Danh sĩ kim cổ Đông tây

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đàm Thị Hằng
Ngày gửi: 14h:23' 30-01-2026
Dung lượng: 593.5 KB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Đàm Thị Hằng
Ngày gửi: 14h:23' 30-01-2026
Dung lượng: 593.5 KB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
DANH SĨ KIM CỔ THẾ GIỚI
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
MỤC LỤC
CÙNG BẠN ĐỌC
1. NGUỒN GỐC TẤU HÀI ?
2. CÂU ĐỐ HÀI KỊCH ?
3. HÀI KỊCH CÓ TỪ BAO GIỜ ?
4. ĐIỆU “NHỊ HOÀNG” GỐC Ở ĐÂU ?
5. VÌ SAO “LÊ VIÊN” GỌI LÀ HÍ KHÚC ?
6. NGUỒN GỐC TÔ KỊCH ?
7. NHÂN VẬT TÔ TAM CÓ THẬT KHÔNG ?
8. VỞ “HÁN CUNG THU” MUỐN NÓI GÌ ?
9. “MỤC DƯƠNG KÝ” CÓ PHẢI LÀ TÁC PHẨM CỦA MÃ CHÍ
VIỄN HAY KHÔNG ?
10. BI KỊCH CỔ CÓ TỪ THỜI NÀO ?
11. TẠP KỊCH ĐỜI NGUYÊN VÌ SAO TIÊU VONG ?
12. HÍ KHÚC (Ca kịch vui) CỔ ĐẠI CÓ TỪ ĐỜI NÀO ?
13. NGUỒN GỐC ĐIỆU CAO ?
14. KỊCH BẢN “MINH PHƯỢNG KÝ” CỦA AI ?
15. “MẪU ĐƠN ĐÌNH” RA ĐỜI Ở ĐÂU ?
16. TÁC GIẢ “CA ĐẠI KHIẾU” LÀ AI ?
17. “HOÀNG MAI HÍ” RA ĐỜI THỜI NÀO ? Ở ĐÂU ?
18. “NGUYÊN KHÚC TỨ ĐẠI GIA” ?
19 . CÔN XOANG RA ĐỜI VÀO LÚC NÀO ?
20. “THIẾU NỮ LY HỒN” ?
21. DANH HỌA “PHÚ XUÂN SƠN CƯ ĐỒ” ?
22. “NGUYÊN TỨ GIA” LÀ AI ?
23. DANH HỌA “THANH MINH THƯỢNG HÀ ĐỒ” ?
24. HỘI HỌA TRUNG QUỐC ?
25. “QUẮC QUỐC PHU NHÂN DU XUÂN ĐỒ” ?
26. “NGŨ NGƯU ĐỒ” ?
27. AI LÀ TỔ SƯ TRANH MẶC TRÚC ?
28. “DƯƠNG CHÂU BÁT QUÁI” LÀ TÁM NGƯỜI NÀO ?
29. TÁC GIẢ “CỔ ĐẾ VƯƠNG ĐỒ” ?
30. TÀO THÁO “TRÓC ĐAO” ?
31. “TRÂM HOA SĨ NỮ ĐỒ” ?
32. ÂM GIAI NGŨ THANH ?
33. BÍCH HỌA “KHÁCH SỨ ĐỒ” ?
34. “KIM SƠN THẮNG TÍCH ĐỒ” ?
35. “ĐÔN HOÀNG KHÚC PHỔ” KỲ BÍ ?
36. ĐÀN CẦM CÓ VÀO THỜI NÀO ?
37. KHÚC NHẠC “QUẢNG LĂNG TÁN” ?
38. AI VIẾT KHÚC NHẠC “THẬP DIỆN MAI PHỤC” ?
39. VŨ KHÚC “NGHÊ THƯỜNG” LÀ GÌ ?
40. “DƯƠNG QUAN TAM ĐIỆP” ?
41 . GỐC “NHỊ HỒ” Ở ĐÂU ?
42. LAI LỊCH VỀ TRÚC ĐỊCH ?
43. CA XƯỚNG CÓ TỪ THỜI NÀO?
44. ÂM NHẠC CẢI CÁCH ĐỜI THƯỜNG ?
45. DỰC DƯƠNG XOANG GỐC Ở ĐÂU ?
46. “NHỊ TUYỀN ÁNH NGUYỆT” ?
47. VŨ ĐIỆU TRUNG QUỐC ?
48. ĐÀN TRANH LÀ CỦA MÔNG ĐIỀM CHĂNG ?
49. THƯ PHÁP LAN ĐÌNH TỰ ?
50. “NAN ĐẮC HỒ ĐỒ” ?
51. TIỂU TRIỆN CỦA LÝ TƯ CHĂNG ?
52. BIA VŨ BI DO AI KHẮC ?
53. BIA ĐÁ “XUẤT SƯ BIỂU” ?
54. NÉT CHỮ BÍ ẨN ?
55. CON DẤU CÓ VÀO THỜI NÀO ?
56. HANG KINH THẠCH THÁI SƠN ?
57. ĐẠI GIA THƯ PHÁP CÓ CHƠI DẠI KHÔNG ?
58. PICASSO MỘT ĐỜI TÀI HOA ?
59. NHẠC SƯ TCHAIKOVSKI CHẾT BỆNH ?
60. ĐẠO DIỄN WILLIAM TAYLER ?
61. THI HÀO BYRON PHIÊU BẠT THA HƯƠNG
62. CÁI CHẾT BÍ ẨN CỦA NỮ THẦN SẾCH XY ?
63. VAN GOGH TỰ SÁT VÌ ĐÂU ?
64. VỢ KỊCH SĨ MOLIÈRE ?
65. BẠN CÓ YÊU NHẠC BRAHMS ?
66. BẢN GIAO HƯỞNG TỬ VONG ?
67. “NGƯỜI YÊU VĨNH CỬU” CỦA BEETHOVEN ?
68. CÁI CHẾT CỦA ĐIỆN ẢNH GIA PAUL BOURNE ?
69. NHẠC SƯ HANDEL ?
70. CÁI CHẾT CỦA THIÊN TÀI ÂM NHẠC ?
71. NHẠC SĨ ĐỘC THÂN ?
72. CÁI CHẾT CỦA NỮ DANH CA ?
73. THẦN TƯỢNG ĐIỆN ẢNH VÀ BỆNH AIDS ?
74. BÊU XẤU HAY SỰ THỰC ?
75. ĐƯỜNG CÙNG CỦA MỘT MINH TINH ĐIỆN ẢNH ?
76. JOHN LENNON CÓ BỊ MƯU SÁT ?
77. “MẶT TRỜI CỦA TÔI” ?
78. NHẠC SĨ LASSUS ?
79. HAI THIÊN TÀI MỘT THỜI ĐẠI ?
80. “HOÀNG GIA RICHATD IV” ?
81. “NỤ CƯỜI NÀNG MONA LISA”
82. MAJA LÀ AI ?
83. “NÀNG KIỀU NỮ FORNARINA” ?
84. BỨC “TIN MỪNG” THẬT HAY GIẢ ?
85. TƯỢNG CỔ HY LẠP ?
86. “AJAX” NGƯỜI HÙNG HY LẠP ?
87. KIẾN TRÚC VÒM ?
88. “THẦN MẶT TRỜI” RHODES ?
89. TƯỢNG ĐÁ TRÊN “ĐẢO PÂQUES” ?
90. HỌA SĨ QUÁI KIỆT ?
91. CÂU ĐỐ VỀ “CÁI CHẾT CỦA MARAT” ?
92. “NGƯỜI ĐÀN BÀ LẠ MẶT” ?
93. HÌNH DẠNG TRÊN ĐẤT NOSCA ?
94. BÍCH HỌA Ở ĐIỆN HORAFSAR ?
95. TRANH ĐÁ CỔ Ở CHÂU PHI ?
96. “BÍCH HỌA SA MẠC” ?
97. “IVAN LÔI ĐẾ GIẾT CON” ?
98. MOZART VÀ “KHÚC OAN HỒN” ?
99. BẢN GIAO HƯỞNG SỐ MƯỜI ?
100. ĐẠO ISLAM CẤM VẼ NGƯỜI ?
CÙNG BẠN ĐỌC
Cuốn sách này tập hợp một trăm vấn đề nan giải, và đề ra các quan điểm
“giải thích có lý do” theo tầm mức của những người có uy tín trong từng
môn nghệ thuật, âm nhạc, hội họa, sân khấu trên thế giới… một cách lý thú,
vừa trao dồi thêm kiến thức, lại vừa học tập cách suy luận trái ngược! Nếu
bạn có thể tự rút ra một quan điểm trung dung giữa các ý kiến đối lập thì vui
biết bao !
Có nhiều câu đố nan giải giới thuật học “nghĩ nát óc” mà chưa ổn thỏa, bạn
có thể đứng ra hoà giải, mở thêm ra quan điểm mới nào chăng?
