Những ngã tư và những cột đèn

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Đàm Thị Hằng
Ngày gửi: 14h:47' 30-01-2026
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 0
Nguồn:
Người gửi: Đàm Thị Hằng
Ngày gửi: 14h:47' 30-01-2026
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Tác phẩm: Những ngã tư và những cột đèn
Tác giả: Trần Dần
Thể loại: Tiểu thuyết
Nhà phát hành: Nhã Nam
Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn
Năm xuất bản: 10/2014
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
I
Đông 1954
II
III
Xuân 1955
Hè 1955
IV
V
VI
Thu 1955
VII
VIII
Tối thứ bảy
Sáng thứ hai
Đông 1955
IX
X
XI
9 giờ khói
XII
XIII
XIV
XV
XVI
TRẦN DẦN 1926-1997
TRẦN DẦN (1926-1997) sinh tại Nam Định. Năm 1948 ông gia nhập Vệ
Quốc Đoàn, và năm 1954 tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.
Năm 1994, tập thơ Cổng tỉnh được xuất bản, sau đó được Giải thưởng của
Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 2007 ông được truy tặng Giải thưởng Nhà
nước về Vãn học Nghệ thuật, năm 2008 giải Thành tựu trọn đời của Hội
Nhà văn Hà Nội và năm 2009 tác phẩm Trần Dần - THƠ được trao Giải
thưởng Văn học Nghệ thuật Thủ đô.
Những tác phẩm của Trần Dần do Nhã Nam xuất bản:
- Trần Dần - THƠ
- Đi! Đây Việt Bắc
- Những ngã tư và những cột đèn
LỜI NÓI ĐẦU
Tác giả và tác phẩm có bao giờ chia nhau cùng số phận? Có bao giờ đi
bên nhau suốt hành trình cuộc đời? Trần Dần và Những ngã tư và những cột
đèn của ông có lẽ là những ngoại lệ, có xa cách, có hội ngộ, và mỗi bên theo
đuổi một số phận khác thường.
Trần Dần viết Những ngã tư và những cột đèn sau một thời gian tiếp
xúc với nhiều ngụy binh cũ thời Pháp thuộc. Sở Công an Hà Nội đã cấp giấy
phép ra vào trại giam, để sau đó bản thảo được gửi lên Sở Công an, khi đã
hoàn thành. Đây là bản viết tay duy nhất, đề năm 1966.
Cuộc chia tay của tác giả và tác phẩm kéo dài 22 năm. Một ngày năm
1988 Sở Công an Hà Nội mang bản thảo trả lại Trần Dần, tại nhà riêng, cùng
tập thơ chép tay Cổng tỉnh. Tất cả vẫn còn nguyên vẹn. Nhưng toàn bộ các
nhà xuất bản đều từ chối ông, cùng Những ngã tư và những cột đèn, mặc dù
trên danh nghĩa, Trần Dần và các bạn của ông thời Nhân văn-Giai phẩm đã
được Hội Nhà văn chính thức ra quyết định phục hồi năm 1987.
Những ngã tư và những cột đèn, cùng mọi tác phẩm khác, lại bị trả vào
ngăn kéo. Phải chờ thêm bốn năm sau ngày nhận lại hội tịch, tác phẩm đẩu
tiên của Trần Dần mới được xuất bản, năm 1990, là cuốn Bài thơ Việt Bắc.
Trước khi Trần Dần mất hẳn khả năng làm việc, vì bệnh tật, ông đã
quay trở lại với Những ngã tư và những cột đèn một lần nữa, lần cuối cùng.
Ông chép lại, và sửa chữa chủ yếu về văn phong. Trong nhật ký 1989, ông
nhắc nhiều lần về tiểu thuyết này, ông còn muốn viết một tiểu thuyết nữa.
Thế rồi một Những ngã tư và những cột đèn khác ra đời, nhưng cũng là lúc
ông khép lại nhật ký đời ông, khép lại những Sổ bụi, cùng toàn bộ sáng tác.
Đấy là những ngày giao thừa giữa năm 1989 và 1990.
Lần xuất bản thứ nhất này, của Những ngã tư và những cột đèn, sẽ đánh
dấu 21 năm nữa, từ ngày bản thảo được sửa chữa. Và 44 năm, sau ngày tiểu
thuyết được hoàn thành.
Những ngã tư và những cột đèn có thể là một tiểu thuyết về chiến tranh,
như lời thông báo của anh nhà văn không tên, ở trang đầu cuốn sách? Những
tình bạn, những tình yêu, đã đi qua chiến tranh, đi qua hòa bình, rồi lại rơi
vào chiến tranh, có còn nguyên vẹn? Và những tính cách, thói quen con
người, có thể nào không thay đổi cùng hoàn cảnh? Không một cảnh chiến
tranh, nhưng hai chữ chiến tranh đi vào tiểu thuyết ngay từ trang một và trôi
theo nhật ký, như một ám ảnh, cho đến trang cuối cùng. Chiến tranh do vậy,
tồn tại như một bè đệm. Để “con người TOÀN PHẦN và CỤ THỂ vẫn tiếp
tục trong chiến tranh. Và mạnh hơn chtến tranh”, Trần Dần kể như vậy, về
Những ngã tư và những cột đèn, trong nhật ký 1989.
Nhưng bản thảo lần thứ hai còn mang thêm một bè đệm khác, cả anh
ngụy binh cũ tên Dưỡng, cả anh nhà văn không tên, đều chia nhau cùng một
suy tư, về hiện tại, về quá khứ. Họ xử sự với thời gian cùng một cách.
Dưỡng tính thời gian theo lối của riêng anh: để gọi tên mùa thu là mùa đông,
để ngày tiếp quản tháng Mười trở thành mồng một Tết. Anh nhà văn đi tìm
những định nghĩa về thời gian, luôn luôn nhầm lẫn giữa tuần lễ bảy ngày và
Chủ nhật. Thời gian của toàn bộ tiểu thuyết di chuyển liên tục, từ 11 năm
trước, đến 11 năm sau, rồi lại về 11 năm trước, vậy thì đâu sẽ là hiện tại
thực? Dường như những nghi vấn của họ với thời gian, thực chất để đòi
những câu hỏi khác về trách nhiệm của người đang sống, đối với hiện tại, và
quá khứ.
