3f2d879501d815ada350d3bb0a4b9.jpg Z7360692252431_d94ead2e74dd9d1a3d93c87445228dc5.jpg Z7360692292424_9b95d5328dd0008eb5f3986df5ca7239.jpg

    Một thư viện tốt là trái tim của nhà trường – nơi nuôi dưỡng trí tuệ và tâm hồn học sinh

    THƯ VIỆN TIỂU HỌC MAI CHÂU MỞ RA CÁNH CỬA DIỆU KỲ

    Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    KỂ CHUYỆN TẾT NGUYÊN ĐÁN


    chu-quyen-tren-hai-quan-dao-hoang-sa-va-truong-sa-thuvienPDF.com

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Bích Đào
    Ngày gửi: 19h:08' 25-06-2024
    Dung lượng: 3.0 MB
    Số lượt tải: 1
    Số lượt thích: 0 người
    QUỸ NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

    WWW.SEASFOUNDATION.ORG

    MONIQUE CHEMILLIER – GENDREAU

    CHỦ QUYỀN
    TRÊN HAI QUẦN ĐẢO
    HOÀNG SA VÀ TRƯỜNG SA
    (SÁCH THAM KHẢO)

    NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA
    Hà Nội – 1998

    Người dịch: Nguyễn Hồng Thao
    Hiệu đính: Lưu Văn Lợi
    Lê Minh Nghĩa

    Tham gia đánh máy:
    Hoa Phạm, Thảo Uyên, Thanh Tú, Nguyễn Duy Hiếu, Việt Phương, Pikachu, Khôi Nguyễn, Ngọc Thu, Thùy Minh
    Nguyễn, Lê Hồng Thuận, Lê Trung Bảo, Trần Hoài Vũ, Phan Tuấn Quốc.

    2

    QUỸ NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

    MỤC LỤC
    Trang
    - Lời Nhà xuất bản___________________________ 4
    - Lời nói đầu ________________________________ 5
    - Chương I __________________________________ 19
    CÁC DỮ KIỆN CHUNG LIÊN QUAN ĐẾN
    CÁC QUẦN ĐẢO HOÀNG SA VÀ TRƯƠNG SA


    Các dữ kiện địa lý
    - Khái quát
    - Quần đảo Hoàng Sa
    - Quần đảo Trường Sa



    Vấn đề pháp lý
    - Loại lãnh thổ và xác định tranh chấp
    - Các quy phạm của pháp luật quốc tế được áp
    dụng để giải quyết tranh chấp



    Đại sự ký
    - Trước thời kỳ thuộc địa
    - Thời kỳ xâm chiếm thuộc địa của Pháp cho tới
    cuối chiến tranh thế giới thứ hai
    - Thời ký sau chiến tranh thế giới thứ hai

    WWW.SEASFOUNDATION.ORG

    - Chương II _________________________________ 53
    VIỆC THỤ ĐẮC DANH NGHĨA BAN ĐẦU
     Các quy phạm của luật pháp quốc tế về thụ đắc
    lãnh thổ cho đến nửa cuối của thế kỷ XIX
    - Tính vật chất của các sữ việc
    - Yếu tố chủ tâm


    Hiểu biết hay phát hiện
    Tình hình hai quần đảo trước thế kỷ XVIII
    - Các tài liệu do người Trung Quốc đưa ra
    - Các tài liệu do người Việt Nam đưa ra



    Việc khẳng định chủ quyền (thế kỷ XVIII-XIX)
    - Các tài liệu Việt Nam thế kỷ XVIII và XIX
    - Việc hình thành một quyền đối với các đảo và
    phạm vi của nó
    - Sự thể hiện có thể có của các quyền mang tính
    cạnh tranh

    QUỸ NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

    - Chương III ________________________________ 83
    SỰ TIẾN TRIỂN TIẾP THEO CỦA DANH
    NGHĨA



    3

    WWW.SEASFOUNDATION.ORG

    - Chương IV ________________________________ 136
    CÁC KẾT LUẬN VÀ CÁC CƠ SỞ GIẢI QUYẾT
    TRANH CHẤP

    Hiệp ước Pháp – Trung, ngày 26-6-1887
    Luật áp dụng trong thời kỳ sau 1884
    - Các quy tắc liên quan tới chủ quyền trên một
    lãnh thổ cuối thế kỷ XIX và sau đó
    - Khái niệm về thừa kế nhà nước hay chính phủ và
    các hậu quả của nó
    - Nguyên tắc cấm thụ đắc lãnh thổ bằng vũ lực
    - Khái niệm thời điểm kết tinh tranh chấp



    Thực chất các quyền đối với các quần đảo
    - Trường hợp quần đảo Hoàng Sa
    - Trường hợp quần đảo Trường Sa



    Các triển vọng giải quyết

    - Thư mục _____________________________________ 145
    - Các phụ lục ___________________________________ 158



    Số phận các quần đảo trong thời kỳ thuộc địa
    - Từ thời kỳ của thực dân Pháp tại Đông Dương
    cho tới chiến tranh thế giới thứ hai
    - Cuối thời kỳ thuộc địa (sau Chiến tranh thế giới
    thứ hai)



    Thời kỳ sau giai đoạn thuộc địa
    - Thời kỳ đất nước Việt Nam bị chia cắt (19561975)
    - Sự trở lại của một nước Việt Nam thống nhất sau
    chiến thắng năm 1975

