GTST3 DÀNH CHO MẸ MÓN QUÀ TÌNH YÊU


TẠP CHÍ THƯ VIỆN - THƯ MỤC SÁCH 2025-2026

Ấn nhẹ vào đây để vào Phần mềm Vietbiblilo

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • GIỚI THIỆU WEBSITE THƯ VIỆN TIỂU HỌC MAI CHÂU

    <

    Bản tin thư viện

    < Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z7626801057980_fd0c1665d01f119a6177b5a6ed8d179d.jpg Z7626801055219_1b176b5d91d86d0485ef6b788add7019.jpg Z7626951539691_cbd248c94d4ef70bcef855b388e38fd0.jpg Z7626801057980_fd0c1665d01f119a6177b5a6ed8d179d.jpg Z7626801057980_fd0c1665d01f119a6177b5a6ed8d179d.jpg Z7626801063324_d6302aa66ecdf10f5898fae046cbfeb9.jpg Z7626801045928_2ed2e1ff27c3adb4514b2e3d00588e1a.jpg Genhz7516031377579_b4ce3fdf5f33caaef11b0bd82a98d71d.jpg Genhz7516031330052_9ec35e8b90513ea7451772b56cc6dd9d.jpg Genhz7516033933207_7765c0ef473106600b24b9dd1d8b88fa.jpg Genhz7516033869466_35d598fa8211cb37a7586a77e007b6df.jpg Z7488794422426_50b5bf3b0fa38578782fadefe2fb3c75.jpg Z7488794408671_015096a72117735c5feb6b9fc9febd66.jpg Z7488794418960_b9c0a6d2b9dea0aaa1c8fe1465254dbe.jpg Z7488794418960_b9c0a6d2b9dea0aaa1c8fe1465254dbe.jpg Z7488794422426_50b5bf3b0fa38578782fadefe2fb3c75.jpg Z7488794422426_50b5bf3b0fa38578782fadefe2fb3c75.jpg Z7495156155512_c836636b71fb8044f21bfc41ef4bbc3f.jpg Z7495156160330_c038ea753684bdf8ae7f10dc02b6c3a3.jpg

    Ý NGHĨA VỀ ĐỌC SÁCH


    Chào mừng 116 năm ngày quốc tế Phụ nữ 8/3/2026

    💕💕💕💕 💕💕Thư viện không phải là nơi để ghé qua trong vội vã, mà là nơi yên bình ta chọn dừng chân giữa bộn bề cuộc sống. Nơi đây, mỗi cuốn sách đều như một mảnh ghép của thời gian, gói ghém những tri thức và câu chuyện của biết bao thế hệ💕💕💕💕

    Danh sĩ kim cổ Đông tây

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Đàm Thị Hằng
    Ngày gửi: 14h:23' 30-01-2026
    Dung lượng: 593.5 KB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    DANH SĨ KIM CỔ THẾ GIỚI
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com


    MỤC LỤC


    CÙNG BẠN ĐỌC
    1. NGUỒN GỐC TẤU HÀI ?
    2. CÂU ĐỐ HÀI KỊCH ?
    3. HÀI KỊCH CÓ TỪ BAO GIỜ ?
    4. ĐIỆU “NHỊ HOÀNG” GỐC Ở ĐÂU ?
    5. VÌ SAO “LÊ VIÊN” GỌI LÀ HÍ KHÚC ?
    6. NGUỒN GỐC TÔ KỊCH ?
    7. NHÂN VẬT TÔ TAM CÓ THẬT KHÔNG ?
    8. VỞ “HÁN CUNG THU” MUỐN NÓI GÌ ?
    9. “MỤC DƯƠNG KÝ” CÓ PHẢI LÀ TÁC PHẨM CỦA MÃ CHÍ
    VIỄN HAY KHÔNG ?
    10. BI KỊCH CỔ CÓ TỪ THỜI NÀO ?
    11. TẠP KỊCH ĐỜI NGUYÊN VÌ SAO TIÊU VONG ?
    12. HÍ KHÚC (Ca kịch vui) CỔ ĐẠI CÓ TỪ ĐỜI NÀO ?
    13. NGUỒN GỐC ĐIỆU CAO ?
    14. KỊCH BẢN “MINH PHƯỢNG KÝ” CỦA AI ?
    15. “MẪU ĐƠN ĐÌNH” RA ĐỜI Ở ĐÂU ?
    16. TÁC GIẢ “CA ĐẠI KHIẾU” LÀ AI ?
    17. “HOÀNG MAI HÍ” RA ĐỜI THỜI NÀO ? Ở ĐÂU ?
    18. “NGUYÊN KHÚC TỨ ĐẠI GIA” ?
    19 . CÔN XOANG RA ĐỜI VÀO LÚC NÀO ?
    20. “THIẾU NỮ LY HỒN” ?
    21. DANH HỌA “PHÚ XUÂN SƠN CƯ ĐỒ” ?
    22. “NGUYÊN TỨ GIA” LÀ AI ?
    23. DANH HỌA “THANH MINH THƯỢNG HÀ ĐỒ” ?
    24. HỘI HỌA TRUNG QUỐC ?
    25. “QUẮC QUỐC PHU NHÂN DU XUÂN ĐỒ” ?
    26. “NGŨ NGƯU ĐỒ” ?
    27. AI LÀ TỔ SƯ TRANH MẶC TRÚC ?
    28. “DƯƠNG CHÂU BÁT QUÁI” LÀ TÁM NGƯỜI NÀO ?
    29. TÁC GIẢ “CỔ ĐẾ VƯƠNG ĐỒ” ?