Trong một trang nhật ký 1989 Trần Dần viết: “Người ta nói nhiều, đến
bố cục, chủ đề, í đồ không rõ… Xong người ta bàng hoàng và bảo: in cái này
hơn Người người lớp lớp. Vâng, đúng là xa lạ. Tôi tuyên ngôn: tào lao xông xênh - bàng hoàng. Vô hình, nhưng rõ rệt. Hiện hữu vô hình ấy, là một
thực thể. Bàng hoàng ở đó. Bàng hoàng ở những ngã tư. Ai chẳng luôn gặp,
những ngã tư. Để rẽ đường nào?” Rồi ở một trang khác, ông lại quay về
Những ngã tư và những cột đèn: “Đời lắm ngã tư? Rẽ một ngã tư là trách
nhiệm sinh tử, phải cẩn thận, kẻo hối bất kịp. Nhưng cẩn thận, không có
nghĩa tính toán, chi li, chi hoe, mà trực cảm mang hết mình, ngửi ngửi ngã tư
cẩn trọng rồi hãy rẽ”. 45 năm, kể từ ngày nhà văn bắt đầu chép lại cũng bằng
mực tím “250 trang nhật kí, lem nhem mực tím” của anh ngụy binh Dưỡng,
cho đến hôm nay, những ngã tư của tiểu thuyết vẫn đóng kín. Đây là “những
ngã tư đời láo nháo nốt chân. Láo nháo cột đèn láo nháo đèn” của thế kỷ đã
qua. Hôm nay, một ngày năm 2010, chúng mở cửa nằm chờ những bước
chân độc giả, để gặp gỡ một thế hệ mới.
Vũ Văn Kha
Kính gửi đồng chí đánh máy. Đề nghị đồng chí, nếu có thể, chú í cho mấy
điểm:
1. Về trình bày, cứ đánh liền không xuống dòng. Chữ đầu đánh luôn từ đầu
dòng, không thụt vào. Coi như cuốn sách gồm từng ô, như ô ruộng đầy chữ.
Giữa các ô có những vệt trắng, 1 dòng, 3 dòng, 5 dòng, tùy theo, như những
bờ vùng, bờ thửa. Những vệt trắng này, xin để trắng, đừng đánh sao.
2. Chỗ nào đề bằng con số, xin cứ đánh con số. Ví dụ: 8 giờ 30, mùa đông
1959, v.v…
3. Chữ y, trong cuốn sách này, đa trường hợp viết lại là i, xin cứ đánh i.
4. Có những chữ dính liền, ví dụ Cônhăc, Côtab, Lily, xin cứ để dính liền.
5. Những chữ điệp nhiều nguyên âm, ví dụ xìì, khèè, v.v…, xin cứ để như
thế.
Tôi đề nghị như vậy, không phải vì tôi muốn lập dị. Tôi rất cám ơn.
Hà Nội 1965, TRẦN DẦN
“Tội phạm, và các thứ tội phạm, phải tự gánh lấy tội lỗi của mình”.
I
Tháng sáu 1965. Tôi ngồi một ngày không rõ thứ hai hay chủ nhật. Những
xê dịch lủng củng, lỉnh kỉnh, của các con số, làm sao giúp tôi luôn luôn 37°
không lên cơn sốt? Bên này cửa sổ tôi tím: có nhật kí và bản sao nhật kí, có
lọ mực tím và bản thảo lem nhem mực tím. Bên kia cửa sổ tôi xanh: có sáu
cây bàng lá xanh và nhiều căm nhông xanh quân sự đậu, có tháng sáu vắng
và phố thời chiến vắng lặng. Tôi không tìm được, ở đâu trong nhật kí, trang
cuối một cuộc chiến tranh, và ở đâu, trang đầu một cuộc chiến tranh nữa.
Nhưng tôi biết, một buổi chiều bình thường, bỗng dưng ngoảnh lại, đã thấy
những đám khói sau lưng. Một buổi chiều khác, đã thấy chiến tranh bao vây
mọi phía, lấp kín mọi lối đi về. Tôi chuẩn bị một cuốn sách, chép lại từ 250
trang nhật kí, lem nhem mực tím, xen lời kể các nhân chứng, của chiến
tranh, của tình bạn, tình iêu. Tôi đi ngược lại thời gian, ngược về những
ngày, chiến tranh còn lấp lửng, trong hòa bình. Tôi chuẩn bị cất vào thời
gian, những lưu niệm phức tạp, và cả những không vui nào nữa. Nhật kí bắt
đầu một buổi tối, không chính xác, năm 1954. Anh Dưỡng là chủ nhân, của
nhật kí. Anh thuộc con số những người tham gia trực tiếp hai cuộc chiến
tranh, mỗi lần trên một chiến tuyến. Hai cuộc chiến tranh, là hai cuộc đời,
không thể chia sẻ, cho nhau. Hai cuộc chiến tranh, là quá khứ của anh, là
tương lai của anh, cũng chẳng thể liên quan được đến nhau. Giữa hai cuộc
chiến tranh, là ba cuốn sổ tay, khổ 20x18, loại bìa dằn di. Sau này các cửa
hàng mậu dịch quốc doanh không bán loại sổ tay này nữa. Sau này tôi hiểu
tại sao, anh Dưỡng đã không chọn, những sổ tay bìa hoa hồng, hoặc hoa sen,
hoặc hoa đào. Giữa hai cuộc chiến tranh, là nhật kí.
Không biết, tôi đã đọc ở đâu, một í kiến về thời gian, như thế này: hiện tại
được coi, như biên giới của hai KHÔNG. Cái KHÔNG thứ nhất là dĩ vãng,
vốn đã có, bây giờ không có nữa. Cái KHÔNG thứ hai là tương lai, bây giờ
chưa có, vì vậy bây giờ cũng không. Hiện tại chính là khoảng sột soạt giữa
hai bờ vực ấy, giữa hai cái KHÔNG ấy. Cho nên hiện tại cũng không là gì
cả. Í kiến này giúp đỡ tôi, trong nhiều năm dài, và giải thích vì sao, có động
từ hi vọng, vì sao, có động tác ghi nhật kí. Cả hai đều xảy ra, vào một thời
điểm, mang tên hiện tại, nhưng trong một khoảnh khắc nhất định. Khoảnh
khắc này có thể đo được, bằng những giọt đồng hồ, bằng những quyển lịch,
tức là bằng những đồ vật hiện hữu. Những đồ vật hiện hữu, do đó, đã giúp
cho hiện tại, từ KHÔNG trở thành CÓ. Chính vì vậy mà người đời ghi nhật
kí, và cũng chính vì vậy, nhật kí bắt buộc phải bắt đầu, bằng những con số
hiện hữu, là ngày, là giờ, là thứ tự của tuần, của tháng, của năm, của mùa.
Dường như làm như vậy, hiện tại sẽ được khẳng định rõ ràng, vào một chỗ í
nghĩa, trên đường tuyến tính, của thời gian, từ trái sang phải, theo chiều mũi
tên bay.