    QUỸ NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

    LỜI NHÀ XUẤT BẢN
    Quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường Sa ở Biển
    Đông là lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam. Nhà nước
    Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử đã chiếm hữu và thực
    thi chủ quyền đối với hai quần đảo này. Việc chiếm hữu
    và thực thi chủ quyền này là thực sự, liên tục và hoà
    bình; phù hợp với luật pháp và thực tiễn quốc tế; được
    nhiều quốc gia, tổ chức và học giả nổi tiếng trên thế giới
    thừa nhận, ủng hộ.
    Một trong những học giả nổi tiếng, bà Monique
    Chemillier Gendreau, giáo sư công pháp và khoa học
    chính trị ở trường đại học Paris- VII – Denis Diderot,
    nguyên Chủ tịch hội luật gia dân chủ Pháp, hiện là Chủ
    tịch Hội Luật gia châu Âu, đã viết cuốn sách nhan đề:
    “Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa”.
    Cuốn sách đã được nhà xuất bản L'Harmattan Paris
    (Pháp) công bố vào tháng 3-1996. Cuốn sách là một công
    trình nghiên cứu khoa học nghiêm túc và độc lập của
    một học giả nước ngoài. Trong đó, dưới góc độ luật gia
    quốc tế, tác giả đã phân tích lập luận của các bên liên
    quan đến cuộc tranh chấp hai quần đảo và đưa ra những
    giải pháp cho vấn đề tranh chấp phức tạp này dựa vào cơ
    chế giải quyềt tranh chấp luật quốc tế và đặc biệt là Công
    ước của Liên hợp quốc về luật biển năm 1982.

    4

    WWW.SEASFOUNDATION.ORG

    Để giúp bạn đọc có thêm tài liệu tìm hiểu về hai quần
    đảo Hoàng Sa và Trường Sa, được sự cộng tác nhiệt tình
    của Ban Biên giới của Chính phủ, Nhà xuất bản Chính trị
    quốc gia trân trọng giới thiệu bản dịch tiếng Việt cuốn:
    Chủ quyền trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
    Bản dịch đã cố gắng chuyển dịch một cách chính xác ý
    kiến, lập luận của tác giả: những chỗ cần chú thích theo
    sự giải thích của người dịch, người dịch cũng đã ghi chú
    để bạn đọc không nhầm lẫn với chú thích của tác giả
    cuốn sách.
    Người dịch và Nhà xuất bản đã làm việc hết sức
    nghiêm túc và cẩn thận nhưng chắc chắn sẽ không tránh
    khỏi còn có những thiếu sót, rất mong bạn đọc góp ý kiến
    để đi đến một bản dịch hoàn hảo hơn.
    Tháng 11 năm 1997
    NHÀ XUẤT BẢN CHÍNH TRỊ QUỐC GIA

    QUỸ NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

    LỜI NÓI ĐẦU
    Không gian biển ở Đông Nam châu Á, do Trung Quốc
    và đảo Hải Nam bao bọc ở phía Bắc, Việt Nam ở phía
    Tây, Malaixia và Brunây ở phía Nam, Philippin ở phía
    Đông và Đài Loan ở Đông Bắc, được các nhà địa lý gọi
    theo truyền thống là biển Nam Trung Hoa, ngày nay
    người Việt Nam gọi là Biển Đông, có một số quần đảo
    cằn cỗi nằm rải rác.
    Trong số đó, hai quần đảo Hoàng Sa (Paracels) ở phía
    Bắc và Trường Sa (Spratleys) ở phía Nam hiện nay chế độ
    pháp lý chưa được xác định rõ, vì nhiều nước đang tranh
    chấp chủ quyền đối với chúng 1.
    Nhưng ở đây liệu có chất liệu cho một cuốn sách
    không? Phải chăng những đột biến địa chất làm lộ ra trên
    mặt nước các hạt bụi thể rắn này, không chỉ làm khuấy
    đảo sự bình yên của môi trường lỏng, dựng đứng lên
    những hiểm họa cho các nhà hàng hải? Hẳn là khi thay
    đổi tỷ lệ giữa đất và nước, chúng đóng một vai trò trong
    việc hình thành các hiện tượng khí tượng đặc thù trong
    vùng nhiệt đới này và là những vị trí ưu tiên quan trắc
    việc hình thành các cơn bão.

    1

    . Xem bản đồ Phụ lục 1.

    5

    WWW.SEASFOUNDATION.ORG

    Trên thực tế, các thuỷ thủ quan tâm tới hai quần đảo
    này để tìm cách tránh chúng; các nhà khí tượng suy
    ngẫm về tác động của chúng trong các hiện tượng nhiễu
    loạn lớn của trời và biển, người ta hiểu được điều đó.
    Nhưng sự quan tâm của các luật gia tới các hòn đảo chỉ
    có chuột, rùa biển và các cơn bão, nơi một phần trong
    năm nóng cháy da cháy thịt, chỉ có thể hiểu được nếu ta
    nêu được cái giá chiến lược và kinh tế phi thường của các
    vùng đất này trong địa lý chính trị mới đây nhất.
    Được các nhà hàng hải đường dài biết đến từ lâu đời
    vì họ thường tìm cách tránh chúng, để không bị nguy
    hiểm, được thăm viếng vài tháng trong năm bởi các thuỷ
    thủ tài giỏi và các ngư dân của những lục địa kế cận tới
    đây trú ngụ để đánh cá và thu lượm theo mùa, các nơi
    không người ở này trước thế kỷ XX không khơi dậy bất
    kỳ sự thèm muốn nào khác ngoài tham vọng của các
    hoàng đế An Nam, những người đã tổ chức một cách
    hợp lý việc đánh cá và thu lượm hoá vật từ các tàu đắm ở
    đây.
    Những gì thu lượm tại Hoàng Sa được miêu tả trong
    các biên niên sử, có hệ thống và chính xác hơn so với
    Trường Sa, và nó chưa bao giờ gây ra những cạnh tranh
    có tính chinh phục. Như vậy, do không có tranh chấp,
    vấn đề chủ quyền trên các đảo nhỏ này không phải là
    một vấn đề cho tới đầu thế kỷ XX.