    30. TÀO THÁO “TRÓC ĐAO” ?
    31. “TRÂM HOA SĨ NỮ ĐỒ” ?
    32. ÂM GIAI NGŨ THANH ?
    33. BÍCH HỌA “KHÁCH SỨ ĐỒ” ?
    34. “KIM SƠN THẮNG TÍCH ĐỒ” ?
    35. “ĐÔN HOÀNG KHÚC PHỔ” KỲ BÍ ?
    36. ĐÀN CẦM CÓ VÀO THỜI NÀO ?
    37. KHÚC NHẠC “QUẢNG LĂNG TÁN” ?
    38. AI VIẾT KHÚC NHẠC “THẬP DIỆN MAI PHỤC” ?
    39. VŨ KHÚC “NGHÊ THƯỜNG” LÀ GÌ ?
    40. “DƯƠNG QUAN TAM ĐIỆP” ?
    41 . GỐC “NHỊ HỒ” Ở ĐÂU ?
    42. LAI LỊCH VỀ TRÚC ĐỊCH ?
    43. CA XƯỚNG CÓ TỪ THỜI NÀO?
    44. ÂM NHẠC CẢI CÁCH ĐỜI THƯỜNG ?
    45. DỰC DƯƠNG XOANG GỐC Ở ĐÂU ?
    46. “NHỊ TUYỀN ÁNH NGUYỆT” ?
    47. VŨ ĐIỆU TRUNG QUỐC ?
    48. ĐÀN TRANH LÀ CỦA MÔNG ĐIỀM CHĂNG ?
    49. THƯ PHÁP LAN ĐÌNH TỰ ?
    50. “NAN ĐẮC HỒ ĐỒ” ?
    51. TIỂU TRIỆN CỦA LÝ TƯ CHĂNG ?
    52. BIA VŨ BI DO AI KHẮC ?
    53. BIA ĐÁ “XUẤT SƯ BIỂU” ?
    54. NÉT CHỮ BÍ ẨN ?
    55. CON DẤU CÓ VÀO THỜI NÀO ?
    56. HANG KINH THẠCH THÁI SƠN ?
    57. ĐẠI GIA THƯ PHÁP CÓ CHƠI DẠI KHÔNG ?
    58. PICASSO MỘT ĐỜI TÀI HOA ?
    59. NHẠC SƯ TCHAIKOVSKI CHẾT BỆNH ?
    60. ĐẠO DIỄN WILLIAM TAYLER ?
    61. THI HÀO BYRON PHIÊU BẠT THA HƯƠNG
    62. CÁI CHẾT BÍ ẨN CỦA NỮ THẦN SẾCH XY ?
    63. VAN GOGH TỰ SÁT VÌ ĐÂU ?
    64. VỢ KỊCH SĨ MOLIÈRE ?
    65. BẠN CÓ YÊU NHẠC BRAHMS ?
    66. BẢN GIAO HƯỞNG TỬ VONG ?
    67. “NGƯỜI YÊU VĨNH CỬU” CỦA BEETHOVEN ?
    68. CÁI CHẾT CỦA ĐIỆN ẢNH GIA PAUL BOURNE ?

    69. NHẠC SƯ HANDEL ?
    70. CÁI CHẾT CỦA THIÊN TÀI ÂM NHẠC ?
    71. NHẠC SĨ ĐỘC THÂN ?
    72. CÁI CHẾT CỦA NỮ DANH CA ?
    73. THẦN TƯỢNG ĐIỆN ẢNH VÀ BỆNH AIDS ?
    74. BÊU XẤU HAY SỰ THỰC ?
    75. ĐƯỜNG CÙNG CỦA MỘT MINH TINH ĐIỆN ẢNH ?
    76. JOHN LENNON CÓ BỊ MƯU SÁT ?
    77. “MẶT TRỜI CỦA TÔI” ?
    78. NHẠC SĨ LASSUS ?
    79. HAI THIÊN TÀI MỘT THỜI ĐẠI ?
    80. “HOÀNG GIA RICHATD IV” ?
    81. “NỤ CƯỜI NÀNG MONA LISA”
    82. MAJA LÀ AI ?
    83. “NÀNG KIỀU NỮ FORNARINA” ?
    84. BỨC “TIN MỪNG” THẬT HAY GIẢ ?
    85. TƯỢNG CỔ HY LẠP ?
    86. “AJAX” NGƯỜI HÙNG HY LẠP ?
    87. KIẾN TRÚC VÒM ?
    88. “THẦN MẶT TRỜI” RHODES ?
    89. TƯỢNG ĐÁ TRÊN “ĐẢO PÂQUES” ?
    90. HỌA SĨ QUÁI KIỆT ?
    91. CÂU ĐỐ VỀ “CÁI CHẾT CỦA MARAT” ?
    92. “NGƯỜI ĐÀN BÀ LẠ MẶT” ?
    93. HÌNH DẠNG TRÊN ĐẤT NOSCA ?
    94. BÍCH HỌA Ở ĐIỆN HORAFSAR ?
    95. TRANH ĐÁ CỔ Ở CHÂU PHI ?
    96. “BÍCH HỌA SA MẠC” ?
    97. “IVAN LÔI ĐẾ GIẾT CON” ?
    98. MOZART VÀ “KHÚC OAN HỒN” ?
    99. BẢN GIAO HƯỞNG SỐ MƯỜI ?
    100. ĐẠO ISLAM CẤM VẼ NGƯỜI ?