Trong sách còn nhiều tư liệu thú vị, có nhân vật đối đáp… hoặc đào sâu vấn
đề, hay ít ra cũng mang lại sự bổ ích, thoải mái, vui vẻ cho độc giả…
Ban biên soạn
1. NGUỒN GỐC TẤU HÀI ?
Tương thanh là một kiểu tấu hài của Trung Quốc, là hình thức nghệ thuật
được mọi người yêu thích nhất. Nó là một nghệ thuật đấu khẩu, dường như
cãi nhau nhưng lý lẽ thật khôi hài.
Cái vui thích nó mang lại cho người ta thật là sảng khoái mà các hình thức
nghệ thuật khác khó mà so sánh, rất nhiều người thích môn tấu hài này.
Khi chúng ta bị tấu hài chọc cho cười ra nước mắt hoặc “cười đến vỡ
bụng” vì không ai nhịn cười được! Có ai nghĩ đến nghệ thuật “cười” ra ấy
đời như thế nào không ?
Nghệ thuật tấu hài ở Trung Quốc có thể nói là lịch sử lâu đời, những tư liệu
để tra cứu quả thật không tìm ra! Nhiều học giả để tâm nghiên cứu, tìm tòi
nguồn ngốc của nó đã bắt đầu hình thành nhận thức từng bước một :
Một quan điểm cho rằng, tấu hài hiện giờ là do “Tham quân hí” đời Đường
mà phát huy ra. “Tham quân hí” do hai người biễu diễn, một người gọi là
“tham quân” trong vai ngu si; một người là “thương cốt” (một loại chim cổ
màu xanh) trong vai phản ứng nhanh nhạy. Hai người biểu diễn, một tung
một hứng gây cười, một trang nghiêm, một khôi hài thật là thú vị.
Có người nói tấu hài ở triều đại Khang Hy là hình thái đầu tiên của tấu hài
bây giờ. “Khôi hài” thời đó, kỳ thực là khẩu kỹ (võ miệng). Khi biễu diễn
một người hoặc nhiều người có thể dùng tiếng chó, gà, ếch nhái kêu réo làm
mọi người phục lăn và vui cười thoả thích.
Cũng có người nói, tấu hài ban đầu kỳ thực là chỉ vè “tướng mạo”, “nghĩa
lý” của “âm thanh”. Dựa theo tên mà định nghĩa, là tướng mạo và âm thanh
kết hợp làm một, dùng âm thanh và tình cảm để thố lộ, dùng cử chỉ và giọng
điệu đả kích những cái “dởm đời” dùng trào lộng và khôi hài khiến mọi
người vui thích, quên “nỗi sầu đời”.
Nguồn gốc của tấu hài còn nhiều cách nhìn khác, tất cả đều vào sự phân tích
chủ quan, rất khó kết luận.Việc sau này có thể thống nhất cách nhìn hay
không còn “hạ hồi phân giải”, ta phải tạm gác lại…
2. CÂU ĐỐ HÀI KỊCH ?
Những tên gọi như' “SINH” “ĐÁN” “TỊNH” “MẠT” “SỬU” có nghĩa gì ?
Trong hài kịch truyền thống Trung Quốc, căn cứ vào loại hình nhân vật
đóng, ta chia diễn diên vào các vai “Sinh” (kép)”, “Đán” (đào), “Tịnh”(gan
dạ, dữ tợn), “mạt”(vai đệm), “Sửu” (vai hề) v.v… Những vai ấy tại sao gọi
như thế? Chúng có ý nghĩa gì? Về câu hỏi đó một số danh nhân hài kịch đời
Minh đã từng thảo luận sôi nổi, tốn nhiều thời giờ, bút mực…
Nhà hài kịch Chu Quyền trong Thái hòa chính âm phổ đã giải thích như : Cô
gái múa hát trên sân khấu gọi là “đán”. Chữ đán có bộ khuyển là con cái loài
vượn … mà gọi “đán”, là sai.
Chu Kỳ đời Minh trong Kịch thuyết cho rằng: không chỉ “đán” là vượn cái,
các vai khác cũng đều là thú vật. Như “sinh” là “tinh” (chữ Sinh có bộ
khuyển) tức là đười ươi. “Tịnh” là “ninh” (chữ ninh có bộ khuyển) là con
báo, một sừng năm đuôi, lại có người nói là giống như con cáo có cánh.
“Sửu” là “nứu” (chữ sữu có bộ khuyển) như chó, tính kiêu. “Gọi người đóng
trò giống như bốn loài giống kia!”
Nhưng, Từ Vị người nghiên cứu sâu về hài kịch trong Nam từ tự lục, nói:
“Sinh là tên gọi người nam, trong kịch sử sân khấu có Đổng sinh, Lỗ sinh.
Diễn viên nữ đời Tống ra sân khấu, đều bỏ nhạc khí vào giỏ, gánh (chữ đảm
ghép với chữ đán với bộ thủ) ra, gọi là hoa đán, nay ở Thiểm Tây vẫn còn
gọi như vậy, sau bớt chữ đi gọi là “đán”. Sửu thì lấy mực bôi mặt, hình dung
xấu xí (sửu) nay bớt chữ đi gọi là sửu. “Tịnh”, chữ này không thể giải nghĩa,
ý tôi đó là hai chữ “tham quân” đời xưa hợp lại rồi viết sai đi. Mạt là vai
không quan trọng của vài diễn viên phụ, cho nên ở vào vị trí cuối cùng là
“mạt hạng”.
Quan điểm của Từ Vị được nhiều nhà nghiên cứu đời sau tán đồng, đương
nhiên cũng có người bác bỏ, không biết câu đố về tên các vai đến bao giờ
mới được làm sáng tỏ!
3. HÀI KỊCH CÓ TỪ BAO GIỜ ?
Trong đời sống thường có vui buồn, khóc cười hỉ nộ ai lạc, trong hài khúc
đương nhiên cũng hình thành bi kịch, hài kịch, chính kịch ….
Hài kịch Trung Quốc, có người bàn nó có từ thời thượng cổ. Người nêu quan
điểm này cho rằng, khi người ta vui mừng thắng lợi, hoặc đuổi quỷ trừ tà, do
một vai khoác da gấu, một tay cầm mộc, một tay múa giáo, những người còn
lại hoặc đóng vai mười một ác thần, hoặc vai anh hùng đuổi quỷ. Có nghi
thức reo hò, nhảy nhót, hát lớn tế ca, được gọi là “Na tế” (lễ tống tiễn quan
ôn). Thứ “Na tế” này cũng được coi là mầm sống của hài kịch trung quốc
Có người cho rằng, hài kịch là từ “bài ưu” vào thế kỷ thứ 8 trước công
nguyên, lại biến dẫn cho đến nay.
Cái gọi là “bài ưu”, là chỉ những diễn viên biểu diễn hoạt kê, chuyên mua
vui cho quốc vương quí tộc. Theo “Sử ký, Hoạt kê liệt truyện” ghi chép, “Ưu
Mạnh y quan” là giai đoạn đầu của hài kịch Trung Quốc.
Nhưng một số học giả chuyên nghiệp, cho rằng sự xuất hiện sớm nhất của
hài kịch Trung Quốc bắt đầu thời Tống –Nguyên, từ thế kỷ 17 đến 14.
Căn cứ chính của quan điểm này là, “bài ưu” trước công nguyên và “na tế”
có từ thời thượng cổ, bất luận là nội dung hay hình thức, đều không được là
hài kịch, mà chỉ có đến thời kỳ Tống – Nguyên. Hiện tượng hài kịch mới
được coi là dùng hình thức hài kịch mô tả đời sống, hình thức biểu diễn ngụ
ý trang nghiêm trong hài, mới là hài kịch đích thực.
Hài kịch thời Tống – Nguyên tương đối nhiều, trong đó không thiếu tiết mục
ưu tú.Thí dụ như U khuê ký, Ngọc trâm ký, Cứu phong trần v.v… đều dùng
cách biểu diễn trào lộng, khôi hài, châm biếm đã kích mạnh mẽ bọn xấu xa
hèn hạ, dùng thủ pháp pha trương, tô điểm, khen ngợi và ca ngợi nhân vật
chính diện.
Rất nhiều vở hài kịch còn hình thành một kiểu biểu diễn cố định, cái đó có
thể là đặc trưng của hài kịch chăng ?
Thế thì, hài kịch thực ra, xuất hiện từ bao giờ ?
Cho đến nay, vẫn chưa có giả thiết ổn thoả !
4. ĐIỆU “NHỊ HOÀNG” GỐC Ở
ĐÂU ?
Trong các vở “Kinh kịch”, có một điệu chính được gọi là “Nhị hoàng”. Đó là
điều mà những người yêu thích Kinh kịch đều biết rõ.
Còn như điệu “Nhị hoàng”, tên gọi chính xác và nguồn gốc của nó thế nào,
trước sau vẫn là nghi vấn trong việc nghiên cứu điệu hát hài khúc, đã được
tranh luận không ngớt.
Một số chuyên gia hài khúc thời trước ở Trung Quốc, phần lớn đều cho rằng
điệu “Nhị hoàng” bắt đầu ở Hoàng Lăng, Hoàng Cương Hồ Bắc, là điệu hát
từ địa danh biến hoá ra.