    QUỸ NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

    6

    WWW.SEASFOUNDATION.ORG

    Những đảo lộn do chế độ thực dân Pháp ở Đông
    Dương gây ra trong vùng, rồi cuộc chiến tranh thế giới
    thứ hai kể cả ở châu Á, hai cuộc chiến tranh ở Việt Nam
    và cuộc Cách mạng Trung Quốc không thể không gây
    nên sự quan tâm tới các vùng đất nổi này.

    dập tắt của Trung Quốc trong khu vực, nhưng cũng cho
    thấy cả sự bền bỉ của Việt Nam trong việc nhắc lại một
    danh nghĩa tiền thuộc địa, và quyết tâm của các bên tham
    gia khác muốn có mặt vào thời điểm giải quyết vấn đề
    này, nhưng trong lúc này thời điểm đó còn bị đẩy lui.

    Thực dân Pháp đã lên tiếng muộn nhưng dứt khoát,
    nhất là khi Nhật Bản sắp bước vào chiến tranh và dự tính
    chiếm miền này làm điểm tựa. Mưu toan của Nhật Bản
    làm phát sinh những yêu sách đầu tiên của Trung Quốc
    vào thế kỷ XX cũng như hành động chiếm hữu của Pháp,
    đã tắt ngấm cùng thất bại của họ trong chiến tranh,
    nhưng đã để lại đằng sau nó những thèm muốn nhiều
    bề.

    Việc cai trị của các chúa An Nam trên các đảo đã bị
    gián đoạn vào giữa thế kỷ XIX khi nước Pháp nhảy vào
    cuộc. Pháp chỉ quan tâm đến các đảo nhỏ và tìm hiểu về
    các quyền trước đây một cách muộn màng. Sự im lặng
    của Pháp đã có lợi cho việc thể hiện yêu sách của Trung
    Quốc. Hoàn cảnh sẽ cho phép họ chuyển sang hành
    động.

    Nước Việt Nam phi thực dân hoá, một thời gian dài bị
    thương tổn và suy yếu, không có khả năng ngăn chặn các
    cuộc chiếm hữu khác, mặc dù không bao giờ ngừng đòi
    lại các quyền cũ của mình.
    Việc chiếm hữu thô bạo nhất là của Trung Quốc.
    Được tiến hành theo hai giai đoạn đối với Hoàng Sa,
    ngày nay nó thể hiện như một việc đã rồi mặc dù lúc nào
    cũng bị tranh cãi. Với Trường Sa, nó đã được phát động
    năm 1988, nhưng trước đó đã có những nước khác tranh
    chấp với Việt Nam về quần đảo rộng lớn này. Các sự
    kiện cho thấy một cách hùng hồn tham vọng không thể

    Năm 1956, nửa phía Đông quần đảo Hoàng Sa bị
    người Trung Quốc chiếm đóng, có thể nói là lét lút nhân
    lúc quân đội viễn chinh Pháp rút khỏi khu vực, Hải quân
    Nam Việt Nam lúc này còn giữ phần phía Tây. Nhưng gã
    khổng lồ Trung Quốc, trong lịch sử nhiều thế kỷ của
    mình đã xen kẽ các thời kỳ bành trướng ra biển và co
    cụm về lục địa. Rõ ràng là các tham vọng trên biển của
    họ, nguôi đi trong suốt thế kỷ XIX và vào đầu thế kỷ XX,
    ngày nay đã bước vào một thời kỳ tích cực mới. Năm
    1970, vào lúc chiến tranh của Mỹ chống Việt Nam đến
    giai đoạn tột đỉnh, Hải quân của Quân Giải phóng nhân
    dân Trung Hoa đã tiến hành một số hoạt động trên nhóm
    Amphitrite (An Vĩnh), bộ phận phía Đông quần đảo

    QUỸ NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

    Hoàng Sa, nhưng một cách ít kín đáo hơn so với các lần
    trước. Các cơ sở hạ tầng quân sự đã được xây cất vào
    năm 1971. Trên đảo Phú Lâm đã đào thêm một cảng mới.
    Đó là bước mở đầu cho việc bành trướng sự kiểm soát
    của Trung Quốc trong Biển Đông. Vào tháng 1 năm 1974,
    một hạm đội gồm 8 tàu chiến Trung Quốc mở cuộc chiến
    chống các tàu Nam Việt Nam và sau một cuộc hải chiến
    ngắn và dữ dội, đã chiếm nhóm phía Tây quần đảo
    Hoàng Sa. Toàn bộ quần đảo lúc này rơi vào tay Trung
    Quốc. Việc kiểm soát lãnh thổ của Trung Quốc đã dịch
    chuyển khoảng 250 km về phía Nam.
    Kế hoạch đã rõ và các hoàn cảnh đã được khai thác
    khôn khéo. Hà Nội lúc đó có một kẻ thù trực diện là Hoa
    Kỳ và hai đồng minh mà họ phải giữ một thế cân bằng
    không ổn định là Trung Quốc và Liên Xô. Nhưng, một
    mặt Bắc Kinh đã bắt đầu từ năm 1972 một việc xích lại
    gần Hoa Kỳ ngay trong khi nước này đang tăng cường
    ném bom Việt Nam, mặt khác các quan hệ giữa
    Matxcơva và Bắc Kinh không ngừng xấu đi. Do đó, sự
    ủng hộ của Trung Quốc cho người “em nhỏ” là Việt Nam
    đang oằn mình dưới bom đạn đã trải qua các cuộc khủng
    hoảng và đầy ẩn ý. Ý tưởng chắc chắn khiến nhà cầm
    quyền Trung Quốc băn khoăn nhiều là một chiến thắng
    của Hà Nội dẫn họ đến việc thay thế quân đội Sài Gòn
    trên các đảo này, trong khi đó sự có mặt của Hải quân Xô
    Viết đang không ngừng phát triển ở Thái Bình Dương có