    CÙNG BẠN ĐỌC



    Cuốn sách này tập hợp một trăm vấn đề nan giải, và đề ra các quan điểm
    “giải thích có lý do” theo tầm mức của những người có uy tín trong từng
    môn nghệ thuật, âm nhạc, hội họa, sân khấu trên thế giới… một cách lý thú,
    vừa trao dồi thêm kiến thức, lại vừa học tập cách suy luận trái ngược! Nếu
    bạn có thể tự rút ra một quan điểm trung dung giữa các ý kiến đối lập thì vui
    biết bao !
    Có nhiều câu đố nan giải giới thuật học “nghĩ nát óc” mà chưa ổn thỏa, bạn
    có thể đứng ra hoà giải, mở thêm ra quan điểm mới nào chăng?
    Trong sách còn nhiều tư liệu thú vị, có nhân vật đối đáp… hoặc đào sâu vấn
    đề, hay ít ra cũng mang lại sự bổ ích, thoải mái, vui vẻ cho độc giả…



    Ban biên soạn









    1. NGUỒN GỐC TẤU HÀI ?




    Tương thanh là một kiểu tấu hài của Trung Quốc, là hình thức nghệ thuật
    được mọi người yêu thích nhất. Nó là một nghệ thuật đấu khẩu, dường như
    cãi nhau nhưng lý lẽ thật khôi hài.
    Cái vui thích nó mang lại cho người ta thật là sảng khoái mà các hình thức
    nghệ thuật khác khó mà so sánh, rất nhiều người thích môn tấu hài này.



    Khi chúng ta bị tấu hài chọc cho cười ra nước mắt hoặc “cười đến vỡ
    bụng” vì không ai nhịn cười được! Có ai nghĩ đến nghệ thuật “cười” ra ấy
    đời như thế nào không ?
    Nghệ thuật tấu hài ở Trung Quốc có thể nói là lịch sử lâu đời, những tư liệu
    để tra cứu quả thật không tìm ra! Nhiều học giả để tâm nghiên cứu, tìm tòi
    nguồn ngốc của nó đã bắt đầu hình thành nhận thức từng bước một :
    Một quan điểm cho rằng, tấu hài hiện giờ là do “Tham quân hí” đời Đường
    mà phát huy ra. “Tham quân hí” do hai người biễu diễn, một người gọi là
    “tham quân” trong vai ngu si; một người là “thương cốt” (một loại chim cổ
    màu xanh) trong vai phản ứng nhanh nhạy. Hai người biểu diễn, một tung
    một hứng gây cười, một trang nghiêm, một khôi hài thật là thú vị.
    Có người nói tấu hài ở triều đại Khang Hy là hình thái đầu tiên của tấu hài
    bây giờ. “Khôi hài” thời đó, kỳ thực là khẩu kỹ (võ miệng). Khi biễu diễn
    một người hoặc nhiều người có thể dùng tiếng chó, gà, ếch nhái kêu réo làm
    mọi người phục lăn và vui cười thoả thích.
    Cũng có người nói, tấu hài ban đầu kỳ thực là chỉ vè “tướng mạo”, “nghĩa
    lý” của “âm thanh”. Dựa theo tên mà định nghĩa, là tướng mạo và âm thanh
    kết hợp làm một, dùng âm thanh và tình cảm để thố lộ, dùng cử chỉ và giọng
    điệu đả kích những cái “dởm đời” dùng trào lộng và khôi hài khiến mọi
    người vui thích, quên “nỗi sầu đời”.

    Nguồn gốc của tấu hài còn nhiều cách nhìn khác, tất cả đều vào sự phân tích
    chủ quan, rất khó kết luận.Việc sau này có thể thống nhất cách nhìn hay
    không còn “hạ hồi phân giải”, ta phải tạm gác lại…