Nhưng Phạm Tử Đông trong cuốn Nhạc học thông luận của ông, lại cho
rằng: “Nhị hoàng” bắt nguồn từ Thiểm Tây, với âm nhạc Lê viên đời Đường
không phải không có quan hệ. Trong sách viết, âm nhạc Lê viên có hai giọng
hát chính, một loại khảng khái hùng hồn, một loại uyển chuyển du dương.
Cái trước gốc từ Tần xoang, cái sau từ một người tên Hoàng Phan Xước, và
gồm thâu cả âm nhạc Đạo gia thổ “Hoàng quan” (mũ vàng), cho nên gọi là
“Nhị hoàng”.
Lại có một quan điểm khác nữa…
Theo Mã Ngạn Tường khảo chứng, từ năm 1970 về trước, Bắc kinh đã có
Kinh xoang và Tây Tần xoang thịnh hành. Sau đó “Huy ban” (ban hát ở An
Huy) vào kinh, muốn phân biệt với Kinh xoang, Tần xoang, cho nên đem bộ
phận đặc sắc nhất trong điệu Huy, gọi là “Nhị hoàng”. Còn như lấy tên “Nhị
hoàng” là trong số nhạc khí diễn tấu, hải địch (sáo biển) và tiêu nột (còi) đều
có hai cái lưỡi gà (hoàng). Diễn Thành Hồ cầm thác xoang, là việc từ đó đến
sau …
Cũng có người nêu ra cách nhìn không hoàn toàn giống với quan điểm Mã
Ngạn Tường, bởi vì từ kịch thoại của Lý Điều Nguyên khắc in từ năm Càn
Long thứ 49 (1784) đã ghi chép rõ ràng : “Hồ cầm xoang khởi từ Giang tả
(mé tả sông Trường Giang), đời nay âm điệu ấy thịnh hành, chuyên lấy Hồ
cầm làm tiết tấu… lại có tên là Nhị hoàng xoang”. Giang tả tức là tỉnh
Quảng Tây hiện nay.
Nhưng, cái đó vẫn không vạch rõ ra được vì sao có cái tên gọi “Nhị hoàng”?
Như vậy, tuy các nhà bình luận đều có lý lẽ, nhưng vẫn chưa đủ sức thuyết
phục mọi người. Thân thế của “Nhị hoàng” vẫn còn được nghiên cứu để làm
sáng tỏ…!
5. VÌ SAO “LÊ VIÊN” GỌI LÀ HÍ
KHÚC ?
Từ sau thời Sơ Đường, “Lê viên” đã kết mối duyên gắn bó với nghệ thuật hí
khúc Trung Quốc, người ta gọi nó là ban hát mà kịch đoàn là “Lê viên”, gọi
diễn viên là “Lê viên đệ tử” (con em vườn lê); những gia đình đời đời theo
đuổi nghệ thuật hí khúc là “Lê viên thế gia”; gọi giới hí khúc là “Lê viên
giới”. “Lê viên” và “Hí uyển” xét về chủ nghĩa thì không liên can với nhau,
vậy chúng có tương quan với nhau thế nào? Trước nay đã có nhiều thuyết…
Thông thường người ta cho rằng, “Lê viên” là một địa danh ở Trường An
đời Đường, sau vì Đường Huyền Tông dạy diễn xuất cho nghệ nhân ở đó,
liên kết nó với nghệ thuật hí khúc, thành một tên gọi của ban hát. Quan điểm
này có sử liệu chứng minh rõ ràng.
Bộ “Cựu Đường thư –Trung Tông bản kỷ” có nhắc đến, trong hoàng cung có
một “Lê viên”, có quảng trường có thể bơi qua sông, đá cầu…
“Cựu Đường thư – Huyền Tông bản kỷ” chép: Huyền Tông rảnh việc nước
đã dạy con em nhạc công Thái thường diễn tri, sáo đàn đệm theo gọi là
Hoàng đế đệ tử, lại gọi là Lê viên đệ tử. Đặt ở trong viện thuộc Lê viên, gần
cấm uyển.
Một thuyết khác trình bày về mối quan hệ giữa “Lê viên” và Hí uyển. Có ghi
trong “Ngô quân Lảo Lang miếu chi ký” của Tôn Tinh Diễn, nhà kinh tế đời
Thanh : “Tương truyền đời Đường Huyền Tông, con của Cảnh Lệnh Công là
Quang, giỏi múa điệu “Nghê thường vũ khúc”, được vua cho giữ họ Lý, nuôi
ở trong cung, để dạy cho con em. Quang tính thích lê, cho nên trồng lê khắp
nơi, nhân đó gọi là “Lê viên”. Đời sau tôn là tổ sư của giới học nhạc.
Những thuyết kể trên, cái nào đúng cái nào sai, còn chờ một bước thăm dò
nghiên cứu có chứng cứ.
6. NGUỒN GỐC TÔ KỊCH ?
Tô kịch là một thứ âm nhạc thuyết xướng (hát xen nói như cải lương ở Việt
Nam) lưu truyền trong dân gian Tô kịch thời kỳ đầu gọi là “Than hoàng”.
Tô kịch có từ lúc nào? Đối với vấn đề này, mỗi người nói một khác.
Có người nói Tô kịch xuất hiện vào thời Văn Thiện Tướng cuối triều Tống.
Thời đó đã có Than hoàng Hàng Châu lưu hành ở Giang Chiết. Sau đó, khu
vực đó nối nhau xuất hiện phong trào say mê Than Hoàng, mà tên cũng phân
biệt theo khu vực, gọi là Than hoàng Ninh Ba,Than hoàng Vô Tích, Than
hoàng Phố Đông v.v … bộ môn “hát nói” Than hoàng này, là nét ban đầu
của Tô kịch.
Có người cho rằng Tô kịch bắt đầu có từ niên hiệu Càn Long, cái đó có
khoảng cách với đời Tống rất xa.
Thời Càn Long, có Càn Long thọ khúc, Nghê thường tục phổ v.v… đã
phổ biến từ điệu Than Hoàng. Sau đó một số lớn vở Than Hoàng như suyết
bạch cừu, văn tinh bản truyền kỳ đã từng nổi tiếng ở Giang Chiết.
Nhưng có một số người lại cho rằng, Tô kịch không nảy sinh vào đời Tống,
cũng không vào niên hiệu Càn Long cách nay 150 năm.
Học giả thời truớc là Từ Phó Lâm trong một cuốn chuyên luận của ông về
Than Hoàng nói : “Thời kỳ toàn thịnh của triều Thanh rất thịnh hành Côn hí,
không biết hoàng đế nào chết, mà trong thời kỳ quốc tang ba năm, giới hí
khúc bị cấm đánh thanh la. Do đó, ở Tô Châu quê hương của Côn hí có một
người họ Tiền nghĩ ra biện pháp đem côn khúc bỏ thanh la, trống và sáo, mà
toàn dùng đàn dây để hoà với giọng hát, đem Côn khúc đổi thành cách hát
đơn giản mà gọi là Than Hoàng.”
Vị nhân sĩ họ Tiền này, có người nói ông là nghệ nhân Tiền Khôn Nguyên,
cũng có người nói là cống sĩ Tiền Minh Thụ, là ai thì không ai chịu giả thiết
của ai !
Còn Tô kịch có bắt đầu vào lúc nào ? Điều đó vẫn còn là một ẩn số!
7. NHÂN VẬT TÔ TAM CÓ THẬT
KHÔNG ?
Tô Tam nói ở đây là vai nữ phạm nhân bị xét xử trong vở Kinh kịch Ngọc
Đường Xuân.
Về nữ phạm Tô Tam, sở dĩ mọi nhà đều biết từ xưa đến nay, nghe người ta
nói là có liên quan đến việc có người thật, việc thật.
Sau mười năm loạn lạc không lâu, có tin từ Sơn Tây nói là huyện Hồng
Đồng đã tu bổ lại nhà giam Hổ Đầu năm xưa đây là nhà lao từng giam cầm
Tô Tam, đã thành nơi người du lịch, tham quan đến xem.
Học giả Vương Diệu Linh trong cuốn Lịch sử đại vũ đài của ông kể: “Có
người tìm ra Vương Tam công tử (là Vương Kim Long) và Ngọc Đường
Xuân là người có thật. Lại có người còn được xem bản án của Ngọc Đường
Xuân ở huyện Hồng Đồng, tỉnh Sơn Tây.
Trước mười năm loạn lạc, Tỉnh uỷ Sơn Tây Đảng Cộng sản Trung Quốc
từng được cấp trên chỉ thị tìm kiếm bản án của Tô Tam. Theo người giữ
quán văn sử tỉnh Sơn Tây, Thượng Đức nhớ lại thì ông từng đem việc này
hỏi nhân viên quản lý hồ sơ bản án, người này nói trong kho hồ sơ nha
huyện Hồng Đồng, không có bản án của Tô Tam.