    7

    WWW.SEASFOUNDATION.ORG

    thể sẽ nhanh chóng đưa đến sự có mặt của Liên Xô ở
    quần đảo Hoàng Sa, và gây cho Trung Quốc sự lo ngại bị
    bao vây 1.
    Đầu năm 1974, trong các lo ngại đó, chưa có gì xảy ra.
    Đối thủ duy nhất trên các đảo đó là Chính phủ Nam Việt
    Nam. Hoa Kỳ sẽ không bảo vệ họ trên điểm này. Chính
    phủ Trung Quốc đã chiếm được một vị trí địa - chiến
    lược quan yếu mà chẳng tốn kém bao nhiêu qua các sự
    kiện vũ trang tháng 1 năm 1974. Bị đánh bại về quân sự
    trên một mặt trận cục bộ, trong khi một thất bại mang
    tính chất khác đang xuất hiện ở phía trước, Chính phủ
    Nam Việt Nam phản đối cũng như Chính phủ Cách
    mạng lâm thời. Còn Chính phủ Hà Nội thì bị đặt trong
    một tình thế khó xử nhất mà người ta có thể tưởng tượng
    được. Hà Nội không thể trực diện chống lại việc đã rồi
    đó, một việc được thực hiện chống lại một chính phủ
    khác của Việt Nam và liên quan đến phần phía Nam mà
    Hà Nội không có thẩm quyền. Phải tìm cách không tán
    thành. Điều đó tạo ra một lập truờng không rõ ràng mà
    Trung Quốc bây giờ còn tìm cách tận dụng. Việc chiếm
    đóng hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa của Trung Quốc tiến
    hành năm 1974 được tiếp tục trong những năm sau bằng

    . Vế các sự kiện này, xem Mawyn S. Samuels: Tranh chấp biển Nam
    Hải, New York và London, Methuen, 1982; John W. Garver: Trung
    Quốc náo động Nam Hải: Tương tác giữa các quyền lợi quan liêu và quốc
    gia, The China Quarterly, 12-1992, số 132, tr. 999
    1

    QUỸ NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

    việc tăng cường đáng kể các cơ sở hạ tầng, việc quản lý
    hành chính và việc đưa dân đến ở. Công việc này tăng
    nhanh từ năm 1977-1978: xây dựng một sân bay ở Phú
    Lâm và lập một đường bay với các chuyến bay hai tuần
    một lần từ năm 1980, năm 1979 mở rộng cảng ở Phú Lâm
    xây dựng từ 1971, năm 1982 cấp kinh phí xây dựng các
    hải đăng, bố trí một cảng mới ở đảo Tri Tôn, cực Nam
    của quần đảo Hoàng Sa.
    Nhưng đối với Trung Quốc, nuốt trôi các đảo đó chỉ
    là món khai vị. Bên cạnh các tham vọng địa chiến lược và
    chính trị còn có các thèm muốn kinh tế. Xa hơn về phía
    Nam, một quần đảo khác rộng hơn rất nhiều và còn ít
    hiếu khách hơn, nằm rải rác trên mặt đại dương. Cũng
    vào lúc này, luật quốc tế đã xác định rằng các quyền trên
    mặt đất đem lại các quyền trên tài nguyên biển tiếp giáp
    với các bờ biển. Đánh cá và dầu khí là hai chuyện được
    thua có tính quyết định đối với một nước lớn phải nuôi,
    đồng thời phát triển một số dân chiếm gần một phần tư
    dân số toàn thế giới.
    Trong lịch sử Trung Quốc không có một căn cứ nào
    chứng minh một chính phủ của nước này cho đến giữa
    thế kỷ XX đã từng tiến hành hành động quyền lực đối
    với quần đảo Trường Sa, những mảnh đất nằm rải rác
    trên 160.000 km2 trên bề mặt đại dương. Nhưng điều đó
    có hề gì! Trung Quốc đã viện dẫn những quyền lịch sử
    nhắm chuẩn bị cơ sở cho việc tiến hành kiểm soát tại chỗ.

    8

    WWW.SEASFOUNDATION.ORG

    Tuy nhiên, so với Hoàng Sa thì Trường Sa xa lục địa
    Trung Quốc hơn nhiều nên không thể nuốt trôi dễ dàng.
    Các đảo đó đã từng nằm trong khu vực quản lý trên biển
    của các hoàng đế An Nam trước khi thực dân đến, và
    thực dân Pháp đã không biết đến nhiều hơn và sớm hơn
    so với Hoàng Sa. Nhưng việc Trung Quốc hoàn toàn
    không có yêu sách gì đã khiến cho Chính phủ Pháp tự do
    hành động hơn trong việc chiếm đóng chúng và khẳng
    định trước thế giới chủ quyền của mình ngay khi điều đó
    trở thành một cuộc tranh chấp trước sự đe dọa ngày càng
    lớn của Nhật Bản. Sau chiến tranh thế giới thứ hai, mọi
    dục vọng đồng loạt thức dậy. Trung Hoa dân quốc,
    Philippin và gần đây hơn là Brunây và Malaixia bám lấy
    nước này một đảo san hô, nước kia một mỏm đá hay một
    bãi cát để khẳng định các quyền mà mỗi nước nới rộng ra
    là có giá trị đối với toàn bộ quần đảo.
    Ứng cử viên nghiêm chỉnh nhất giành danh nghĩa
    trên các đảo này về cả căn cứ lịch sử cổ xưa của họ lẫn cơ
    chế pháp lý về thừa kế các quyền đã được thực dân
    khẳng định, đúng là Việt Nam. Nam Việt Nam đến năm
    1975 rồi nước Việt Nam tái thống nhất sau đó đã xác
    định sự có mặt rộng rãi nhất có thể có bằng cách chiếm
    đóng một số đảonhỏ. Từ năm 1988, những cuộc tranh
    chấp giữa các nước nhỏ và trung bình ở Đông Nam Á,
    những nước không có những hạm đội quốc gia mạnh, đã
    hoàn toàn bị rối loạn vì việc Trung quốc cụ thể hoá các