    2. CÂU ĐỐ HÀI KỊCH ?



    Những tên gọi như' “SINH” “ĐÁN” “TỊNH” “MẠT” “SỬU” có nghĩa gì ?
    Trong hài kịch truyền thống Trung Quốc, căn cứ vào loại hình nhân vật
    đóng, ta chia diễn diên vào các vai “Sinh” (kép)”, “Đán” (đào), “Tịnh”(gan
    dạ, dữ tợn), “mạt”(vai đệm), “Sửu” (vai hề) v.v… Những vai ấy tại sao gọi
    như thế? Chúng có ý nghĩa gì? Về câu hỏi đó một số danh nhân hài kịch đời
    Minh đã từng thảo luận sôi nổi, tốn nhiều thời giờ, bút mực…
    Nhà hài kịch Chu Quyền trong Thái hòa chính âm phổ đã giải thích như : Cô
    gái múa hát trên sân khấu gọi là “đán”. Chữ đán có bộ khuyển là con cái loài
    vượn … mà gọi “đán”, là sai.
    Chu Kỳ đời Minh trong Kịch thuyết cho rằng: không chỉ “đán” là vượn cái,
    các vai khác cũng đều là thú vật. Như “sinh” là “tinh” (chữ Sinh có bộ
    khuyển) tức là đười ươi. “Tịnh” là “ninh” (chữ ninh có bộ khuyển) là con
    báo, một sừng năm đuôi, lại có người nói là giống như con cáo có cánh.
    “Sửu” là “nứu” (chữ sữu có bộ khuyển) như chó, tính kiêu. “Gọi người đóng
    trò giống như bốn loài giống kia!”

    Nhưng, Từ Vị người nghiên cứu sâu về hài kịch trong Nam từ tự lục, nói:
    “Sinh là tên gọi người nam, trong kịch sử sân khấu có Đổng sinh, Lỗ sinh.
    Diễn viên nữ đời Tống ra sân khấu, đều bỏ nhạc khí vào giỏ, gánh (chữ đảm
    ghép với chữ đán với bộ thủ) ra, gọi là hoa đán, nay ở Thiểm Tây vẫn còn
    gọi như vậy, sau bớt chữ đi gọi là “đán”. Sửu thì lấy mực bôi mặt, hình dung
    xấu xí (sửu) nay bớt chữ đi gọi là sửu. “Tịnh”, chữ này không thể giải nghĩa,
    ý tôi đó là hai chữ “tham quân” đời xưa hợp lại rồi viết sai đi. Mạt là vai
    không quan trọng của vài diễn viên phụ, cho nên ở vào vị trí cuối cùng là
    “mạt hạng”.
    Quan điểm của Từ Vị được nhiều nhà nghiên cứu đời sau tán đồng, đương
    nhiên cũng có người bác bỏ, không biết câu đố về tên các vai đến bao giờ
    mới được làm sáng tỏ!






    3. HÀI KỊCH CÓ TỪ BAO GIỜ ?



    Trong đời sống thường có vui buồn, khóc cười hỉ nộ ai lạc, trong hài khúc
    đương nhiên cũng hình thành bi kịch, hài kịch, chính kịch ….
    Hài kịch Trung Quốc, có người bàn nó có từ thời thượng cổ. Người nêu quan
    điểm này cho rằng, khi người ta vui mừng thắng lợi, hoặc đuổi quỷ trừ tà, do
    một vai khoác da gấu, một tay cầm mộc, một tay múa giáo, những người còn
    lại hoặc đóng vai mười một ác thần, hoặc vai anh hùng đuổi quỷ. Có nghi
    thức reo hò, nhảy nhót, hát lớn tế ca, được gọi là “Na tế” (lễ tống tiễn quan

    ôn). Thứ “Na tế” này cũng được coi là mầm sống của hài kịch trung quốc
    Có người cho rằng, hài kịch là từ “bài ưu” vào thế kỷ thứ 8 trước công
    nguyên, lại biến dẫn cho đến nay.
    Cái gọi là “bài ưu”, là chỉ những diễn viên biểu diễn hoạt kê, chuyên mua
    vui cho quốc vương quí tộc. Theo “Sử ký, Hoạt kê liệt truyện” ghi chép, “Ưu
    Mạnh y quan” là giai đoạn đầu của hài kịch Trung Quốc.
    Nhưng một số học giả chuyên nghiệp, cho rằng sự xuất hiện sớm nhất của
    hài kịch Trung Quốc bắt đầu thời Tống –Nguyên, từ thế kỷ 17 đến 14.
    Căn cứ chính của quan điểm này là, “bài ưu” trước công nguyên và “na tế”
    có từ thời thượng cổ, bất luận là nội dung hay hình thức, đều không được là
    hài kịch, mà chỉ có đến thời kỳ Tống – Nguyên. Hiện tượng hài kịch mới
    được coi là dùng hình thức hài kịch mô tả đời sống, hình thức biểu diễn ngụ
    ý trang nghiêm trong hài, mới là hài kịch đích thực.
    Hài kịch thời Tống – Nguyên tương đối nhiều, trong đó không thiếu tiết mục
    ưu tú.Thí dụ như U khuê ký, Ngọc trâm ký, Cứu phong trần v.v… đều dùng
    cách biểu diễn trào lộng, khôi hài, châm biếm đã kích mạnh mẽ bọn xấu xa
    hèn hạ, dùng thủ pháp pha trương, tô điểm, khen ngợi và ca ngợi nhân vật
    chính diện.
    Rất nhiều vở hài kịch còn hình thành một kiểu biểu diễn cố định, cái đó có
    thể là đặc trưng của hài kịch chăng ?
    Thế thì, hài kịch thực ra, xuất hiện từ bao giờ ?
    Cho đến nay, vẫn chưa có giả thiết ổn thoả !






    4. ĐIỆU “NHỊ HOÀNG” GỐC Ở
    ĐÂU ?