Đông 1954
I như trong thánh kinh: tôi bắt đầu viết nhật kí bằng mực tím. I như trong
thánh kinh: tôi chạy trốn. Và cũng i như trong thánh kinh: 24 giờ trước khi
bắt đầu nhật kí, tôi tháo hết đạn, vứt xuống cống. Tôi mang súng sang nhà
chị Hòa, vào một lúc do dự, giữa chiều và tối. Chị lên nhà trên tiếp tôi. Chưa
bao giờ tôi đứng gần chị, cho nên nhân dịp này, tôi ngắm chị lâu hơn. Má chị
vừa hơ lửa bếp đỏ ửng, vì vậy vẫn còn mồ hôi, mấy hạt trên trán, vì vậy mặt
chị đẹp rạng rỡ. Và vì vậy người chị thon, chắc nịch có mùi gái quê. Tôi nộp
khẩu súng côn cho chị. Tay tôi chạm phải tay chị, được một lúc: cả hai bàn
tay đều ấm nóng. 7 phút đứng gần chị Hòa, tôi hỏi được bốn câu tóm tắt, chị
Hòa trả lời tôi, bốn lần ngắn gọn. Thế rồi tôi về, vào một lúc do dự giữa
chiều và tối, giữa một cơn rét bất chợt mùa đông. Ngoài phố vắng bởi vì các
cửa sổ, 5 giờ đã khép chặt. Gặp ngày mưa gió sậm sịt như thế này, các cửa
hàng khóa cửa từ 4 giờ. Đêm chỉ còn tí đèn nhà Bur, và nhà đèn đỏ đầu phố.
Từ 30 ngày tôi lên kế hoạch đi trốn, ở thành phố tôi trộm cướp cả ngày cả
đêm. Từ một tháng gió lạnh thổi về, dăm thằng nhảy dù, dăm thằng tàu bò
như tôi hợp nhau sẵn súng, ập nhà dân tống tiền. Thế là thành phố loạn. Thế
là buổi tối bây giờ, Hà Nội đi ngủ sớm. Quan lính các đảng phái, thằng nào
cũng tìm đủ cách vơ vét, lấy tí vốn rồi cút. Tôi không chú í vơ vét. I như
trong thánh kinh tôi chú í đi trốn, sĩ quan cũng vô khối thằng trốn. Tối nay
bộ đội đã đóng đến Mai Linh, để trong thành tối nay, quân hồi vô phèng. 23
giờ trước nhật kí, tôi cải trang làm thợ. Tôi vận mũ xanh, quần vải xanh, áo
vải xanh, thêm áo len và giày batkêt xanh. Tôi đeo chiếc bị cói bên trong
nhét vừa chiếc khăn mặt, và một bộ đồ để thay, cả hai đều nhuộm cùng một
màu xanh.
23 giờ trước nhật kí, Cốm nói: “Anh đi cẩn thận nhé” và rơm rớm nước mắt.
Tôi trả lời: “Cốm ở nhà cẩn thận” rồi hôn một chiếc, chả ra đâu vào đâu. Tôi
vỗ vào hông Cốm: tôi lo cô vợ, ở lại một mình, trong cái tình hình hủi này.
Tôi dặn: “Đêm, Cốm sang ngủ nhà chị Hòa nhé”. Cốm nói: “Em lên mẹ”.
Tôi nói: “Lên đấy, mỡ để miệng mèo. Nhà mẹ ba phía, ba cái liếp tre, một
bên thằng commăngđô, một bên thằng nhảy dù. Cốm cứ sang nhà chị Hòa”.
Tôi hôn chiếc nữa, vì dạy mãi, Cốm vẫn chưa biết hôn. Sau đó tôi xách bị,
một mình ra cổng. Tôi sợ hàng xóm phát hiện. Tôi cũng lo, trên đường chạy
trốn, bất ngờ tôi chạm trán tụi biệt kích đi tuần đêm. Tụi chúng có lẽ đang
đứng đợi, trong bóng tối. Và im lặng, sau một gốc cây, một cột đèn mù. Tôi
vội vã đi. Mưa một tí do dự. Đêm không màu. Đường không người. Tôi
bước, đã nhiều bước chân. Đã qua nhiều con đường không cây, con đường
có cây, cột điện không đèn, cột đèn không điện. Tôi để lại sau lưng, nhiều
ánh điện thành phố. Và vô khối giọt mưa đêm, không đếm được. Hà Nội lùi
xa rồi, chỉ còn li ti những chấm sáng, như một bãi cát nhỏ, phủ đầy sao rụng.
Không nhìn được rõ ràng, nhưng tôi biết: lúc nào trên đường nhựa, lúc nào
đường đất. Mọi con đường đều dẫn tôi đi mãi, vào sâu trong đêm. Bởi vì
càng đi, càng thêm đêm, mưa càng thêm mưa. Từ cơn mưa, tụi biệt kích bắt
người đi đêm, sẽ bất chợt bước ra. Phía xa kia, là đồng không mông quạnh.
Đi hết đồng không, tôi gặp hàng cây, con đường, những cột điện không đèn.
Đi hết hàng cây, lại đến đồng không. Đi nữa, lại gặp, cột đèn không điện. Do
vậy lúc nào cũng không, không cả những vì sao lạ. Có bao nhiêu vì sao đêm
nay, trên cao, cả quen cả không quen, đều rơi hết vào nội thành Hà Nội. Để
mặc đêm ngoại thành, tối như mực. Những cánh đồng, vừa đi qua, và sắp
sửa đi qua, tôi biết 2/3 là những ụ mả, cái tròn cái dẹt, còn 1/3 là cỏ dại. Đêm
và mưa, xóa nhòa hết cả: đồng mả trở thành đồng không. Đêm và mưa, cũng
che đi nhưng không hết, mọi kỉ niệm của chiến tranh. Không nhìn thấy,
nhưng tôi ngửi được, chỗ nào súng đạn đã đi qua, chỗ nào phong cảnh ban
ngày, sẽ rất buồn. I như trong thánh kinh: đêm nay tôi bỏ rơi một chiến
tuyến. I như trong thánh kinh: thằng đào ngũ chạy trốn vào mưa. Và cũng i
như trong thánh kinh: kẻ hạnh phúc không nhìn thấy đường, mà vẫn bước đi,
cho nên tôi mò đường về Lai Thụ. Có một lúc, đồng hồ đeo tay nhấp nháy,
để nhắc nó dạ quang. Tôi phải kéo áo, trùm kín lại. Đến một khúc ngoặt, có
bên đường thình lình một bóng đen, làm trống ngực tôi hoảng loạn. Cái bóng
đen, hóa ra là cái gì đấy, cái gì đấy cuối cùng, không là cái gì cả. Nhiều lúc
sau, lại có thình lình một tiếng động trước mặt. Tôi phải đứng im, rồi từ từ,
ngồi xuống. Có lẽ đêm nay không chỉ một lần, không biết còn bao nhiêu lần,
để tìm một hòn đá. Tôi ném hòn đá, trong một thao tác quân sự, rồi ép ngực
xuống đất, nằm chờ im lặng. Chờ mãi, cho đến lúc tôi ù té chạy, trống ngực
đập rộn ràng. Tôi chạy, về được một cánh đồng, không mùi súng đạn, nhưng
dưới chân, toàn cây gai và cỏ dại mùa đông sũng nước. Gai nhọn đâm qua
lớp vải quần: thế là tôi lại chạy nhanh, cho hết cánh đồng không chủ, không
cả côn trùng sinh sống. Nhiều lúc sau nữa, tôi đứng im, không đợi trống
ngực trở về êm đềm, mà để nhớ lại, một dự định bị bỏ rơi, từ mấy ngày
trước. Tôi đứng im mà nghĩ: cũng có thể đi trốn, tại sao không, ngay trong
thành phố. Tôi moi sọ tôi, một lần cuối nữa, những địa chỉ quen thân, mà cái
nào cũng hủi. Không có chỗ nào trong Hà Nội để đi trốn. Chỉ có Lai Thụ.