Kho hồ sơ bản án đời Minh không có bản án của Tô Tam, nên cũng không
thể đoán chắc có người ấy hay không, vì lịch sử lâu đời qua nhiều năm chiến
loạn, có nhiều bản án thất lạc. Những “Hồng Đồng huyện chí” ghi chép lịch
sử; cũng không có bất kỳ ghi chép nào về vụ án Tô Tam và cũng không có
chữ nào nhắc đến bản án đó. Điều đó không thể không khiến người ta nghi
ngờ nhân vật Tô Tam là do người viết kịch dựng lên…
Căn cứ vào sử liệu ghi chép thì giữa triều đình nhà Minh, đã từng có vụ án
rất giống với chuyện Tô Tam trong vở Ngọc Đường Xuân, mà họ tên nhân
vật trong đó không giống nhau.
Ngọc Đường Xuân có phải là do đó diễn biến mà ra hay không?
Những chuyện được mọi người thích thú trong truyền thuyết dân gian, hoặc
trong sáng tác văn học được đời lưu truyền mà tồn tại lâu dài xem ra không
mấy quan hệ với việc có người thật việc thật hay không? Bởi nữ phạm nhân
Tô Tam được truyền tụng rộng rãi Tô Tam có đúng là người như vậy hay
không, đến nay vẫn chưa sáng tỏ.
8. VỞ “HÁN CUNG THU” MUỐN
NÓI GÌ ?
Vở kịch “Hán cung thu” là một tác phẩm hàng đầu trong số Cống Hồ được
người đời yêu thích, thương cảm.
Chiêu Quân ra quan ải, lấy người Hung Nô, có thể gọi là một hành động hy
sinh cao cả trong lịch sử Trung Quốc. Văn sĩ đời Nguyên, Mã Chí Viễn dùng
hí kịch “Hán cung thu” để dựng lại giai đoạn lịch sử đặc biệt đó.
Như vậy chủ đề trong “Hán cung thu” phản ánh tư tưởng gì? Những người
từng xem vở này phần lớn đều có cách nhìn của mình.
Có người nói “Hán cung thu” nhằm mô tả câu chuyện tình giữa Hán Nguyên
đế và mỹ nhân Vương Chiêu Quân.
Hán Nguyên đế và Vương Chiêu Quân yêu nhau, có thể thấy “Hán cung
thu” mang biết bao ý tình sâu đậm?
Có nhà bình luận nói rằng : “Hán cung thu” không tả nhiều về cái tình của
Hán Nguyên đế và Vương Chiêu Quân, mà nhằm đề cao việc Chiêu Quân
đứng ra, đem tấm thân yếu đuối chống trời, dùng sắc đẹp nghiêng thành ra
để cứu nước, hết sức ca ngợi nàng cứu dân trong cơn nguy biến, đặc biệt mô
tả rất kỹ về việc Chiêu Quân quên mình vì nước. Nhìn từ điểm đó thì vở
“Hán cung thu” diễn đạt rất công phu nêu gương hy sinh cao cả của mỹ
nhân.
Cũng có người cho rằng cái mà “Hán cung thu” diễn đạt, là sự mâu thuẫn
nội bộ của tập đoàn thống trị và xung đột của hai dân tộc Hồ Hán (Hung
Nô).
Thời Hung Nô xâm lấn Trung Hoa, là lúc trong cung điện nhà Hán sống dâm
loạn, thế nước suy đồi, “Hán cung thu” đánh trúng vào thói tệ thời đó.Vậy
người dựng vở “Hán cung thu” nhấn mạnh vào điểm nào? Có lẽ là tất cả
những gì chúng ta đã xem qua… Văn chương thi phú kịch nghệ đều gặp
nhau ở tưởng xây dựng xã hội lành mạnh, tẩy chay những gì chống lại tình
nước, lòng dân!
9. “MỤC DƯƠNG KÝ” CÓ PHẢI
LÀ TÁC PHẨM CỦA MÃ CHÍ
VIỄN HAY KHÔNG ?
Mã Chí Viễn là tác gia tạp kịch xuất sắc, là nhà soạn tán khúc tự thành một
phái… rất nổi tiếng đầu đời Nguyên. Tiểu lệnh “Thu tứ” trong “Việt điệu –
Thiên tranh sa” của ông được khen gợi là “Tổ của tứ thu”; tạp kịch “Hán
cung thu” được coi là bi kịch cổ điển ưu tú nhưng mối quan hệ với Nam hí
(tuồng Nam) đến nay vẫn chưa làm rõ đựơc. Nam hí “Mục Dương Ký”
(Chuyện chăn dê) có phải là tác phẩm của Mã Chí Viễn hay không đến nay
vẫn là một lời hỏi chưa có lời giải đáp.
“Mục dương ký” lấy đề tài từ Sử ký –Tô Vũ truyện : Vở tuồng này kể chuyện
Tô Vũ người thời Tây Hán phụng mệnh đến Hung Nô bị bắt, sau bị dời đến
Bắc hải (nay là hồ Bai – Can) chăn dê. Ca tụng Tô Vũ bất chấp sự uy hiếp dụ
dỗ của quí tộc Hung Nô, khát uống tuyết, đói nuốt nệm lông, mười chín năm
giữ bền cờ tiết nhà Hán không thay đổi tinh thần bất khuất. Đối với Lý Lăng
bất đắc dĩ phải đầu hàng, vừa phê phán vừa thương xót, cái đó có chỗ gần
gũi với tình cảm dân tộc biểu lộ ra trong “Hán cung thu”.
Nhà lý luận hí khúc cuối đời Minh Lã Thiên Thành trong Khúc lã nói:
Mã Chí Viễn có kịch bản “Mục Dương Ký”. Từ cú của kịch bản cổ kính chất
phác khiến người thích thú, nhớ đến khí tiết của Tô Tử Khanh (Tô Vũ). Ban
hát diễn vở tuồng này, tính sân khấu rất mạnh.
Đến đời Thanh, những cuốn như “Cổ nhân truyền kỳ tổng mục”, “Truyền ký
hối khảo tiêu mục” v.v… đều qui “Mục Dương Ký” vào dưới tên Mã Chí
Viễn. Trương Đại Phục trong “Hàn sơn đường tân đính cửu cung thập tam
nhiếp Nam khúc phổ” nói, không những “Mục Dương Ký” là tác phẩm của
Mã Chí Viễn ngay cả “Phong Lưu Lý Miễn tam phu tâm ký” và “Tiêu Thục
Trân tế phần trùng hội nhân duyên ký” cũng là Mã Chí Viễn hợp tác với
người khác hoàn thành.
Nhưng nhà văn học đời Minh Từ Vị, trong “Nam từ tự lục”, đem “Mục
Dương Ký” quy vào “vở cũ đời Tống Nguyên”, không nêu rõ tác giả chứng
tỏ Từ Vị giữ thái độ hoài nghi hoặc phủ định đối với thuyết đó.
Học trò của Từ Vị, Vương Ký Đức trong Khúc tuyến trực tiếp chỉ ra: “Mục
Dương Ký” quê kệch dung tục, quyết không phải là một tác gia tạp kịch nổi
tiếng nào đó viết.
Điều đáng chú ý hơn cả là thuyết về “Mục Dương Ký” xuất từ thủ bút của
Mã Chí Viễn, hơn hai trăm năm sau khi Mã Chí Viễn chết mới xuất hiện.
10. BI KỊCH CỔ CÓ TỪ THỜI
NÀO ?
Nói đến bi kịch cổ điển Trung Quốc, làm ta nhớ ngay đến vở “Đậu Nga oan”
ở đời Nguyên.Vở kịch đã vạch trần hành vi tội ác của giai cấp thống trị áp
bức nhân dân, đã kích nền chính trị thoái nát của xã hội lúc bấy giờ, đó là bi
kịch điển hình xuất sắc thâm trầm nhất trong lịch sử hí khúc Trung Quốc
Vở “Đậu Nga oan” bảy tám trăm năm xưa, chắc chắn là vở bi kịch cổ điển
tương đối sớm. Nhưng nếu bảo bi kịch cổ điển bắt đầu từ vở “Đậu Nga oan”
thì có rất nhiều ý kiến khác nhau.
Có học giả cho rằng, vào thế kỷ thứ 12, theo với hí kịch chính thức hình
thành trên cơ sở Nam hí, tạp kịch Bắc thì bi kịch cổ điển liền theo đó mà nảy
sinh. Trong một số hí kịch nổi tiếng đương thời nhụ vở “Vương Khôi”, Quế
Anh chết cũng không loại bỏ ý định trừng phạt kẽ phụ bạc Vương Khôi ;
trong “Bạch thỏ ký”. Lý Tam Nương rơi lệ tố cáo anh vàchị dâu, “Triệu
Trinh Nữ” đã kích bọn văn nhân vô ơn bạc nghĩa là những vở có sắc thái bi
kịch sâu đậm.
Có chuyên gia học giả đề ra, bi kịch cổ điển Trung Quốc bắt nguồn từ cuối
thế kỷ thứ 6, sang đầu thế kỷ thứ 7.
Lúc bấy giờ, phía Bắc Trung Quốc, lưu hành nội bộ ca vũ kịch có qui mô lớn
“Đạp dao nương”. Bộ ca vũ kịch này ai oán như khóc như than, lời ca của nó
bi hùng rắn rỏi, từ hình thức đến nội dung đều phù hợp với yếu tố bi kịch cần
có.