    Trong các vở “Kinh kịch”, có một điệu chính được gọi là “Nhị hoàng”. Đó là
    điều mà những người yêu thích Kinh kịch đều biết rõ.
    Còn như điệu “Nhị hoàng”, tên gọi chính xác và nguồn gốc của nó thế nào,
    trước sau vẫn là nghi vấn trong việc nghiên cứu điệu hát hài khúc, đã được
    tranh luận không ngớt.
    Một số chuyên gia hài khúc thời trước ở Trung Quốc, phần lớn đều cho rằng
    điệu “Nhị hoàng” bắt đầu ở Hoàng Lăng, Hoàng Cương Hồ Bắc, là điệu hát
    từ địa danh biến hoá ra.






    Nhưng Phạm Tử Đông trong cuốn Nhạc học thông luận của ông, lại cho
    rằng: “Nhị hoàng” bắt nguồn từ Thiểm Tây, với âm nhạc Lê viên đời Đường
    không phải không có quan hệ. Trong sách viết, âm nhạc Lê viên có hai giọng
    hát chính, một loại khảng khái hùng hồn, một loại uyển chuyển du dương.
    Cái trước gốc từ Tần xoang, cái sau từ một người tên Hoàng Phan Xước, và
    gồm thâu cả âm nhạc Đạo gia thổ “Hoàng quan” (mũ vàng), cho nên gọi là
    “Nhị hoàng”.
    Lại có một quan điểm khác nữa…
    Theo Mã Ngạn Tường khảo chứng, từ năm 1970 về trước, Bắc kinh đã có
    Kinh xoang và Tây Tần xoang thịnh hành. Sau đó “Huy ban” (ban hát ở An
    Huy) vào kinh, muốn phân biệt với Kinh xoang, Tần xoang, cho nên đem bộ
    phận đặc sắc nhất trong điệu Huy, gọi là “Nhị hoàng”. Còn như lấy tên “Nhị

    hoàng” là trong số nhạc khí diễn tấu, hải địch (sáo biển) và tiêu nột (còi) đều
    có hai cái lưỡi gà (hoàng). Diễn Thành Hồ cầm thác xoang, là việc từ đó đến
    sau …
    Cũng có người nêu ra cách nhìn không hoàn toàn giống với quan điểm Mã
    Ngạn Tường, bởi vì từ kịch thoại của Lý Điều Nguyên khắc in từ năm Càn
    Long thứ 49 (1784) đã ghi chép rõ ràng : “Hồ cầm xoang khởi từ Giang tả
    (mé tả sông Trường Giang), đời nay âm điệu ấy thịnh hành, chuyên lấy Hồ
    cầm làm tiết tấu… lại có tên là Nhị hoàng xoang”. Giang tả tức là tỉnh
    Quảng Tây hiện nay.
    Nhưng, cái đó vẫn không vạch rõ ra được vì sao có cái tên gọi “Nhị hoàng”?
    Như vậy, tuy các nhà bình luận đều có lý lẽ, nhưng vẫn chưa đủ sức thuyết
    phục mọi người. Thân thế của “Nhị hoàng” vẫn còn được nghiên cứu để làm
    sáng tỏ…!






    5. VÌ SAO “LÊ VIÊN” GỌI LÀ HÍ
    KHÚC ?



    Từ sau thời Sơ Đường, “Lê viên” đã kết mối duyên gắn bó với nghệ thuật hí
    khúc Trung Quốc, người ta gọi nó là ban hát mà kịch đoàn là “Lê viên”, gọi
    diễn viên là “Lê viên đệ tử” (con em vườn lê); những gia đình đời đời theo
    đuổi nghệ thuật hí khúc là “Lê viên thế gia”; gọi giới hí khúc là “Lê viên
    giới”. “Lê viên” và “Hí uyển” xét về chủ nghĩa thì không liên can với nhau,

    vậy chúng có tương quan với nhau thế nào? Trước nay đã có nhiều thuyết…






    Thông thường người ta cho rằng, “Lê viên” là một địa danh ở Trường An
    đời Đường, sau vì Đường Huyền Tông dạy diễn xuất cho nghệ nhân ở đó,
    liên kết nó với nghệ thuật hí khúc, thành một tên gọi của ban hát. Quan điểm
    này có sử liệu chứng minh rõ ràng.
    Bộ “Cựu Đường thư –Trung Tông bản kỷ” có nhắc đến, trong hoàng cung có
    một “Lê viên”, có quảng trường có thể bơi qua sông, đá cầu…
    “Cựu Đường thư – Huyền Tông bản kỷ” chép: Huyền Tông rảnh việc nước
    đã dạy con em nhạc công Thái thường diễn tri, sáo đàn đệm theo gọi là
    Hoàng đế đệ tử, lại gọi là Lê viên đệ tử. Đặt ở trong viện thuộc Lê viên, gần
    cấm uyển.
    Một thuyết khác trình bày về mối quan hệ giữa “Lê viên” và Hí uyển. Có ghi
    trong “Ngô quân Lảo Lang miếu chi ký” của Tôn Tinh Diễn, nhà kinh tế đời
    Thanh : “Tương truyền đời Đường Huyền Tông, con của Cảnh Lệnh Công là
    Quang, giỏi múa điệu “Nghê thường vũ khúc”, được vua cho giữ họ Lý, nuôi
    ở trong cung, để dạy cho con em. Quang tính thích lê, cho nên trồng lê khắp
    nơi, nhân đó gọi là “Lê viên”. Đời sau tôn là tổ sư của giới học nhạc.
    Những thuyết kể trên, cái nào đúng cái nào sai, còn chờ một bước thăm dò
    nghiên cứu có chứng cứ.