Lai Thụ trước kia là quê mẹ, sau đó là bà dì tôi tốt bụng, sau đó nữa là hậu
phương. Bộ đội đã đóng quá cả Lai Thụ, đến tận Mai Lĩnh. Để tôi có thể an
toàn ẩn náu ở quê mẹ, đến ngày Tây xéo khỏi Hà Nội, tôi lại quay về.
24 giờ trước nhật kí, tôi nói với chị Hòa: “Tôi nghe chị trốn ở lại, nhưng tôi
lo”. Chị Hòa hỏi: “Anh lo thế nào?” Tôi nói: “Tôi đào ngũ, bây giờ tôi chạy
trốn, bây giờ tôi lo, ở nhà Tây sục đến bắt vợ tôi”. Chị Hòa nói: “Sáng mai
đúng 8 giờ 15, chúng tôi sẽ bày cách cho vợ anh, làm lá đơn lên trại đòi
chồng, vì bị quân ngũ giữ lại, 8 ngày rồi không về. Tình hình lúc này chúng
nhốn nháo, sẽ khất lần cho qua chuyện. Anh đừng lo. Chúng sẽ không làm gì
cô ấy đâu”. Tôi gật đầu. Chị Hòa hỏi, còn lo gì nữa không. Tôi nói: “Tôi
nghe đài lời kêu gọi tề ngụy, tôi đã hiểu. Chính phủ chọn kẻ lầm đường, kẻ
lạc lối, kẻ bị ép buộc, để khoan hồng. Tôi tự nguyên đi lính, cho nên tôi lo”.
Chị Hòa nói: “14 tháng trước anh không chống động viên, cho nên tối nay
anh sợ. Nhưng trong bốn hình thức của tự-nguyện-đi-lính, sẽ được chọn để
khoan hồng, anh thuộc hình thức thứ tư, cho nên anh đừng lo”. Tôi thở phào.
Chị Hòa vừa thẳng vừa ngọt, vừa khéo léo vừa thật thà, vừa nghiêm khắc
vừa thân tình, vừa chính xác vừa nữ tính, tôi nghe lọt tai. Tôi nói: “Thôi chào
chị tôi đi”. Chị Hòa nói: “Anh đi nhé”. Mặt chị vẫn đỏ ửng, môi cũng đỏ.
Thế là tôi về.
22 giờ trước nhật kí: tôi dừng chân ở một điểm do dự trên đường chạy trốn.
Tôi chưa bao giờ, rời xa thành phố tôi sống, bởi vì những địa điểm khác, tất
cả mọi quê hương, đều xa lạ như chiếc áo tôi mặc không vừa. 21 giờ trước
nhật kí, một đêm đầu đông rét sớm, tôi vẫn đứng băn khoăn, giữa hai dự
định khó khăn, giữa Lai Thụ và Hà Nội, trong bóng tối tràn ngập mọi hàng
cây, con đường. Thế rồi dưới cơn mưa lất phất, tôi quay lại Hà Nội. Tôi
không đi Lai Thụ nữa. 21 giờ trước nhật kí, ánh điện thành phố vàng hoe,
trước mặt tôi, nhòe lẫn vào mưa.
19 giờ trước nhật kí: tôi vào nhà, bằng lối vườn. Rồi gọi khẽ ở cửa sổ. Tôi
gọi: “Cốm, Cốm”, cửa vẫn đóng kín. Có một tiếng động nhẹ nhàng, trong
nhà. Cốm có lẽ đã dậy. Tôi gọi khẽ: “Anh đây mở cửa”. Cốm trong nhà nói:
“Anh đấy à? Cửa sổ em buộc kĩ. Anh ra cửa trước”. Tôi vòng ra trước nhà,
qua cái sân gạch, ở đó có cái bể nước. Tôi lên bốn bậc thềm gạch. Có tiếng
bàn ghế xê dịch: là những bàn ghế Cốm dùng, để chặn cửa. Cốm không bật
điện. Cửa mở, tôi ôm chầm Cốm, bằng một chiếc hôn, rất ra thế nào. Cốm
cuống lên, mừng, rồi lại lo. Cốm nói: “Không trôi chảy à anh?” Tôi thì thầm
mấy câu giải thích, tiện thể cắn nhẹ vào tai Cốm, một cái. Rồi lại hôn nữa,
một chiếc hôn xinê. Người Cốm nóng hổi. Thế là tôi và Cốm bắt tay ngay
vào việc. Hai đứa xuống kho, ớ dưới nhà ngang. Kho lúc nào cũng đủ thứ
đồng nát: rế rách đè chổi cùn, đống sắt gỉ đè cánh cửa hỏng. Nhiều thứ đã
nằm đây từ thời bố tôi, phải dỡ ra khá nhiều, để lấy lối đi. Chuột thấy người
thì bỏ chạy, lúc rúc. Mùi gián mọt xông lên, hôi rình. Vào sát bức tường cuối
kho. Tôi lật tấm ván. Và rọi đèn pin. Cốm hỏi: “Thế nào anh?” Tôi nói:
“Suỵttt” rồi chui xuống hầm. Theo ánh đèn pin, đường ngầm lộ dần: hầm ăn
thông ra tận vườn, ngay chỗ búi tre đổ rác. Nắp hầm bằng ván lim, nằm im
lìm, vì đất nén và rác đổ nhiều quá phía trên, và vì bao nhiêu năm rồi hầm bỏ
không. Tôi đã đào, để trốn động viên, 15 tháng trước. 1 tháng sau, đường
hầm đóng lại, vì mẹ tôi chạy tiền thằng Macxen, đưa tôi vào ngụy. Nhưng
được làm lính ôtô cho an toàn, và gần phố, gần nhà. Đêm nay trở lại khúc
đường ngầm của nhiều năm trước, để tôi và Cốm, suốt đêm, cùng sửa chữa
hầm.