Bởi vậy có người coi “Đ
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
MỤC LỤC
CÙNG BẠN ĐỌC
1. NGUỒN GỐC TẤU HÀI ?
2. CÂU ĐỐ HÀI KỊCH ?
3. HÀI KỊCH CÓ TỪ BAO GIỜ ?
4. ĐIỆU “NHỊ HOÀNG” GỐC Ở ĐÂU ?
5. VÌ SAO “LÊ VIÊN” GỌI LÀ HÍ KHÚC ?
6. NGUỒN GỐC TÔ KỊCH ?
7. NHÂN VẬT TÔ TAM CÓ THẬT KHÔNG ?
8. VỞ “HÁN CUNG THU” MUỐN NÓI GÌ ?
9. “MỤC DƯƠNG KÝ” CÓ PHẢI LÀ TÁC PHẨM CỦA MÃ CHÍ
VIỄN HAY KHÔNG ?
10. BI KỊCH CỔ CÓ TỪ THỜI NÀO ?
11. TẠP KỊCH ĐỜI NGUYÊN VÌ SAO TIÊU VONG ?
12. HÍ KHÚC (Ca kịch vui) CỔ ĐẠI CÓ TỪ ĐỜI NÀO ?
13. NGUỒN GỐC ĐIỆU CAO ?
14. KỊCH BẢN “MINH PHƯỢNG KÝ” CỦA AI ?
15. “MẪU ĐƠN ĐÌNH” RA ĐỜI Ở ĐÂU ?
16. TÁC GIẢ “CA ĐẠI KHIẾU” LÀ AI ?
17. “HOÀNG MAI HÍ” RA ĐỜI THỜI NÀO ? Ở ĐÂU ?
18. “NGUYÊN KHÚC TỨ ĐẠI GIA” ?
19 . CÔN XOANG RA ĐỜI VÀO LÚC NÀO ?
20. “THIẾU NỮ LY HỒN” ?
21. DANH HỌA “PHÚ XUÂN SƠN CƯ ĐỒ” ?
22. “NGUYÊN TỨ GIA” LÀ AI ?
23. DANH HỌA “THANH MINH THƯỢNG HÀ ĐỒ” ?
24. HỘI HỌA TRUNG QUỐC ?
25. “QUẮC QUỐC PHU NHÂN DU XUÂN ĐỒ” ?
26. “NGŨ NGƯU ĐỒ” ?
27. AI LÀ TỔ SƯ TRANH MẶC TRÚC ?
28. “DƯƠNG CHÂU BÁT QUÁI” LÀ TÁM NGƯỜI NÀO ?
29. TÁC GIẢ “CỔ ĐẾ VƯƠNG ĐỒ” ?
30. TÀO THÁO “TRÓC ĐAO” ?
31. “TRÂM HOA SĨ NỮ ĐỒ” ?
32. ÂM GIAI NGŨ THANH ?
33. BÍCH HỌA “KHÁCH SỨ ĐỒ” ?
34. “KIM SƠN THẮNG TÍCH ĐỒ” ?
35. “ĐÔN HOÀNG KHÚC PHỔ” KỲ BÍ ?
36. ĐÀN CẦM CÓ VÀO THỜI NÀO ?
37. KHÚC NHẠC “QUẢNG LĂNG TÁN” ?
38. AI VIẾT KHÚC NHẠC “THẬP DIỆN MAI PHỤC” ?
39. VŨ KHÚC “NGHÊ THƯỜNG” LÀ GÌ ?
40. “DƯƠNG QUAN TAM ĐIỆP” ?
41 . GỐC “NHỊ HỒ” Ở ĐÂU ?
42. LAI LỊCH VỀ TRÚC ĐỊCH ?
43. CA XƯỚNG CÓ TỪ THỜI NÀO?
44. ÂM NHẠC CẢI CÁCH ĐỜI THƯỜNG ?
45. DỰC DƯƠNG XOANG GỐC Ở ĐÂU ?
46. “NHỊ TUYỀN ÁNH NGUYỆT” ?
47. VŨ ĐIỆU TRUNG QUỐC ?
48. ĐÀN TRANH LÀ CỦA MÔNG ĐIỀM CHĂNG ?
49. THƯ PHÁP LAN ĐÌNH TỰ ?
50. “NAN ĐẮC HỒ ĐỒ” ?
51. TIỂU TRIỆN CỦA LÝ TƯ CHĂNG ?
52. BIA VŨ BI DO AI KHẮC ?
53. BIA ĐÁ “XUẤT SƯ BIỂU” ?
54. NÉT CHỮ BÍ ẨN ?
55. CON DẤU CÓ VÀO THỜI NÀO ?
56. HANG KINH THẠCH THÁI SƠN ?
57. ĐẠI GIA THƯ PHÁP CÓ CHƠI DẠI KHÔNG ?
58. PICASSO MỘT ĐỜI TÀI HOA ?
59. NHẠC SƯ TCHAIKOVSKI CHẾT BỆNH ?
60. ĐẠO DIỄN WILLIAM TAYLER ?
61. THI HÀO BYRON PHIÊU BẠT THA HƯƠNG
62. CÁI CHẾT BÍ ẨN CỦA NỮ THẦN SẾCH XY ?
63. VAN GOGH TỰ SÁT VÌ ĐÂU ?
64. VỢ KỊCH SĨ MOLIÈRE ?
65. BẠN CÓ YÊU NHẠC BRAHMS ?
66. BẢN GIAO HƯỞNG TỬ VONG ?
67. “NGƯỜI YÊU VĨNH CỬU” CỦA BEETHOVEN ?
68. CÁI CHẾT CỦA ĐIỆN ẢNH GIA PAUL BOURNE ?
69. NHẠC SƯ HANDEL ?
70. CÁI CHẾT CỦA THIÊN TÀI ÂM NHẠC ?
71. NHẠC SĨ ĐỘC THÂN ?
72. CÁI CHẾT CỦA NỮ DANH CA ?
73. THẦN TƯỢNG ĐIỆN ẢNH VÀ BỆNH AIDS ?
74. BÊU XẤU HAY SỰ THỰC ?
75. ĐƯỜNG CÙNG CỦA MỘT MINH TINH ĐIỆN ẢNH ?
76. JOHN LENNON CÓ BỊ MƯU SÁT ?
77. “MẶT TRỜI CỦA TÔI” ?
78. NHẠC SĨ LASSUS ?
79. HAI THIÊN TÀI MỘT THỜI ĐẠI ?
80. “HOÀNG GIA RICHATD IV” ?
81. “NỤ CƯỜI NÀNG MONA LISA”
82. MAJA LÀ AI ?
83. “NÀNG KIỀU NỮ FORNARINA” ?
84. BỨC “TIN MỪNG” THẬT HAY GIẢ ?
85. TƯỢNG CỔ HY LẠP ?
86. “AJAX” NGƯỜI HÙNG HY LẠP ?
87. KIẾN TRÚC VÒM ?
88. “THẦN MẶT TRỜI” RHODES ?
89. TƯỢNG ĐÁ TRÊN “ĐẢO PÂQUES” ?
90. HỌA SĨ QUÁI KIỆT ?
91. CÂU ĐỐ VỀ “CÁI CHẾT CỦA MARAT” ?
92. “NGƯỜI ĐÀN BÀ LẠ MẶT” ?
93. HÌNH DẠNG TRÊN ĐẤT NOSCA ?
94. BÍCH HỌA Ở ĐIỆN HORAFSAR ?
95. TRANH ĐÁ CỔ Ở CHÂU PHI ?
96. “BÍCH HỌA SA MẠC” ?
97. “IVAN LÔI ĐẾ GIẾT CON” ?
98. MOZART VÀ “KHÚC OAN HỒN” ?
99. BẢN GIAO HƯỞNG SỐ MƯỜI ?
100. ĐẠO ISLAM CẤM VẼ NGƯỜI ?
CÙNG BẠN ĐỌC
Cuốn sách này tập hợp một trăm vấn đề nan giải, và đề ra các quan điểm
“giải thích có lý do” theo tầm mức của những người có uy tín trong từng
môn nghệ thuật, âm nhạc, hội họa, sân khấu trên thế giới… một cách lý thú,
vừa trao dồi thêm kiến thức, lại vừa học tập cách suy luận trái ngược! Nếu
bạn có thể tự rút ra một quan điểm trung dung giữa các ý kiến đối lập thì vui
biết bao !
Có nhiều câu đố nan giải giới thuật học “nghĩ nát óc” mà chưa ổn thỏa, bạn
có thể đứng ra hoà giải, mở thêm ra quan điểm mới nào chăng?
Trong sách còn nhiều tư liệu thú vị, có nhân vật đối đáp… hoặc đào sâu vấn
đề, hay ít ra cũng mang lại sự bổ ích, thoải mái, vui vẻ cho độc giả…
Ban biên soạn
1. NGUỒN GỐC TẤU HÀI ?
Tương thanh là một kiểu tấu hài của Trung Quốc, là hình thức nghệ thuật
được mọi người yêu thích nhất. Nó là một nghệ thuật đấu khẩu, dường như
cãi nhau nhưng lý lẽ thật khôi hài.