    6. NGUỒN GỐC TÔ KỊCH ?




    Tô kịch là một thứ âm nhạc thuyết xướng (hát xen nói như cải lương ở Việt
    Nam) lưu truyền trong dân gian Tô kịch thời kỳ đầu gọi là “Than hoàng”.
    Tô kịch có từ lúc nào? Đối với vấn đề này, mỗi người nói một khác.
    Có người nói Tô kịch xuất hiện vào thời Văn Thiện Tướng cuối triều Tống.
    Thời đó đã có Than hoàng Hàng Châu lưu hành ở Giang Chiết. Sau đó, khu
    vực đó nối nhau xuất hiện phong trào say mê Than Hoàng, mà tên cũng phân
    biệt theo khu vực, gọi là Than hoàng Ninh Ba,Than hoàng Vô Tích, Than
    hoàng Phố Đông v.v … bộ môn “hát nói” Than hoàng này, là nét ban đầu
    của Tô kịch.



    Có người cho rằng Tô kịch bắt đầu có từ niên hiệu Càn Long, cái đó có
    khoảng cách với đời Tống rất xa.






    Thời Càn Long, có Càn Long thọ khúc, Nghê thường tục phổ v.v… đã
    phổ biến từ điệu Than Hoàng. Sau đó một số lớn vở Than Hoàng như suyết
    bạch cừu, văn tinh bản truyền kỳ đã từng nổi tiếng ở Giang Chiết.
    Nhưng có một số người lại cho rằng, Tô kịch không nảy sinh vào đời Tống,
    cũng không vào niên hiệu Càn Long cách nay 150 năm.
    Học giả thời truớc là Từ Phó Lâm trong một cuốn chuyên luận của ông về
    Than Hoàng nói : “Thời kỳ toàn thịnh của triều Thanh rất thịnh hành Côn hí,
    không biết hoàng đế nào chết, mà trong thời kỳ quốc tang ba năm, giới hí
    khúc bị cấm đánh thanh la. Do đó, ở Tô Châu quê hương của Côn hí có một
    người họ Tiền nghĩ ra biện pháp đem côn khúc bỏ thanh la, trống và sáo, mà

    toàn dùng đàn dây để hoà với giọng hát, đem Côn khúc đổi thành cách hát
    đơn giản mà gọi là Than Hoàng.”
    Vị nhân sĩ họ Tiền này, có người nói ông là nghệ nhân Tiền Khôn Nguyên,
    cũng có người nói là cống sĩ Tiền Minh Thụ, là ai thì không ai chịu giả thiết
    của ai !
    Còn Tô kịch có bắt đầu vào lúc nào ? Điều đó vẫn còn là một ẩn số!






    7. NHÂN VẬT TÔ TAM CÓ THẬT
    KHÔNG ?



    Tô Tam nói ở đây là vai nữ phạm nhân bị xét xử trong vở Kinh kịch Ngọc
    Đường Xuân.
    Về nữ phạm Tô Tam, sở dĩ mọi nhà đều biết từ xưa đến nay, nghe người ta
    nói là có liên quan đến việc có người thật, việc thật.
    Sau mười năm loạn lạc không lâu, có tin từ Sơn Tây nói là huyện Hồng
    Đồng đã tu bổ lại nhà giam Hổ Đầu năm xưa đây là nhà lao từng giam cầm
    Tô Tam, đã thành nơi người du lịch, tham quan đến xem.
    Học giả Vương Diệu Linh trong cuốn Lịch sử đại vũ đài của ông kể: “Có
    người tìm ra Vương Tam công tử (là Vương Kim Long) và Ngọc Đường

    Xuân là người có thật. Lại có người còn được xem bản án của Ngọc Đường
    Xuân ở huyện Hồng Đồng, tỉnh Sơn Tây.
    Trước mười năm loạn lạc, Tỉnh uỷ Sơn Tây Đảng Cộng sản Trung Quốc
    từng được cấp trên chỉ thị tìm kiếm bản án của Tô Tam. Theo người giữ
    quán văn sử tỉnh Sơn Tây, Thượng Đức nhớ lại thì ông từng đem việc này
    hỏi nhân viên quản lý hồ sơ bản án, người này nói trong kho hồ sơ nha
    huyện Hồng Đồng, không có bản án của Tô Tam.
    Kho hồ sơ bản án đời Minh không có bản án của Tô Tam, nên cũng không
    thể đoán chắc có người ấy hay không, vì lịch sử lâu đời qua nhiều năm chiến
    loạn, có nhiều bản án thất lạc. Những “Hồng Đồng huyện chí” ghi chép lịch
    sử; cũng không có bất kỳ ghi chép nào về vụ án Tô Tam và cũng không có
    chữ nào nhắc đến bản án đó. Điều đó không thể không khiến người ta nghi
    ngờ nhân vật Tô Tam là do người viết kịch dựng lên…
    Căn cứ vào sử liệu ghi chép thì giữa triều đình nhà Minh, đã từng có vụ án
    rất giống với chuyện Tô Tam trong vở Ngọc Đường Xuân, mà họ tên nhân
    vật trong đó không giống nhau.
    Ngọc Đường Xuân có phải là do đó diễn biến mà ra hay không?
    Những chuyện được mọi người thích thú trong truyền thuyết dân gian, hoặc
    trong sáng tác văn học được đời lưu truyền mà tồn tại lâu dài xem ra không
    mấy quan hệ với việc có người thật việc thật hay không? Bởi nữ phạm nhân
    Tô Tam được truyền tụng rộng rãi Tô Tam có đúng là người như vậy hay
    không, đến nay vẫn chưa sáng tỏ.