24 giờ sau: thế là tôi đã bắt đầu nhật kí, từ 5 giờ, bằng mực tím. Tôi đi trốn,
ở chính nhà tôi. Phố xóm và bạn bè không biết. Tôi ăn ngủ trong kho. Trên
một ổ rơm khô. Cửa kho bị khóa lại. Sáng nay, Cốm đến gặp chị Hòa đúng 8
giờ 15, để cùng chị làm lá đơn lên trại đòi chồng. Cốm ngày ngày kín đáo
đem vào cơm nóng, cà phê và rượu ngon. Tôi đái vào bô. Trong kho tôi có
thể nhìn, qua sân qua cổng, kiểm soát một khúc ngõ, một mảnh phố bên
ngoài. Vợ chồng ban đêm vẫn… vợ chồng. Em Cốm cũng ngủ luôn, trên ổ
rơm khô. Những trò hủi trong thành phố lúc này, tôi không nghĩ tới nữa. Tôi
mang truyện trinh thám vào kho đọc suốt ngày.
Em Cốm không biết lấy tin ở đâu, mà ngày nào về cũng kể cho tôi. I như
trong thánh kinh: mấy thằng bạn thân của tôi đều chạy trốn. Thằng Chắt đào
ngũ, trốn ra hậu phương. Thằng Đoành và Tình Bốp là hai thằng tôi thân
nhất, thì trốn quanh, trong thành phố. Thằng Đoành là ca sĩ nam trầm ở đội
Gamô, có thể hát bật tung cửa sổ nhà thờ. Còn Tình Bốp là bạn đồng ấu với
tôi, hồi trèo me trèo sấu, hồi đi ném đá các cửa sổ. Nó bỏ học lớp 5. Tôi học
tiếp đến lớp 7. Nhiều năm trước nó đưa tôi đi, năm lần xem thoát i vũ, sáu
lần bắn súng đạn thật, bảy lần đánh nhau với bọn nhảy dù, trong tiệm rượu.
Ở trường nó thắt lưng bằng da thật. Chị nó là Lily. Chị nó rất hay cười, và
cười rất kĩ thuật, để mỗi lần chị nó cười, là phô ra hai hàng răng trắng, làm
cả hai dãy phố đều nghe tiếng. Hai dãy phố, là năm mươi số nhà quét vôi
vàng. Chị nó làm đĩ theo kiểu Mĩ. Chị nó nói: “Đĩ theo kiểu Pháp bây giờ
không ăn tiền”. Lily chị nó có khuôn mặt hình trái tim, môi đỏ như máu, eo
bụng rất nhỏ. I như trong thánh kinh: mùa hè Lily ở truồng, không quên mở
tung tất cả các cửa sổ trông ra phố, không quên chiếc thập ác đung đưa mạnh
dạn trước ngực. Nhưng Lily không đi đạo. Thuần những sĩ quan bảo hoàng
cao cấp đến thăm Lily. Hôm nào, trước nhà Lily có chiếc xe cao kều đậu, là
cả phố xanh mắt: xe của thằng Macxen Phòng Nhì. Macxen tây lai, cao
nhớn, đẹp trai. Nhà nó phố Hàng Vôi, xuống đây cốt để bắt người. Cả phố
đồn, nó chuyên đào tạo gián điệp nữ, cho nên phố nào nó cũng có ít nhất một
cô nhân tình. Nó mua nhà cho Lily. Nhà bên dãy số lẻ, có chiếc cổng sắt sơn
xanh. Tình Bốp cũng được nó dạy cách nuôi chó Bẹcgiê. Có lúc Tình Bốp
nuôi đến chục con trong nhà, nhâu nhâu như một đàn hổ. Tình Bốp nuôi chó
để bán lấy lãi. Có lúc phởn chí nó khoe cả cái chuyện khó tin. Nó nói: “Tao
táplô con chị tao luôn”. Không tin được, nhưng rồi cũng do nó bố trí, một
đêm xuân 18 tuổi, tôi được biết như thế nào cơn sung sướng không ngờ, mà
cô chị Lily đã đưa tôi vào. Khi vượt qua chiếc cổng sắt sơn xanh, tôi còn là
trai tân. Sáng hôm sau, khi bước ra phố, tôi đã từ chức ngây thơ. Từ đó thi
thoảng Lily cũng cho gọi tôi đến. Lần nào về rồi, cũng còn thấm thía, đến
mấy tháng. Thứ bảy tuần trước, tôi với Tình Bốp đi tửu, đến say mèm, để
bàn nhau trốn ở lại. Tôi nói: “Tao về Lai Thụ quê mẹ”. Tình Bốp nói: “Tao
có chỗ này rất xuya. Mày đi với tao thì đi. Ngay trong thành phố thôi. Đầm,
ta, lai, loai choai, đủ cả. Mày biết rồi chứ gì?” Tôi nói: “Nhà Macxen hả?”
Nó nói: “Mày khắc hiểu lấy. Chỗ ấy, thần tiên không chịu được. Mày còn
chưa bao giờ biết mùi. Con chị tao, chưa đi đến đâu. Có em chỉ mới nhìn
mày, mắt đưa vài cái, mày đã phải chảy… ra bằng hết”. Nghe vậy tôi muốn
quá, nhưng lại không muốn dính vào thằng Macxen, hủi mấy đời. Tôi kinh
thằng trùm Phòng Nhì này. Nghe cả phố kể chuyện nó huấn luyện nữ gián
điệp mà khiếp. Nữ gián điệp qua tay nó, phải có đủ 136 phép rùng rợn. Cô
nào ngúng nguẩy, Macxen bắt chổng mông, lấy chổi sơn quét, hoặc rỏ
têrêbăngtin vào bụng, hoặc xát lá han vào chỗ cần xát, rồi ném ra phố giữa
ban ngày, cho đứng đấy mà gãi. Tình Bốp được làm lính bàn giấy ở Bạch
Mai, chắc là do Macxen xin cho. Theo Tình Bốp kể, Macxen ngủ với Lily,
có lần bắt Tình Bốp đứng nhìn.
9 giờ tối. Tôi lột áo em Cốm. Hai đứa nằm trong kho. Dưới là ổ rơm. Trên là
chiếu hoa. Trên nữa là chăn cưới. Ngoài trời là mùa đông. Ngoài trời là cả
không gian heo may, và một đêm hiếm có không mưa. Thế là, tôi ở lại Hà
Nội thật, trong một nơi không địa chí bưu điện, không cả mây bay ngàn dặm.