    QUỸ NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

    tham vọng của họ cho đến lúc đó mới chỉ bằng lời nói.
    Giống như một con mèo lớn vươn mình trong cuộc tranh
    chấp giữa những con chuột nhắt, vào thời điểm nói trên
    Trung Quốc đã bắt đầu thực hiện phần thứ hai kế hoạch
    của họ, phần khó nhất, là kiểm soát toàn bộ vùng biển
    nằm ở sườn phía Nam của mình.
    Chính phủ Bắc Kinh yêu sách một đường phân định
    ranh giới đến sát các vùng đất đối diện, biến biển được
    các nhà địa lý gọi là Nam Hải thành một vũng hồ quốc
    gia mặc dù đó là một vùng qua đó luân chuyển 70%
    thương mại hàng hải của Nhật Bản. Điều đó trái ngược
    không những với Công ước của Liên hợp quốc về Luật
    biển ngày 10-12-1982 quy định việc vạch các ranh giới
    phân định trên cơ sở một giải pháp công bằng, mà cả đối
    với các văn bản của Trung Quốc về chiều rộng lãnh hải 1.
    Cũng không sao. Trung Quốc là nước ký Công ước năm
    1982 nhưng cho đến nay vẫn hoãn việc phê chuẩn 2.

    . Luật về lãnh hải và vùng tiếp giáp của Cộng hoà nhân dân Trung
    Hoa, do Uỷ ban Thường vụ Đại hội đồng nhân dân thông qua ngày
    25-2-1992, ấn định lãnh hải là 12 hải lý và nói rõ điều đó áp dụng cho
    phần lục địa của Trung Quốc và cũng cho các đảo trong đó có các
    đảo Hoàng Sa và Trường Sa.
    1

    2

    . Trung Quốc đã phê chuẩn Công ước ngày 15-5-1996 (ND)

    9

    WWW.SEASFOUNDATION.ORG

    Họ đã cho lưu hành một bản đồ trong đó nêu rất rõ
    yêu sách của Trung Quốc3.
    Cụ thể, việc chuyển sang hành động đã xảy ra vào
    tháng 3 năm 1988. Trong một cuộc đụng độ hải quân
    ngắn và ác liệt giữa các tàu Trung Quốc và các tàu của
    Việt Nam đang làm nhiệm vụ tiếp tế các đội quân đồn
    trú đóng trên một số đảo, Việt Nam tổn thất hàng chục
    người. Một lần nữa việc tiến bước của Trung Quốc đã
    được tính toán cẩn thận. Chiến tranh lạnh kết thúc là một
    việc đã rồi; cả Hoa Kỳ lẫn Liên Xô, kết hợp với việc giảm
    chi phí quân sự của họ, đã bắt đầu giảm sự hiện diện ở
    Thái Bình Dương.
    Lo ngại về các cuộc xung đột tiềm ẩn, Chính phủ
    Manila đã tìm cách để Hoa Kỳ đưa quần đảo Trường Sa
    vào khu vực phòng thủ chung, nhưng vô hiệu vì Hoa Kỳ
    hoàn toàn không còn bận tâm đến việc dính líu vào một
    cuộc xung đột thuộc loại này bằng cách áp dụng một
    hiệp ước phòng thủ 4.
    Vì không có chiếc “ô” đa phương nào đến lấp chỗ
    trống do việc chấm dứt sự cân bằng giữa hai siêu cường
    3

    . Xem các bản đồ số 2 và 2 bis.

    . Michael Bennett: Cộng hoà nhân dân Trung Hoa và việc áp dụng luật
    quốc tế trong cuộc tranh chấp về quần đảo Trường Sa, Stanford Journal of
    International Là, 1991-1992, t. 28, tr. 425.
    4

    QUỸ NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

    để lại, Trung Quốc càng cảm thấy dễ dàng làm chủ vùng
    đất mà cuộc chiến tranh lạnh đã có một tiếng vang muộn
    màng giữ các nước nhỏ của khu vực lúc đó còn đối đầu
    nhau giữa các nước thuộc ASEAN và những nước thuộc
    Đông Dương cộng sản trước kia.
    Từ sau sự kiện đó, các yêu sách của Trung Quốc đã bị
    kìm lại trong hành động (nhưng không về các ý đồ). Mặc
    dù từ đó Trung Quốc trong mọi dịp, lặp đi lặp lại rằng
    Trường Sa là “biên giới chiến lược” của tỉnh Hải Nam và
    tổ chức đều đặn các cuộc thao diễn tại vùng này, các
    nhân tố địa lý và tài chính đã trì hoãn việc thực hiện các
    tham vọng của họ. Vì “biên giới chiến lược” đã vươn ra
    cách đất Trung Quốc trên 1.000 km, mà bản thân đất đó
    là đảo Hải Nam chứ không phải lục địa. Giao thông hàng
    hải ở đó rất nguy hiểm và quân đội Trung Quốc vẫn còn
    thiếu các phương tiện không quân và hải quân đảm bảo
    kiểm soát khoảng cách đó. Việc gia tăng rất nhiều ngân
    sách quân sự của Trung Quốc phục vụ hải quân từ năm
    1989 cho thấy khá rõ ý đồ của họ trong tương lai là gì 1.
    Đối với một nước hết sức năng động, nhưng bị ảnh
    hưởng bởi những sự mất cân đối, đó là một nỗ lực đầu tư
    mang lại lợi nhuận không chắc chắn và chậm. Đưa chiến
    tranh đến vùng Trường Sa, bản thân nó là một cuộc
    phiêu lưu và những lợi ích rút ra từ các tài nguyên liên

    1

    . Michael Bennett, như trên, tr. 428.