Cái vui thích nó mang lại cho người ta thật là sảng khoái mà các hình thức
nghệ thuật khác khó mà so sánh, rất nhiều người thích môn tấu hài này.
Khi chúng ta bị tấu hài chọc cho cười ra nước mắt hoặc “cười đến vỡ
bụng” vì không ai nhịn cười được! Có ai nghĩ đến nghệ thuật “cười” ra ấy
đời như thế nào không ?
Nghệ thuật tấu hài ở Trung Quốc có thể nói là lịch sử lâu đời, những tư liệu
để tra cứu quả thật không tìm ra! Nhiều học giả để tâm nghiên cứu, tìm tòi
nguồn ngốc của nó đã bắt đầu hình thành nhận thức từng bước một :
Một quan điểm cho rằng, tấu hài hiện giờ là do “Tham quân hí” đời Đường
mà phát huy ra. “Tham quân hí” do hai người biễu diễn, một người gọi là
“tham quân” trong vai ngu si; một người là “thương cốt” (một loại chim cổ
màu xanh) trong vai phản ứng nhanh nhạy. Hai người biểu diễn, một tung
một hứng gây cười, một trang nghiêm, một khôi hài thật là thú vị.
Có người nói tấu hài ở triều đại Khang Hy là hình thái đầu tiên của tấu hài
bây giờ. “Khôi hài” thời đó, kỳ thực là khẩu kỹ (võ miệng). Khi biễu diễn
một người hoặc nhiều người có thể dùng tiếng chó, gà, ếch nhái kêu réo làm
mọi người phục lăn và vui cười thoả thích.
Cũng có người nói, tấu hài ban đầu kỳ thực là chỉ vè “tướng mạo”, “nghĩa
lý” của “âm thanh”. Dựa theo tên mà định nghĩa, là tướng mạo và âm thanh
kết hợp làm một, dùng âm thanh và tình cảm để thố lộ, dùng cử chỉ và giọng
điệu đả kích những cái “dởm đời” dùng trào lộng và khôi hài khiến mọi
người vui thích, quên “nỗi sầu đời”.
Nguồn gốc của tấu hài còn nhiều cách nhìn khác, tất cả đều vào sự phân tích
chủ quan, rất khó kết luận.Việc sau này có thể thống nhất cách nhìn hay
không còn “hạ hồi phân giải”, ta phải tạm gác lại…
2. CÂU ĐỐ HÀI KỊCH ?
Những tên gọi như' “SINH” “ĐÁN” “TỊNH” “MẠT” “SỬU” có nghĩa gì ?
Trong hài kịch truyền thống Trung Quốc, căn cứ vào loại hình nhân vật
đóng, ta chia diễn diên vào các vai “Sinh” (kép)”, “Đán” (đào), “Tịnh”(gan
dạ, dữ tợn), “mạt”(vai đệm), “Sửu” (vai hề) v.v… Những vai ấy tại sao gọi
như thế? Chúng có ý nghĩa gì? Về câu hỏi đó một số danh nhân hài kịch đời
Minh đã từng thảo luận sôi nổi, tốn nhiều thời giờ, bút mực…
Nhà hài kịch Chu Quyền trong Thái hòa chính âm phổ đã giải thích như : Cô
gái múa hát trên sân khấu gọi là “đán”. Chữ đán có bộ khuyển là con cái loài
vượn … mà gọi “đán”, là sai.
Chu Kỳ đời Minh trong Kịch thuyết cho rằng: không chỉ “đán” là vượn cái,
các vai khác cũng đều là thú vật. Như “sinh” là “tinh” (chữ Sinh có bộ
khuyển) tức là đười ươi. “Tịnh” là “ninh” (chữ ninh có bộ khuyển) là con
báo, một sừng năm đuôi, lại có người nói là giống như con cáo có cánh.
“Sửu” là “nứu” (chữ sữu có bộ khuyển) như chó, tính kiêu. “Gọi người đóng
trò giống như bốn loài giống kia!”
Nhưng, Từ Vị người nghiên cứu sâu về hài kịch trong Nam từ tự lục, nói:
“Sinh là tên gọi người nam, trong kịch sử sân khấu có Đổng sinh, Lỗ sinh.
Diễn viên nữ đời Tống ra sân khấu, đều bỏ nhạc khí vào giỏ, gánh (chữ đảm
ghép với chữ đán với bộ thủ) ra, gọi là hoa đán, nay ở Thiểm Tây vẫn còn
gọi như vậy, sau bớt chữ đi gọi là “đán”. Sửu thì lấy mực bôi mặt, hình dung
xấu xí (sửu) nay bớt chữ đi gọi là sửu. “Tịnh”, chữ này không thể giải nghĩa,
ý tôi đó là hai chữ “tham quân” đời xưa hợp lại rồi viết sai đi. Mạt là vai
không quan trọng của vài diễn viên phụ, cho nên ở vào vị trí cuối cùng là
“mạt hạng”.
Quan điểm của Từ Vị được nhiều nhà nghiên cứu đời sau tán đồng, đương
nhiên cũng có người bác bỏ, không biết câu đố về tên các vai đến bao giờ
mới được làm sáng tỏ!
3. HÀI KỊCH CÓ TỪ BAO GIỜ ?
Trong đời sống thường có vui buồn, khóc cười hỉ nộ ai lạc, trong hài khúc
đương nhiên cũng hình thành bi kịch, hài kịch, chính kịch ….
Hài kịch Trung Quốc, có người bàn nó có từ thời thượng cổ. Người nêu quan
điểm này cho rằng, khi người ta vui mừng thắng lợi, hoặc đuổi quỷ trừ tà, do
một vai khoác da gấu, một tay cầm mộc, một tay múa giáo, những người còn
lại hoặc đóng vai mười một ác thần, hoặc vai anh hùng đuổi quỷ. Có nghi
thức reo hò, nhảy nhót, hát lớn tế ca, được gọi là “Na tế” (lễ tống tiễn quan
ôn). Thứ “Na tế” này cũng được coi là mầm sống của hài kịch trung quốc
Có người cho rằng, hài kịch là từ “bài ưu” vào thế kỷ thứ 8 trước công
nguyên, lại biến dẫn cho đến nay.
Cái gọi là “bài ưu”, là chỉ những diễn viên biểu diễn hoạt kê, chuyên mua
vui cho quốc vương quí tộc. Theo “Sử ký, Hoạt kê liệt truyện” ghi chép, “Ưu
Mạnh y quan” là giai đoạn đầu của hài kịch Trung Quốc.
Nhưng một số học giả chuyên nghiệp, cho rằng sự xuất hiện sớm nhất của
hài kịch Trung Quốc bắt đầu thời Tống –Nguyên, từ thế kỷ 17 đến 14.
Căn cứ chính của quan điểm này là, “bài ưu” trước công nguyên và “na tế”
có từ thời thượng cổ, bất luận là nội dung hay hình thức, đều không được là
hài kịch, mà chỉ có đến thời kỳ Tống – Nguyên. Hiện tượng hài kịch mới
được coi là dùng hình thức hài kịch mô tả đời sống, hình thức biểu diễn ngụ
ý trang nghiêm trong hài, mới là hài kịch đích thực.
Hài kịch thời Tống – Nguyên tương đối nhiều, trong đó không thiếu tiết mục
ưu tú.Thí dụ như U khuê ký, Ngọc trâm ký, Cứu phong trần v.v… đều dùng
cách biểu diễn trào lộng, khôi hài, châm biếm đã kích mạnh mẽ bọn xấu xa
hèn hạ, dùng thủ pháp pha trương, tô điểm, khen ngợi và ca ngợi nhân vật
chính diện.
Rất nhiều vở hài kịch còn hình thành một kiểu biểu diễn cố định, cái đó có
thể là đặc trưng của hài kịch chăng ?
Thế thì, hài kịch thực ra, xuất hiện từ bao giờ ?
Cho đến nay, vẫn chưa có giả thiết ổn thoả !
4. ĐIỆU “NHỊ HOÀNG” GỐC Ở
ĐÂU ?
Trong các vở “Kinh kịch”, có một điệu chính được gọi là “Nhị hoàng”. Đó là
điều mà những người yêu thích Kinh kịch đều biết rõ.
Còn như điệu “Nhị hoàng”, tên gọi chính xác và nguồn gốc của nó thế nào,
trước sau vẫn là nghi vấn trong việc nghiên cứu điệu hát hài khúc, đã được
tranh luận không ngớt.
Một số chuyên gia hài khúc thời trước ở Trung Quốc, phần lớn đều cho rằng
điệu “Nhị hoàng” bắt đầu ở Hoàng Lăng, Hoàng Cương Hồ Bắc, là điệu hát
từ địa danh biến hoá ra.