I như trong thánh kinh: mai là ngày tiếp quản. Thành phố thế nào cũng xúc
động, mùi giao thừa. Tôi vuốt ve Cốm. Đêm nay mặc áo hở nách, nhưng
Cốm không có ngay cả một kĩ thuật hở nách. Cho nên bây giờ tôi lột áo
Cốm. Bây giờ Cốm nằm trên chiếu hoa, đúng vào chỗ một bông hoa rất lớn
và rất đỏ. Tôi không nghĩ đến
Tác giả: Trần Dần
Thể loại: Tiểu thuyết
Nhà phát hành: Nhã Nam
Nhà xuất bản: Hội Nhà Văn
Năm xuất bản: 10/2014
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU
I
Đông 1954
II
III
Xuân 1955
Hè 1955
IV
V
VI
Thu 1955
VII
VIII
Tối thứ bảy
Sáng thứ hai
Đông 1955
IX
X
XI
9 giờ khói
XII
XIII
XIV
XV
XVI
TRẦN DẦN 1926-1997
TRẦN DẦN (1926-1997) sinh tại Nam Định. Năm 1948 ông gia nhập Vệ
Quốc Đoàn, và năm 1954 tham gia chiến dịch Điện Biên Phủ.
Năm 1994, tập thơ Cổng tỉnh được xuất bản, sau đó được Giải thưởng của
Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 2007 ông được truy tặng Giải thưởng Nhà
nước về Vãn học Nghệ thuật, năm 2008 giải Thành tựu trọn đời của Hội
Nhà văn Hà Nội và năm 2009 tác phẩm Trần Dần - THƠ được trao Giải
thưởng Văn học Nghệ thuật Thủ đô.
Những tác phẩm của Trần Dần do Nhã Nam xuất bản:
- Trần Dần - THƠ
- Đi! Đây Việt Bắc
- Những ngã tư và những cột đèn
LỜI NÓI ĐẦU
Tác giả và tác phẩm có bao giờ chia nhau cùng số phận? Có bao giờ đi
bên nhau suốt hành trình cuộc đời? Trần Dần và Những ngã tư và những cột
đèn của ông có lẽ là những ngoại lệ, có xa cách, có hội ngộ, và mỗi bên theo
đuổi một số phận khác thường.
Trần Dần viết Những ngã tư và những cột đèn sau một thời gian tiếp
xúc với nhiều ngụy binh cũ thời Pháp thuộc. Sở Công an Hà Nội đã cấp giấy
phép ra vào trại giam, để sau đó bản thảo được gửi lên Sở Công an, khi đã
hoàn thành. Đây là bản viết tay duy nhất, đề năm 1966.
Cuộc chia tay của tác giả và tác phẩm kéo dài 22 năm. Một ngày năm
1988 Sở Công an Hà Nội mang bản thảo trả lại Trần Dần, tại nhà riêng, cùng
tập thơ chép tay Cổng tỉnh. Tất cả vẫn còn nguyên vẹn. Nhưng toàn bộ các
nhà xuất bản đều từ chối ông, cùng Những ngã tư và những cột đèn, mặc dù
trên danh nghĩa, Trần Dần và các bạn của ông thời Nhân văn-Giai phẩm đã
được Hội Nhà văn chính thức ra quyết định phục hồi năm 1987.
Những ngã tư và những cột đèn, cùng mọi tác phẩm khác, lại bị trả vào
ngăn kéo. Phải chờ thêm bốn năm sau ngày nhận lại hội tịch, tác phẩm đẩu
tiên của Trần Dần mới được xuất bản, năm 1990, là cuốn Bài thơ Việt Bắc.
Trước khi Trần Dần mất hẳn khả năng làm việc, vì bệnh tật, ông đã
quay trở lại với Những ngã tư và những cột đèn một lần nữa, lần cuối cùng.
Ông chép lại, và sửa chữa chủ yếu về văn phong. Trong nhật ký 1989, ông
nhắc nhiều lần về tiểu thuyết này, ông còn muốn viết một tiểu thuyết nữa.
Thế rồi một Những ngã tư và những cột đèn khác ra đời, nhưng cũng là lúc
ông khép lại nhật ký đời ông, khép lại những Sổ bụi, cùng toàn bộ sáng tác.
Đấy là những ngày giao thừa giữa năm 1989 và 1990.
Lần xuất bản thứ nhất này, của Những ngã tư và những cột đèn, sẽ đánh
dấu 21 năm nữa, từ ngày bản thảo được sửa chữa. Và 44 năm, sau ngày tiểu
thuyết được hoàn thành.
Những ngã tư và những cột đèn có thể là một tiểu thuyết về chiến tranh,
như lời thông báo của anh nhà văn không tên, ở trang đầu cuốn sách? Những
tình bạn, những tình yêu, đã đi qua chiến tranh, đi qua hòa bình, rồi lại rơi
vào chiến tranh, có còn nguyên vẹn? Và những tính cách, thói quen con
người, có thể nào không thay đổi cùng hoàn cảnh? Không một cảnh chiến
tranh, nhưng hai chữ chiến tranh đi vào tiểu thuyết ngay từ trang một và trôi
theo nhật ký, như một ám ảnh, cho đến trang cuối cùng. Chiến tranh do vậy,
tồn tại như một bè đệm. Để “con người TOÀN PHẦN và CỤ THỂ vẫn tiếp
tục trong chiến tranh. Và mạnh hơn chtến tranh”, Trần Dần kể như vậy, về
Những ngã tư và những cột đèn, trong nhật ký 1989.
Nhưng bản thảo lần thứ hai còn mang thêm một bè đệm khác, cả anh
ngụy binh cũ tên Dưỡng, cả anh nhà văn không tên, đều chia nhau cùng một
suy tư, về hiện tại, về quá khứ. Họ xử sự với thời gian cùng một cách.
Dưỡng tính thời gian theo lối của riêng anh: để gọi tên mùa thu là mùa đông,
để ngày tiếp quản tháng Mười trở thành mồng một Tết. Anh nhà văn đi tìm
những định nghĩa về thời gian, luôn luôn nhầm lẫn giữa tuần lễ bảy ngày và
Chủ nhật. Thời gian của toàn bộ tiểu thuyết di chuyển liên tục, từ 11 năm
trước, đến 11 năm sau, rồi lại về 11 năm trước, vậy thì đâu sẽ là hiện tại
thực? Dường như những nghi vấn của họ với thời gian, thực chất để đòi
những câu hỏi khác về trách nhiệm của người đang sống, đối với hiện tại, và
quá khứ.
Trong một trang nhật ký 1989 Trần Dần viết: “Người ta nói nhiều, đến
bố cục, chủ đề, í đồ không rõ… Xong người ta bàng hoàng và bảo: in cái này
hơn Người người lớp lớp. Vâng, đúng là xa lạ. Tôi tuyên ngôn: tào lao xông xênh - bàng hoàng. Vô hình, nhưng rõ rệt. Hiện hữu vô hình ấy, là một
thực thể. Bàng hoàng ở đó. Bàng hoàng ở những ngã tư. Ai chẳng luôn gặp,
những ngã tư. Để rẽ đường nào?” Rồi ở một trang khác, ông lại quay về
Những ngã tư và những cột đèn: “Đời lắm ngã tư? Rẽ một ngã tư là trách
nhiệm sinh tử, phải cẩn thận, kẻo hối bất kịp. Nhưng cẩn thận, không có
nghĩa tính toán, chi li, chi hoe, mà trực cảm mang hết mình, ngửi ngửi ngã tư
cẩn trọng rồi hãy rẽ”. 45 năm, kể từ ngày nhà văn bắt đầu chép lại cũng bằng
mực tím “250 trang nhật kí, lem nhem mực tím” của anh ngụy binh Dưỡng,
cho đến hôm nay, những ngã tư của tiểu thuyết vẫn đóng kín. Đây là “những
ngã tư đời láo nháo nốt chân. Láo nháo cột đèn láo nháo đèn” của thế kỷ đã
qua. Hôm nay, một ngày năm 2010, chúng mở cửa nằm chờ những bước
chân độc giả, để gặp gỡ một thế hệ mới.