    10

    WWW.SEASFOUNDATION.ORG

    quan đến các thế hệ mai sau nhiều hơn là các thế hệ hiện
    nay đang nắm quyền lãnh đạo.
    Hiện tại, dù còn cần phải hạn chế, các tham vọng của
    Trung Quốc không vì thế mà không bộc lộ một cách rõ
    ràng. Với danh nghĩa xây dựng một trạm quan trắc đại
    dương, ngay từ năm 1987, Trung Quốc đã tiến hành các
    hoạt động thanh tra trong vùng. Đầu tiên là đá Chữ Thập
    (Fiery Cross) bị chiếm đóng, sau đó là một số đảo hay đá
    khác (đá Thám Hiểm, đá Châu Viên, đá Đông, đá Gạc
    Ma, đá Xubi, đá Lendao, đá Gaven. Đá Gaven – tên
    Trung Quốc là Nam Xun Jiao. Tác giả viết Nai Ioujiao –
    đá Nam - ND).
    Những công trình quan trọng đã được tiến hành ở đó
    bắt đầu từ những vụ nổ để đào kênh trong vành đai san
    hô và những công trình đắp đê để lập các hồ nước mặn.
    Sự thể hiện các tham vọng đó của Trung Quốc trên
    quần đảo ảnh hưởng đến lập trường của các nước khác.
    Tầm quan trọng chính trị của việc Trung Quốc tiến lên
    phía trước trong khi Hoa Kỳ và Nga giảm mạnh cam kết
    đối với khu vực, được đo bằng việc các nước Đông Nam
    Á nhanh chóng xích lại gần nhau. Việc xiết chặt các quan
    hệ thông qua nền kinh tế thị trường được bổ sung bằng
    một sự gắn bó tốt hơn trong khu vực với việc Việt Nam
    gia nhập ASEAN. Hậu quả quân sự là tăng cường sự có
    mặt của các nước trong quần đảo. Mỗi nước củng cố

    QUỸ NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

    trước hết cơ sở của việc chiếm đóng của mình bằng việc
    đổ bê tông, theo nghĩa đen, các nền có thể có, và bố trí ở
    đó những đội quân đồn trú quan trọng hơn.
    Xen kẽ với các cuộc thao diễn quân sự của các bên là
    việc tiến hành các hoạt động quan trắc khoa học, nghiên
    cứu địa chất và thuỷ văn.
    Năm 1992, Trung Quốc chiếm thêm một số đá phụ
    sau khi đã lợi dụng những cơ hội ngoại giao để khẳng
    định với các nước láng giềng rằng giải pháp tốt nhất là
    khai thác chung kèm theo việc đông cứng vấn đề chủ
    quyền. Về phần mình, Việt Nam mở rộng các vị trí, trong
    khi từng nước, theo khả năng của mình, tìm cách khẳng
    định các quyền và tăng cường khả năng quân sự của họ.
    Theo tinh thần đó vào tháng 2 năm 1995, Philippin đã
    phản đối việc Trung Quốc chiếm đóng một đảo nhỏ mà
    Chính phủ Manila yêu sách 1. Có lẽ Trung Quốc đã tiến
    hành xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng ở đó, điều
    mà họ không phủ nhận.
    Như vậy, các đảo nhỏ nói trên mà quảng đại quần
    chúng không biết đến, chỉ sau vài năm đã trở thành một
    vùng bùng nổ tiềm ẩn, nơi dần dần tích tụ mọi thành

    . Xem báo Le Monde ngày 11-1-1995 và Tạp chí Kinh tế Viễn Đông
    (FEER) ngày 23-2-1995.
    1

    11

    WWW.SEASFOUNDATION.ORG

    phần cho một cuộc xung đột quan trọng. Đúng là chuyện
    được thua là rất lớn, nhất là đối với Trường Sa.
    Ba kiểu tham vọng hay tranh chấp được thể hiện về
    mặt pháp lý trong vấn đề phân định ranh giới biển và
    trong vấn đề danh nghĩa chủ quyền được coi là điều tiên
    quyết. Sự thèm khát tài nguyên, các cuộc cạnh tranh
    chiến lược và việc làm chủ đối với việc bảo vệ môi
    trường nằm ở trung tâm các cuộc tranh chấp đó.
    Việc kiểm soát đánh cá, hay nói đúng hơn việc đánh
    cá không kiểm soát, là yếu tố chủ yếu đầu tiên. Điều đó
    rất dễ hiểu nếu ta xem xét sức ép của dân số lên các vùng
    duyển hải của cả Trung Quốc, lẫn Việt Nam và Philippin
    (không kể Indonexia đứng ở phía sau).
    Việc khai thác tài nguyên hải sản có tính quyết định
    đầu tiên. Nước nào cũng đòi các quyền đặc quyền và chỉ
    lo bảo vệ các loài nhằm hạn chế việc đánh bắt của các
    nước láng giềng.
    Nhưng tham vọng còn dữ dội hơn đối với tài nguyên
    dầu khí. Theo các dữ kiện do Trung Quốc đưa ra, vùng
    Trường Sa có tiềm năng 25 tỷ mét khối khí tự nhiên và
    105 tỷ thùng dầu lửa, thêm vào đó là 370.000 tấn phôtpho
    2
    . Nằm hơi chếch về phía Bắc Trường Sa, khu vực các bãi
    . John W. Garver: Trung Quốc náo động Nam Hải: tương tác giữa các
    quyền lợi quan liêu và quốc gia, tr. 1015. Về các quyền lợi dầu khí

    2

    QUỸ NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

    12

    WWW.SEASFOUNDATION.ORG

    ngầm James Shoal sẽ là một mỏ có trữ lượng 91 tỷ thùng
    dầu lửa.

    của Hoa Kỳ trong khu vực, vì từ nay các lợi ích lớn của
    tư nhân Mỹ được đặt dưới chiếc ô của Trung Quốc.