    8. VỞ “HÁN CUNG THU” MUỐN

    NÓI GÌ ?



    Vở kịch “Hán cung thu” là một tác phẩm hàng đầu trong số Cống Hồ được
    người đời yêu thích, thương cảm.
    Chiêu Quân ra quan ải, lấy người Hung Nô, có thể gọi là một hành động hy
    sinh cao cả trong lịch sử Trung Quốc. Văn sĩ đời Nguyên, Mã Chí Viễn dùng
    hí kịch “Hán cung thu” để dựng lại giai đoạn lịch sử đặc biệt đó.
    Như vậy chủ đề trong “Hán cung thu” phản ánh tư tưởng gì? Những người
    từng xem vở này phần lớn đều có cách nhìn của mình.
    Có người nói “Hán cung thu” nhằm mô tả câu chuyện tình giữa Hán Nguyên
    đế và mỹ nhân Vương Chiêu Quân.






    Hán Nguyên đế và Vương Chiêu Quân yêu nhau, có thể thấy “Hán cung
    thu” mang biết bao ý tình sâu đậm?
    Có nhà bình luận nói rằng : “Hán cung thu” không tả nhiều về cái tình của
    Hán Nguyên đế và Vương Chiêu Quân, mà nhằm đề cao việc Chiêu Quân
    đứng ra, đem tấm thân yếu đuối chống trời, dùng sắc đẹp nghiêng thành ra
    để cứu nước, hết sức ca ngợi nàng cứu dân trong cơn nguy biến, đặc biệt mô
    tả rất kỹ về việc Chiêu Quân quên mình vì nước. Nhìn từ điểm đó thì vở
    “Hán cung thu” diễn đạt rất công phu nêu gương hy sinh cao cả của mỹ
    nhân.
    Cũng có người cho rằng cái mà “Hán cung thu” diễn đạt, là sự mâu thuẫn
    nội bộ của tập đoàn thống trị và xung đột của hai dân tộc Hồ Hán (Hung
    Nô).

    Thời Hung Nô xâm lấn Trung Hoa, là lúc trong cung điện nhà Hán sống dâm
    loạn, thế nước suy đồi, “Hán cung thu” đánh trúng vào thói tệ thời đó.Vậy
    người dựng vở “Hán cung thu” nhấn mạnh vào điểm nào? Có lẽ là tất cả
    những gì chúng ta đã xem qua… Văn chương thi phú kịch nghệ đều gặp
    nhau ở tưởng xây dựng xã hội lành mạnh, tẩy chay những gì chống lại tình
    nước, lòng dân!






    9. “MỤC DƯƠNG KÝ” CÓ PHẢI
    LÀ TÁC PHẨM CỦA MÃ CHÍ
    VIỄN HAY KHÔNG ?



    Mã Chí Viễn là tác gia tạp kịch xuất sắc, là nhà soạn tán khúc tự thành một
    phái… rất nổi tiếng đầu đời Nguyên. Tiểu lệnh “Thu tứ” trong “Việt điệu –
    Thiên tranh sa” của ông được khen gợi là “Tổ của tứ thu”; tạp kịch “Hán
    cung thu” được coi là bi kịch cổ điển ưu tú nhưng mối quan hệ với Nam hí
    (tuồng Nam) đến nay vẫn chưa làm rõ đựơc. Nam hí “Mục Dương Ký”
    (Chuyện chăn dê) có phải là tác phẩm của Mã Chí Viễn hay không đến nay
    vẫn là một lời hỏi chưa có lời giải đáp.
    “Mục dương ký” lấy đề tài từ Sử ký –Tô Vũ truyện : Vở tuồng này kể chuyện
    Tô Vũ người thời Tây Hán phụng mệnh đến Hung Nô bị bắt, sau bị dời đến
    Bắc hải (nay là hồ Bai – Can) chăn dê. Ca tụng Tô Vũ bất chấp sự uy hiếp dụ

    dỗ của quí tộc Hung Nô, khát uống tuyết, đói nuốt nệm lông, mười chín năm
    giữ bền cờ tiết nhà Hán không thay đổi tinh thần bất khuất. Đối với Lý Lăng
    bất đắc dĩ phải đầu hàng, vừa phê phán vừa thương xót, cái đó có chỗ gần
    gũi với tình cảm dân tộc biểu lộ ra trong “Hán cung thu”.