Vũ Văn Kha
Kính gửi đồng chí đánh máy. Đề nghị đồng chí, nếu có thể, chú í cho mấy
điểm:
1. Về trình bày, cứ đánh liền không xuống dòng. Chữ đầu đánh luôn từ đầu
dòng, không thụt vào. Coi như cuốn sách gồm từng ô, như ô ruộng đầy chữ.
Giữa các ô có những vệt trắng, 1 dòng, 3 dòng, 5 dòng, tùy theo, như những
bờ vùng, bờ thửa. Những vệt trắng này, xin để trắng, đừng đánh sao.
2. Chỗ nào đề bằng con số, xin cứ đánh con số. Ví dụ: 8 giờ 30, mùa đông
1959, v.v…
3. Chữ y, trong cuốn sách này, đa trường hợp viết lại là i, xin cứ đánh i.
4. Có những chữ dính liền, ví dụ Cônhăc, Côtab, Lily, xin cứ để dính liền.
5. Những chữ điệp nhiều nguyên âm, ví dụ xìì, khèè, v.v…, xin cứ để như
thế.
Tôi đề nghị như vậy, không phải vì tôi muốn lập dị. Tôi rất cám ơn.
Hà Nội 1965, TRẦN DẦN
“Tội phạm, và các thứ tội phạm, phải tự gánh lấy tội lỗi của mình”.
I
Tháng sáu 1965. Tôi ngồi một ngày không rõ thứ hai hay chủ nhật. Những
xê dịch lủng củng, lỉnh kỉnh, của các con số, làm sao giúp tôi luôn luôn 37°
không lên cơn sốt? Bên này cửa sổ tôi tím: có nhật kí và bản sao nhật kí, có
lọ mực tím và bản thảo lem nhem mực tím. Bên kia cửa sổ tôi xanh: có sáu
cây bàng lá xanh và nhiều căm nhông xanh quân sự đậu, có tháng sáu vắng
và phố thời chiến vắng lặng. Tôi không tìm được, ở đâu trong nhật kí, trang
cuối một cuộc chiến tranh, và ở đâu, trang đầu một cuộc chiến tranh nữa.
Nhưng tôi biết, một buổi chiều bình thường, bỗng dưng ngoảnh lại, đã thấy
những đám khói sau lưng. Một buổi chiều khác, đã thấy chiến tranh bao vây
mọi phía, lấp kín mọi lối đi về. Tôi chuẩn bị một cuốn sách, chép lại từ 250
trang nhật kí, lem nhem mực tím, xen lời kể các nhân chứng, của chiến
tranh, của tình bạn, tình iêu. Tôi đi ngược lại thời gian, ngược về những
ngày, chiến tranh còn lấp lửng, trong hòa bình. Tôi chuẩn bị cất vào thời
gian, những lưu niệm phức tạp, và cả những không vui nào nữa. Nhật kí bắt
đầu một buổi tối, không chính xác, năm 1954. Anh Dưỡng là chủ nhân, của
nhật kí. Anh thuộc con số những người tham gia trực tiếp hai cuộc chiến
tranh, mỗi lần trên một chiến tuyến. Hai cuộc chiến tranh, là hai cuộc đời,
không thể chia sẻ, cho nhau. Hai cuộc chiến tranh, là quá khứ của anh, là
tương lai của anh, cũng chẳng thể liên quan được đến nhau. Giữa hai cuộc
chiến tranh, là ba cuốn sổ tay, khổ 20x18, loại bìa dằn di. Sau này các cửa
hàng mậu dịch quốc doanh không bán loại sổ tay này nữa. Sau này tôi hiểu
tại sao, anh Dưỡng đã không chọn, những sổ tay bìa hoa hồng, hoặc hoa sen,
hoặc hoa đào. Giữa hai cuộc chiến tranh, là nhật kí.
Không biết, tôi đã đọc ở đâu, một í kiến về thời gian, như thế này: hiện tại
được coi, như biên giới của hai KHÔNG. Cái KHÔNG thứ nhất là dĩ vãng,
vốn đã có, bây giờ không có nữa. Cái KHÔNG thứ hai là tương lai, bây giờ
chưa có, vì vậy bây giờ cũng không. Hiện tại chính là khoảng sột soạt giữa
hai bờ vực ấy, giữa hai cái KHÔNG ấy. Cho nên hiện tại cũng không là gì
cả. Í kiến này giúp đỡ tôi, trong nhiều năm dài, và giải thích vì sao, có động
từ hi vọng, vì sao, có động tác ghi nhật kí. Cả hai đều xảy ra, vào một thời
điểm, mang tên hiện tại, nhưng trong một khoảnh khắc nhất định. Khoảnh
khắc này có thể đo được, bằng những giọt đồng hồ, bằng những quyển lịch,
tức là bằng những đồ vật hiện hữu. Những đồ vật hiện hữu, do đó, đã giúp
cho hiện tại, từ KHÔNG trở thành CÓ. Chính vì vậy mà người đời ghi nhật
kí, và cũng chính vì vậy, nhật kí bắt buộc phải bắt đầu, bằng những con số
hiện hữu, là ngày, là giờ, là thứ tự của tuần, của tháng, của năm, của mùa.
Dường như làm như vậy, hiện tại sẽ được khẳng định rõ ràng, vào một chỗ í
nghĩa, trên đường tuyến tính, của thời gian, từ trái sang phải, theo chiều mũi
tên bay.