Nhưng Phạm Tử Đông trong cuốn Nhạc học thông luận của ông, lại cho
rằng: “Nhị hoàng” bắt nguồn từ Thiểm Tây, với âm nhạc Lê viên đời Đường
không phải không có quan hệ. Trong sách viết, âm nhạc Lê viên có hai giọng
hát chính, một loại khảng khái hùng hồn, một loại uyển chuyển du dương.
Cái trước gốc từ Tần xoang, cái sau từ một người tên Hoàng Phan Xước, và
gồm thâu cả âm nhạc Đạo gia thổ “Hoàng quan” (mũ vàng), cho nên gọi là
“Nhị hoàng”.
Lại có một quan điểm khác nữa…
Theo Mã Ngạn Tường khảo chứng, từ năm 1970 về trước, Bắc kinh đã có
Kinh xoang và Tây Tần xoang thịnh hành. Sau đó “Huy ban” (ban hát ở An
Huy) vào kinh, muốn phân biệt với Kinh xoang, Tần xoang, cho nên đem bộ
phận đặc sắc nhất trong điệu Huy, gọi là “Nhị hoàng”. Còn như lấy tên “Nhị
hoàng” là trong số nhạc khí diễn tấu, hải địch (sáo biển) và tiêu nột (còi) đều
có hai cái lưỡi gà (hoàng). Diễn Thành Hồ cầm thác xoang, là việc từ đó đến
sau …
Cũng có người nêu ra cách nhìn không hoàn toàn giống với quan điểm Mã
Ngạn Tường, bởi vì từ kịch thoại của Lý Điều Nguyên khắc in từ năm Càn
Long thứ 49 (1784) đã ghi chép rõ ràng : “Hồ cầm xoang khởi từ Giang tả
(mé tả sông Trường Giang), đời nay âm điệu ấy thịnh hành, chuyên lấy Hồ
cầm làm tiết tấu… lại có tên là Nhị hoàng xoang”. Giang tả tức là tỉnh
Quảng Tây hiện nay.
Nhưng, cái đó vẫn không vạch rõ ra được vì sao có cái tên gọi “Nhị hoàng”?
Như vậy, tuy các nhà bình luận đều có lý lẽ, nhưng vẫn chưa đủ sức thuyết
phục mọi người. Thân thế của “Nhị hoàng” vẫn còn được nghiên cứu để làm
sáng tỏ…!
5. VÌ SAO “LÊ VIÊN” GỌI LÀ HÍ
KHÚC ?
Từ sau thời Sơ Đường, “Lê viên” đã kết mối duyên gắn bó với nghệ thuật hí
khúc Trung Quốc, người ta gọi nó là ban hát mà kịch đoàn là “Lê viên”, gọi
diễn viên là “Lê viên đệ tử” (con em vườn lê); những gia đình đời đời theo
đuổi nghệ thuật hí khúc là “Lê viên thế gia”; gọi giới hí khúc là “Lê viên
giới”. “Lê viên” và “Hí uyển” xét về chủ nghĩa thì không liên can với nhau,
vậy chúng có tương quan với nhau thế nào? Trước nay đã có nhiều thuyết…
Thông thường người ta cho rằng, “Lê viên” là một địa danh ở Trường An
đời Đường, sau vì Đường Huyền Tông dạy diễn xuất cho nghệ nhân ở đó,
liên kết nó với nghệ thuật hí khúc, thành một tên gọi của ban hát. Quan điểm
này có sử liệu chứng minh rõ ràng.
Bộ “Cựu Đường thư –Trung Tông bản kỷ” có nhắc đến, trong hoàng cung có
một “Lê viên”, có quảng trường có thể bơi qua sông, đá cầu…
“Cựu Đường thư – Huyền Tông bản kỷ” chép: Huyền Tông rảnh việc nước
đã dạy con em nhạc công Thái thường diễn tri, sáo đàn đệm theo gọi là
Hoàng đế đệ tử, lại gọi là Lê viên đệ tử. Đặt ở trong viện thuộc Lê viên, gần
cấm uyển.
Một thuyết khác trình bày về mối quan hệ giữa “Lê viên” và Hí uyển. Có ghi
trong “Ngô quân Lảo Lang miếu chi ký” của Tôn Tinh Diễn, nhà kinh tế đời
Thanh : “Tương truyền đời Đường Huyền Tông, con của Cảnh Lệnh Công là
Quang, giỏi múa điệu “Nghê thường vũ khúc”, được vua cho giữ họ Lý, nuôi
ở trong cung, để dạy cho con em. Quang tính thích lê, cho nên trồng lê khắp
nơi, nhân đó gọi là “Lê viên”. Đời sau tôn là tổ sư của giới học nhạc.
Những thuyết kể trên, cái nào đúng cái nào sai, còn chờ một bước thăm dò
nghiên cứu có chứng cứ.
6. NGUỒN GỐC TÔ KỊCH ?
Tô kịch là một thứ âm nhạc thuyết xướng (hát xen nói như cải lương ở Việt
Nam) lưu truyền trong dân gian Tô kịch thời kỳ đầu gọi là “Than hoàng”.
Tô kịch có từ lúc nào? Đối với vấn đề này, mỗi người nói một khác.
Có người nói Tô kịch xuất hiện vào thời Văn Thiện Tướng cuối triều Tống.
Thời đó đã có Than hoàng Hàng Châu lưu hành ở Giang Chiết. Sau đó, khu
vực đó nối nhau xuất hiện phong trào say mê Than Hoàng, mà tên cũng phân
biệt theo khu vực, gọi là Than hoàng Ninh Ba,Than hoàng Vô Tích, Than
hoàng Phố Đông v.v … bộ môn “hát nói” Than hoàng này, là nét ban đầu
của Tô kịch.
Có người cho rằng Tô kịch bắt đầu có từ niên hiệu Càn Long, cái đó có
khoảng cách với đời Tống rất xa.
Thời Càn Long, có Càn Long thọ khúc, Nghê thường tục phổ v.v… đã
phổ biến từ điệu Than Hoàng. Sau đó một số lớn vở Than Hoàng như suyết
bạch cừu, văn tinh bản truyền kỳ đã từng nổi tiếng ở Giang Chiết.
Nhưng có một số người lại cho rằng, Tô kịch không nảy sinh vào đời Tống,
cũng không vào niên hiệu Càn Long cách nay 150 năm.
Học giả thời truớc là Từ Phó Lâm trong một cuốn chuyên luận của ông về
Than Hoàng nói : “Thời kỳ toàn thịnh của triều Thanh rất thịnh hành Côn hí,
không biết hoàng đế nào chết, mà trong thời kỳ quốc tang ba năm, giới hí
khúc bị cấm đánh thanh la. Do đó, ở Tô Châu quê hương của Côn hí có một
người họ Tiền nghĩ ra biện pháp đem côn khúc bỏ thanh la, trống và sáo, mà
toàn dùng đàn dây để hoà với giọng hát, đem Côn khúc đổi thành cách hát
đơn giản mà gọi là Than Hoàng.”
Vị nhân sĩ họ Tiền này, có người nói ông là nghệ nhân Tiền Khôn Nguyên,
cũng có người nói là cống sĩ Tiền Minh Thụ, là ai thì không ai chịu giả thiết
của ai !
Còn Tô kịch có bắt đầu vào lúc nào ? Điều đó vẫn còn là một ẩn số!
7. NHÂN VẬT TÔ TAM CÓ THẬT
KHÔNG ?
Tô Tam nói ở đây là vai nữ phạm nhân bị xét xử trong vở Kinh kịch Ngọc
Đường Xuân.
Về nữ phạm Tô Tam, sở dĩ mọi nhà đều biết từ xưa đến nay, nghe người ta
nói là có liên quan đến việc có người thật, việc thật.
Sau mười năm loạn lạc không lâu, có tin từ Sơn Tây nói là huyện Hồng
Đồng đã tu bổ lại nhà giam Hổ Đầu năm xưa đây là nhà lao từng giam cầm
Tô Tam, đã thành nơi người du lịch, tham quan đến xem.
Học giả Vương Diệu Linh trong cuốn Lịch sử đại vũ đài của ông kể: “Có
người tìm ra Vương Tam công tử (là Vương Kim Long) và Ngọc Đường
Xuân là người có thật. Lại có người còn được xem bản án của Ngọc Đường
Xuân ở huyện Hồng Đồng, tỉnh Sơn Tây.
Trước mười năm loạn lạc, Tỉnh uỷ Sơn Tây Đảng Cộng sản Trung Quốc
từng được cấp trên chỉ thị tìm kiếm bản án của Tô Tam. Theo người giữ
quán văn sử tỉnh Sơn Tây, Thượng Đức nhớ lại thì ông từng đem việc này
hỏi nhân viên quản lý hồ sơ bản án, người này nói trong kho hồ sơ nha
huyện Hồng Đồng, không có bản án của Tô Tam.