    Nhà lý luận hí khúc cuối đời Minh Lã Thiên Thành trong Khúc lã nói:
    Mã Chí Viễn có kịch bản “Mục Dương Ký”. Từ cú của kịch bản cổ kính chất
    phác khiến người thích thú, nhớ đến khí tiết của Tô Tử Khanh (Tô Vũ). Ban
    hát diễn vở tuồng này, tính sân khấu rất mạnh.
    Đến đời Thanh, những cuốn như “Cổ nhân truyền kỳ tổng mục”, “Truyền ký
    hối khảo tiêu mục” v.v… đều qui “Mục Dương Ký” vào dưới tên Mã Chí
    Viễn. Trương Đại Phục trong “Hàn sơn đường tân đính cửu cung thập tam
    nhiếp Nam khúc phổ” nói, không những “Mục Dương Ký” là tác phẩm của
    Mã Chí Viễn ngay cả “Phong Lưu Lý Miễn tam phu tâm ký” và “Tiêu Thục
    Trân tế phần trùng hội nhân duyên ký” cũng là Mã Chí Viễn hợp tác với
    người khác hoàn thành.
    Nhưng nhà văn học đời Minh Từ Vị, trong “Nam từ tự lục”, đem “Mục
    Dương Ký” quy vào “vở cũ đời Tống Nguyên”, không nêu rõ tác giả chứng
    tỏ Từ Vị giữ thái độ hoài nghi hoặc phủ định đối với thuyết đó.
    Học trò của Từ Vị, Vương Ký Đức trong Khúc tuyến trực tiếp chỉ ra: “Mục
    Dương Ký” quê kệch dung tục, quyết không phải là một tác gia tạp kịch nổi
    tiếng nào đó viết.
    Điều đáng chú ý hơn cả là thuyết về “Mục Dương Ký” xuất từ thủ bút của
    Mã Chí Viễn, hơn hai trăm năm sau khi Mã Chí Viễn chết mới xuất hiện.






    10. BI KỊCH CỔ CÓ TỪ THỜI
    NÀO ?


    Nói đến bi kịch cổ điển Trung Quốc, làm ta nhớ ngay đến vở “Đậu Nga oan”
    ở đời Nguyên.Vở kịch đã vạch trần hành vi tội ác của giai cấp thống trị áp
    bức nhân dân, đã kích nền chính trị thoái nát của xã hội lúc bấy giờ, đó là bi
    kịch điển hình xuất sắc thâm trầm nhất trong lịch sử hí khúc Trung Quốc
    Vở “Đậu Nga oan” bảy tám trăm năm xưa, chắc chắn là vở bi kịch cổ điển
    tương đối sớm. Nhưng nếu bảo bi kịch cổ điển bắt đầu từ vở “Đậu Nga oan”
    thì có rất nhiều ý kiến khác nhau.
    Có học giả cho rằng, vào thế kỷ thứ 12, theo với hí kịch chính thức hình
    thành trên cơ sở Nam hí, tạp kịch Bắc thì bi kịch cổ điển liền theo đó mà nảy
    sinh. Trong một số hí kịch nổi tiếng đương thời nhụ vở “Vương Khôi”, Quế
    Anh chết cũng không loại bỏ ý định trừng phạt kẽ phụ bạc Vương Khôi ;
    trong “Bạch thỏ ký”. Lý Tam Nương rơi lệ tố cáo anh vàchị dâu, “Triệu
    Trinh Nữ” đã kích bọn văn nhân vô ơn bạc nghĩa là những vở có sắc thái bi
    kịch sâu đậm.
    Có chuyên gia học giả đề ra, bi kịch cổ điển Trung Quốc bắt nguồn từ cuối
    thế kỷ thứ 6, sang đầu thế kỷ thứ 7.
    Lúc bấy giờ, phía Bắc Trung Quốc, lưu hành nội bộ ca vũ kịch có qui mô lớn
    “Đạp dao nương”. Bộ ca vũ kịch này ai oán như khóc như than, lời ca của nó
    bi hùng rắn rỏi, từ hình thức đến nội dung đều phù hợp với yếu tố bi kịch cần
    có.
    Bởi vậy có người coi “Đ
     
    Gửi ý kiến

    THƯ VIỆN TIỂU HỌC MAI CHÂU MỞ RA CÁNH CỬA DIỆU KỲ

    Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    DANH NGÔN VỀ SÁCH

    Một cuốn sách hay trên giá sách là một người bạn, dù quay lưng lại nhưng vẫn là bạn tốt”. Vậy tại sao chúng ta lại quay lưng với người bạn tốt?Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    SỰ TÍCH CÂY NÊU NGÀY TẾT

    GTS THÁNG 3 LÒNG HIẾU THẢO

    XIN ĐỪNG LÀM MẸ KHÓC


    TẬP SAN MỪNG ĐẢNG MỪNG XUÂN

    Một thư viện tốt là trái tim của nhà trường – nơi nuôi dưỡng trí tuệ và tâm hồn học sinh

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC MAI CHÂU TỈNH PHÚ THỌ !

    “Sách mang trong mình sứ mệnh đưa độc giả đi du lịch khắp muôn nơi mà không cần di chuyển một bước.” – Jumpa Lahiri