    Chúng ta hiểu được niềm hy vọng mà một tài nguyên
    như vậy tạo ra đối với các nhà lãnh đạo có trách nhiệm
    về sự phát triển của các dân tộc trong khu vực.

    Lập trường của Trung Quốc có tính nhất quán theo
    một lôgich thiên triều khu vực. Bắc Kinh khẳng định là,
    vì các lý do lịch sử, 80% biển Nam Trung Hoa thuộc chủ
    quyền Trung Quốc. Và đặc nhượng của Trung Quốc cho
    Crestone nhằm mục đích cụ thể hoá sự khẳng định đó.

    Tiếp theo tiếng gót giày của Trung Quốc năm 1988, có
    một đặc nhượng năm 1992, theo đó Chính phủ Bắc Kinh
    thông qua Công ty dầu lửa ngoài khơi quốc gia Trung
    Quốc trao cho Công ty dầu lửa Mỹ Crestone (Denver Colorado) một giấy phép thăm dò trên một diện tích
    9.700 hải lý vuông tại vùng Vạn An Bắc nằm giữa quần
    đảo Trường Sa và bờ biển Việt Nam.
    Đó là đặc nhượng đầu tiên được trao ở vùng đó, các
    cuộc đàm phán về vấn đề này đi kèm với một bài diễn
    văn của Trung Quốc theo đó Trung Quốc sẽ huy động
    mọi phương tiện quân sự cần thiết để bảo vệ các hoạt
    động do công ty này tiến hành. Người ta đã hiểu, làm
    như vậy để làm yên lòng những người lãnh đạo Crestone
    thì ít mà để gửi một lời cảnh cáo về phía Việt Nam thì
    nhiều. Các nhà lãnh đạo của nước này đúng là có lý do
    để lo ngại rằng Trung Quốc, qua bước tiến táo tợn này, sẽ
    giành được sự trung lập (thậm chí có thể là tích cực nữa?)
    Trung Quốc, xem Lỗ Chí Kiên: Lập trường của Trung Quốc đối với các
    lãnh thổ tranh chấp. Trường hợp các đảo biển Nam Trung Hoa, London
    Rontledge, 1989, tr. 125 và tiếp.

    Cách bờ biển Việt Nam hơn 250 km một chút, và cách
    đảo Hải Nam về phía Nam trên 1.000 km, vùng đặc
    nhượng mà người Trung Quốc gọi là Vạn An Bắc – 21, và
    người Việt Nam gọi là khu vực các bãi Phúc Tần, Phúc
    Nguyên, Tư Chính, Huyền Trân, nằm trên thềm lục địa
    mà Việt Nam yêu sách. Nhưng Việt Nam, không để cho
    sự khiêu khích của Trung Quốc tiến hành mà không có
    phản ứng, trong cùng thời gian đó đã khôi phục lại một
    thoả thuận ký với Mobil năm 1975 và thành lập một Tổ
    hợp (Consortium) thăm dò bao gồm nhiều công ty của
    Nhật Bản, Một vùng có tên là Thanh Long nằm ở phía
    Tây vùng đặc nhượng của Crestone được thăm dò với
    danh nghĩa đó 1.
    Gần đây, chính phủ Manila cũng gây ra những sự lo
    ngại mới và các lời phản đối khi Bộ Năng lượng của họ
    . Xem. F.E.E.R, ngày 30-6-1994: Courrier international ngày 25 đến
    31-8-1994. số 199, Le Monde ngày 22-4-1994.

    1

    QUỸ NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

    13

    WWW.SEASFOUNDATION.ORG

    của Đài Loan và lấy đó làm lý do để mở rộng toàn bộ yêu
    sách của mình.

    trao cho Vaalco Energy (Hoa Kỳ) một giấy phép thăm dò
    dầu lửa xung quanh các đảo Thị Tứ, Bình Nguyên, Vĩnh
    Viễn, bộ phận phía Đông của Trường Sa. Một số người
    coi đó như một bước đi sai lầm 1 của nền ngoại giao
    Philippin vì nó trái với lập trường theo đó Manila ủng hộ
    việc thăm dò và khai thác chung tài nguyên dầu khí của
    khu vực, sự kiện này làm sáng tỏ tính bùng nổ của tình
    hình.

    Nhưng người ta tự hỏi, trước bao nhiêu rối loạn đó lại
    chẳng có một chút ánh sáng nào từ pháp luật đến hay
    sao?

    Năm 1994, chỉ có vài tạp chí thạo tin mới ghi nhận
    được một sự kiện có nhiều ý nghĩa đã xảy ra trong vùng
    các đặc nhượng dầu khí ở Tây Trường Sa. Tháng 4 năm
    đó, hải quân Việt Nam hình như đã ra lệnh cho một tầu
    Trung Quốc (làm nhiệm vụ nghiên cứu) ra khỏi vùng
    biển Việt Nam và hình như đơn vị Trung Quốc này (có lẽ
    vì có các nhà nghiên cứu nước ngoài có mặt trên tàu) đã
    chấp hành2.

    Vì hiện nay, nhất là đối với Trường Sa, các căng thẳng
    có liên quan trực tiếp tới tài nguyên nghề cá hay dầu mỏ
    nên một giải pháp nhất thiết phải đi qua việc phân định
    ranh giới biển trên toàn bộ vùng này được tất cả các bên
    chấp nhận.