Kho hồ sơ bản án đời Minh không có bản án của Tô Tam, nên cũng không
thể đoán chắc có người ấy hay không, vì lịch sử lâu đời qua nhiều năm chiến
loạn, có nhiều bản án thất lạc. Những “Hồng Đồng huyện chí” ghi chép lịch
sử; cũng không có bất kỳ ghi chép nào về vụ án Tô Tam và cũng không có
chữ nào nhắc đến bản án đó. Điều đó không thể không khiến người ta nghi
ngờ nhân vật Tô Tam là do người viết kịch dựng lên…
Căn cứ vào sử liệu ghi chép thì giữa triều đình nhà Minh, đã từng có vụ án
rất giống với chuyện Tô Tam trong vở Ngọc Đường Xuân, mà họ tên nhân
vật trong đó không giống nhau.
Ngọc Đường Xuân có phải là do đó diễn biến mà ra hay không?
Những chuyện được mọi người thích thú trong truyền thuyết dân gian, hoặc
trong sáng tác văn học được đời lưu truyền mà tồn tại lâu dài xem ra không
mấy quan hệ với việc có người thật việc thật hay không? Bởi nữ phạm nhân
Tô Tam được truyền tụng rộng rãi Tô Tam có đúng là người như vậy hay
không, đến nay vẫn chưa sáng tỏ.
8. VỞ “HÁN CUNG THU” MUỐN
NÓI GÌ ?
Vở kịch “Hán cung thu” là một tác phẩm hàng đầu trong số Cống Hồ được
người đời yêu thích, thương cảm.
Chiêu Quân ra quan ải, lấy người Hung Nô, có thể gọi là một hành động hy
sinh cao cả trong lịch sử Trung Quốc. Văn sĩ đời Nguyên, Mã Chí Viễn dùng
hí kịch “Hán cung thu” để dựng lại giai đoạn lịch sử đặc biệt đó.
Như vậy chủ đề trong “Hán cung thu” phản ánh tư tưởng gì? Những người
từng xem vở này phần lớn đều có cách nhìn của mình.
Có người nói “Hán cung thu” nhằm mô tả câu chuyện tình giữa Hán Nguyên
đế và mỹ nhân Vương Chiêu Quân.
Hán Nguyên đế và Vương Chiêu Quân yêu nhau, có thể thấy “Hán cung
thu” mang biết bao ý tình sâu đậm?
Có nhà bình luận nói rằng : “Hán cung thu” không tả nhiều về cái tình của
Hán Nguyên đế và Vương Chiêu Quân, mà nhằm đề cao việc Chiêu Quân
đứng ra, đem tấm thân yếu đuối chống trời, dùng sắc đẹp nghiêng thành ra
để cứu nước, hết sức ca ngợi nàng cứu dân trong cơn nguy biến, đặc biệt mô
tả rất kỹ về việc Chiêu Quân quên mình vì nước. Nhìn từ điểm đó thì vở
“Hán cung thu” diễn đạt rất công phu nêu gương hy sinh cao cả của mỹ
nhân.
Cũng có người cho rằng cái mà “Hán cung thu” diễn đạt, là sự mâu thuẫn
nội bộ của tập đoàn thống trị và xung đột của hai dân tộc Hồ Hán (Hung
Nô).
Thời Hung Nô xâm lấn Trung Hoa, là lúc trong cung điện nhà Hán sống dâm
loạn, thế nước suy đồi, “Hán cung thu” đánh trúng vào thói tệ thời đó.Vậy
người dựng vở “Hán cung thu” nhấn mạnh vào điểm nào? Có lẽ là tất cả
những gì chúng ta đã xem qua… Văn chương thi phú kịch nghệ đều gặp
nhau ở tưởng xây dựng xã hội lành mạnh, tẩy chay những gì chống lại tình
nước, lòng dân!
9. “MỤC DƯƠNG KÝ” CÓ PHẢI
LÀ TÁC PHẨM CỦA MÃ CHÍ
VIỄN HAY KHÔNG ?
Mã Chí Viễn là tác gia tạp kịch xuất sắc, là nhà soạn tán khúc tự thành một
phái… rất nổi tiếng đầu đời Nguyên. Tiểu lệnh “Thu tứ” trong “Việt điệu –
Thiên tranh sa” của ông được khen gợi là “Tổ của tứ thu”; tạp kịch “Hán
cung thu” được coi là bi kịch cổ điển ưu tú nhưng mối quan hệ với Nam hí
(tuồng Nam) đến nay vẫn chưa làm rõ đựơc. Nam hí “Mục Dương Ký”
(Chuyện chăn dê) có phải là tác phẩm của Mã Chí Viễn hay không đến nay
vẫn là một lời hỏi chưa có lời giải đáp.
“Mục dương ký” lấy đề tài từ Sử ký –Tô Vũ truyện : Vở tuồng này kể chuyện
Tô Vũ người thời Tây Hán phụng mệnh đến Hung Nô bị bắt, sau bị dời đến
Bắc hải (nay là hồ Bai – Can) chăn dê. Ca tụng Tô Vũ bất chấp sự uy hiếp dụ
dỗ của quí tộc Hung Nô, khát uống tuyết, đói nuốt nệm lông, mười chín năm
giữ bền cờ tiết nhà Hán không thay đổi tinh thần bất khuất. Đối với Lý Lăng
bất đắc dĩ phải đầu hàng, vừa phê phán vừa thương xót, cái đó có chỗ gần
gũi với tình cảm dân tộc biểu lộ ra trong “Hán cung thu”.
Nhà lý luận hí khúc cuối đời Minh Lã Thiên Thành trong Khúc lã nói:
Mã Chí Viễn có kịch bản “Mục Dương Ký”. Từ cú của kịch bản cổ kính chất
phác khiến người thích thú, nhớ đến khí tiết của Tô Tử Khanh (Tô Vũ). Ban
hát diễn vở tuồng này, tính sân khấu rất mạnh.
Đến đời Thanh, những cuốn như “Cổ nhân truyền kỳ tổng mục”, “Truyền ký
hối khảo tiêu mục” v.v… đều qui “Mục Dương Ký” vào dưới tên Mã Chí
Viễn. Trương Đại Phục trong “Hàn sơn đường tân đính cửu cung thập tam
nhiếp Nam khúc phổ” nói, không những “Mục Dương Ký” là tác phẩm của
Mã Chí Viễn ngay cả “Phong Lưu Lý Miễn tam phu tâm ký” và “Tiêu Thục
Trân tế phần trùng hội nhân duyên ký” cũng là Mã Chí Viễn hợp tác với
người khác hoàn thành.
Nhưng nhà văn học đời Minh Từ Vị, trong “Nam từ tự lục”, đem “Mục
Dương Ký” quy vào “vở cũ đời Tống Nguyên”, không nêu rõ tác giả chứng
tỏ Từ Vị giữ thái độ hoài nghi hoặc phủ định đối với thuyết đó.
Học trò của Từ Vị, Vương Ký Đức trong Khúc tuyến trực tiếp chỉ ra: “Mục
Dương Ký” quê kệch dung tục, quyết không phải là một tác gia tạp kịch nổi
tiếng nào đó viết.
Điều đáng chú ý hơn cả là thuyết về “Mục Dương Ký” xuất từ thủ bút của
Mã Chí Viễn, hơn hai trăm năm sau khi Mã Chí Viễn chết mới xuất hiện.
10. BI KỊCH CỔ CÓ TỪ THỜI
NÀO ?
Nói đến bi kịch cổ điển Trung Quốc, làm ta nhớ ngay đến vở “Đậu Nga oan”
ở đời Nguyên.Vở kịch đã vạch trần hành vi tội ác của giai cấp thống trị áp
bức nhân dân, đã kích nền chính trị thoái nát của xã hội lúc bấy giờ, đó là bi
kịch điển hình xuất sắc thâm trầm nhất trong lịch sử hí khúc Trung Quốc
Vở “Đậu Nga oan” bảy tám trăm năm xưa, chắc chắn là vở bi kịch cổ điển
tương đối sớm. Nhưng nếu bảo bi kịch cổ điển bắt đầu từ vở “Đậu Nga oan”
thì có rất nhiều ý kiến khác nhau.
Có học giả cho rằng, vào thế kỷ thứ 12, theo với hí kịch chính thức hình
thành trên cơ sở Nam hí, tạp kịch Bắc thì bi kịch cổ điển liền theo đó mà nảy
sinh. Trong một số hí kịch nổi tiếng đương thời nhụ vở “Vương Khôi”, Quế
Anh chết cũng không loại bỏ ý định trừng phạt kẽ phụ bạc Vương Khôi ;
trong “Bạch thỏ ký”. Lý Tam Nương rơi lệ tố cáo anh vàchị dâu, “Triệu
Trinh Nữ” đã kích bọn văn nhân vô ơn bạc nghĩa là những vở có sắc thái bi
kịch sâu đậm.
Có chuyên gia học giả đề ra, bi kịch cổ điển Trung Quốc bắt nguồn từ cuối
thế kỷ thứ 6, sang đầu thế kỷ thứ 7.
Lúc bấy giờ, phía Bắc Trung Quốc, lưu hành nội bộ ca vũ kịch có qui mô lớn
“Đạp dao nương”. Bộ ca vũ kịch này ai oán như khóc như than, lời ca của nó
bi hùng rắn rỏi, từ hình thức đến nội dung đều phù hợp với yếu tố bi kịch cần
có.
Bởi vậy có người coi “Đ
 