    Cũng như vậy, vẫn còn nằm trong bí mật một số sự
    kiện xảy ra năm 1991 giữa Philippin và Đài Loan về tranh
    chấp đánh cá trong quần đảo, vì Đài Loan giữ một đảo
    nhỏ, đảo quan trọng nhất. Nhưng Cộng hoà nhân dân
    Trung Hoa trong trường hợp này, quên nỗi oán thù đối
    với nước Cộng hoà Trung Hoa “kia”, đã ủng hộ yêu sách

    1

    . Trong F.E.E.R ngày 30-6-1994.

    2

    . Trong F.E.E. R ngày 13-10-1994.

    Thực ra, tình hình càng dễ bùng nổ khi các mặt pháp
    lý có tính chất làm dịu tranh chấp vẫn còn đó từ lâu mà
    không có giải pháp nào.

    Tuy nhiên, các tiêu chuẩn pháp lý liên quan đến các
    việc phân định ranh giới biển vẫn còn thiếu chính xác rất
    nhiều, cũng như còn thiếu hẳn cơ quan có quyền bắt
    buộc áp dụng các tiêu chuẩn đó. Mỗi nước, sau khi vạch
    các đường cơ sở thẳng để sửa lại hình dáng quá phức tạp
    của bờ biển nước mình, có các quyền có tính chất riêng
    biệt đối với lãnh hải và vùng tiếp giáp của mình với
    chiều rộng mỗi vùng là 12 hải lý, và đối với một vùng
    đặc quyền về kinh tế và một thềm lục địa mở ra khơi tới
    200 hải lý hay đôi khi xa hơn nếu địa mạo các đáy biển
    cho thấy rằng nền đáy biển vượt quá chiều rộng đó.

    QUỸ NGHIÊN CỨU BIỂN ĐÔNG

    Tuỳ theo các nước ở vị trí đối diện nhau hay bên cạnh
    nhau trên cùng lục địa, các nước đó phải cùng nhau tiến
    hành một sự phân định ranh giới đối diện hay bên cạnh.

    Một khó khăn đầu tiên là ở tính không xác định
    tương đối còn khá lớn về tiêu chuẩn luật thực định để
    phân chia các khoảng không gian giữa các nước có bờ
    biển tiếp giáp nhau hoặc đối diện nhau. Sau thời kỳ đầu,
    thời kỳ các Công ước Geneve 1958, người ta cho là có thể
    xem phương pháp cách đều là một quy tắc chung
    (phương pháp cách đều là vạch đường trung tuyến mà
    tất cả các điểm cách đều các điểm gần nhất của các
    đường cơ sở từ đó đo chiều rộng lãnh hải của từng nước
    trong hai nước), cho dù thừa nhận rằng ở nơi này hay nơi
    khác các hoàn cảnh đặc biệt có thể sửa đổi đường đó. Hội
    nghị lần thứ ba của Liên hợp quốc về Luật biển (19741982) đã là dịp để làm nổi bật đặc điểm cực kỳ khác nhau
    của các vị trí địa lý và sự cần thiết từ bỏ nguyên tắc hình
    học với những kết quả nhiều khi không công bằng.
    Do đó, Công ước hiện nay là luật thực định, chẳng
    phải chỉ giữ lại đường trung tuyến cho lãnh hải có chiều
    rộng giới hạn đến 12 hải lý (điều 15) hay sao. Đối với các
    vùng biển khác cần phân chia, nó chỉ nói rằng các nước
    phải đi đến một giải pháp công bằng bằng con đuờng
    thoả thuận (điều 74 và 83). Khuôn khổ đó vì quá mơ hồ

    14

    WWW.SEASFOUNDATION.ORG

    nên có vẻ trống rỗng, dần dần trở nên chính xác hơn qua
    các giải pháp bằng án lệ hay trọng tài hay qua thực tiễn
    điều ước của các nước. Hàng loạt các tiêu chuẩn được
    phối hợp, cân nhắc để đi đến việc vạch một đường nếu
    được các nước trong cuộc thừa nhận sẽ là ranh giới
    quyền lực của họ và sẽ chỉ ra các tài nguyên mà họ có thể
    sử dụng và những tài nguyên mà họ không có quyền tài
    phán1.
    Dù sao, vẫn tồn tại nhiều điều không chắc chắn. Khó
    khăn lớn nhất bao giờ cũng do sự có mặt của các đảo.
    Một khi quy chế các đảo được biết rõ theo quan điểm chủ
    quyền, thì chỉ còn khó khăn đối với việc phân định ranh
    giới. Lúc đó, tuỳ theo khoảng cách giữa đảo hay các đảo
    đó đối với lãnh thổ của nước mà nó phụ thuộc, phải xem
    xét trước hết xem đó có phải là những đảo làm thay đổi
    việc vạch các đường cơ sở thẳng bằng cách sáp nhập vào
    lãnh thổ đó hay không. Nếu khoảng cách của chúng đến
    lục địa không cho phép làm việc đó, chúng sẽ được
    hư...
     
    Gửi ý kiến

    DANH NGÔN VỀ SÁCH

    Một cuốn sách hay trên giá sách là một người bạn, dù quay lưng lại nhưng vẫn là bạn tốt”. Vậy tại sao chúng ta lại quay lưng với người bạn tốt?Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    TẾT NGOÀI ĐẢO XA


    SỰ TÍCH CÂY NÊU NGÀY TẾT

    TẬP SAN MỪNG ĐẢNG MỪNG XUÂN

    Một thư viện tốt là trái tim của nhà trường – nơi nuôi dưỡng trí tuệ và tâm hồn học sinh

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC MAI CHÂU TỈNH PHÚ THỌ !

    “Sách mang trong mình sứ mệnh đưa độc giả đi du lịch khắp muôn nơi mà không cần di chuyển một bước.” – Jumpa Lahiri