Đông 1954
I như trong thánh kinh: tôi bắt đầu viết nhật kí bằng mực tím. I như trong
thánh kinh: tôi chạy trốn. Và cũng i như trong thánh kinh: 24 giờ trước khi
bắt đầu nhật kí, tôi tháo hết đạn, vứt xuống cống. Tôi mang súng sang nhà
chị Hòa, vào một lúc do dự, giữa chiều và tối. Chị lên nhà trên tiếp tôi. Chưa
bao giờ tôi đứng gần chị, cho nên nhân dịp này, tôi ngắm chị lâu hơn. Má chị
vừa hơ lửa bếp đỏ ửng, vì vậy vẫn còn mồ hôi, mấy hạt trên trán, vì vậy mặt
chị đẹp rạng rỡ. Và vì vậy người chị thon, chắc nịch có mùi gái quê. Tôi nộp
khẩu súng côn cho chị. Tay tôi chạm phải tay chị, được một lúc: cả hai bàn
tay đều ấm nóng. 7 phút đứng gần chị Hòa, tôi hỏi được bốn câu tóm tắt, chị
Hòa trả lời tôi, bốn lần ngắn gọn. Thế rồi tôi về, vào một lúc do dự giữa
chiều và tối, giữa một cơn rét bất chợt mùa đông. Ngoài phố vắng bởi vì các
cửa sổ, 5 giờ đã khép chặt. Gặp ngày mưa gió sậm sịt như thế này, các cửa
hàng khóa cửa từ 4 giờ. Đêm chỉ còn tí đèn nhà Bur, và nhà đèn đỏ đầu phố.
Từ 30 ngày tôi lên kế hoạch đi trốn, ở thành phố tôi trộm cướp cả ngày cả
đêm. Từ một tháng gió lạnh thổi về, dăm thằng nhảy dù, dăm thằng tàu bò
như tôi hợp nhau sẵn súng, ập nhà dân tống tiền. Thế là thành phố loạn. Thế
là buổi tối bây giờ, Hà Nội đi ngủ sớm. Quan lính các đảng phái, thằng nào
cũng tìm đủ cách vơ vét, lấy tí vốn rồi cút. Tôi không chú í vơ vét. I như
trong thánh kinh tôi chú í đi trốn, sĩ quan cũng vô khối thằng trốn. Tối nay
bộ đội đã đóng đến Mai Linh, để trong thành tối nay, quân hồi vô phèng. 23
giờ trước nhật kí, tôi cải trang làm thợ. Tôi vận mũ xanh, quần vải xanh, áo
vải xanh, thêm áo len và giày batkêt xanh. Tôi đeo chiếc bị cói bên trong
nhét vừa chiếc khăn mặt, và một bộ đồ để thay, cả hai đều nhuộm cùng một
màu xanh.
23 giờ trước nhật kí, Cốm nói: “Anh đi cẩn thận nhé” và rơm rớm nước mắt.
Tôi trả lời: “Cốm ở nhà cẩn thận” rồi hôn một chiếc, chả ra đâu vào đâu. Tôi
vỗ vào hông Cốm: tôi lo cô vợ, ở lại một mình, trong cái tình hình hủi này.
Tôi dặn: “Đêm, Cốm sang ngủ nhà chị Hòa nhé”. Cốm nói: “Em lên mẹ”.
Tôi nói: “Lên đấy, mỡ để miệng mèo. Nhà mẹ ba phía, ba cái liếp tre, một
bên thằng commăngđô, một bên thằng nhảy dù. Cốm cứ sang nhà chị Hòa”.
Tôi hôn chiếc nữa, vì dạy mãi, Cốm vẫn chưa biết hôn. Sau đó tôi xách bị,
một mình ra cổng. Tôi sợ hàng xóm phát hiện. Tôi cũng lo, trên đường chạy
trốn, bất ngờ tôi chạm trán tụi biệt kích đi tuần đêm. Tụi chúng có lẽ đang
đứng đợi, trong bóng tối. Và im lặng, sau một gốc cây, một cột đèn mù. Tôi
vội vã đi. Mưa một tí do dự. Đêm không màu. Đường không người. Tôi
bước, đã nhiều bước chân. Đã qua nhiều con đường không cây, con đường
có cây, cột điện không đèn, cột đèn không điện. Tôi để lại sau lưng, nhiều
ánh điện thành phố. Và vô khối giọt mưa đêm, không đếm được. Hà Nội lùi
xa rồi, chỉ còn li ti những chấm sáng, như một bãi cát nhỏ, phủ đầy sao rụng.
Không nhìn được rõ ràng, nhưng tôi biết: lúc nào trên đường nhựa, lúc nào
đường đất. Mọi con đường đều dẫn tôi đi mãi, vào sâu trong đêm. Bởi vì
càng đi, càng thêm đêm, mưa càng thêm mưa. Từ cơn mưa, tụi biệt kích bắt
người đi đêm, sẽ bất chợt bước ra. Phía xa kia, là đồng không mông quạnh.
Đi hết đồng không, tôi gặp hàng cây, con đường, những cột điện không đèn.
Đi hết hàng cây, lại đến đồng không. Đi nữa, lại gặp, cột đèn không điện. Do
vậy lúc nào cũng không, không cả những vì sao lạ. Có bao nhiêu vì sao đêm
nay, trên cao, cả quen cả không quen, đều rơi hết vào nội thành Hà Nội. Để
mặc đêm ngoại thành, tối như mực. Những cánh đồng, vừa đi qua, và sắp
sửa đi qua, tôi biết 2/3 là những ụ mả, cái tròn cái dẹt, còn 1/3 là cỏ dại. Đêm
và mưa, xóa nhòa hết cả: đồng mả trở thành đồng không. Đêm và mưa, cũng
che đi nhưng không hết, mọi kỉ niệm của chiến tranh. Không nhìn thấy,
nhưng tôi ngửi được, chỗ nào súng đạn đã đi qua, chỗ nào phong cảnh ban
ngày, sẽ rất buồn. I như trong thánh kinh: đêm nay tôi bỏ rơi một chiến
tuyến. I như trong thánh kinh: thằng đào ngũ chạy trốn vào mưa. Và cũng i
như trong thánh kinh: kẻ hạnh phúc không nhìn thấy đường, mà vẫn bước đi,
cho nên tôi mò đường về Lai Thụ. Có một lúc, đồng hồ đeo tay nhấp nháy,
để nhắc nó dạ quang. Tôi phải kéo áo, trùm kín lại. Đến một khúc ngoặt, có
bên đường thình lình một bóng đen, làm trống ngực tôi hoảng loạn. Cái bóng
đen, hóa ra là cái gì đấy, cái gì đấy cuối cùng, không là cái gì cả. Nhiều lúc
sau, lại có thình lình một tiếng động trước mặt. Tôi phải đứng im, rồi từ từ,
ngồi xuống. Có lẽ đêm nay không chỉ một lần, không biết còn bao nhiêu lần,
để tìm một hòn đá. Tôi ném hòn đá, trong một thao tác quân sự, rồi ép ngực
xuống đất, nằm chờ im lặng. Chờ mãi, cho đến lúc tôi ù té chạy, trống ngực
đập rộn ràng. Tôi chạy, về được một cánh đồng, không mùi súng đạn, nhưng
dưới chân, toàn cây gai và cỏ dại mùa đông sũng nước. Gai nhọn đâm qua
lớp vải quần: thế là tôi lại chạy nhanh, cho hết cánh đồng không chủ, không
cả côn trùng sinh sống. Nhiều lúc sau nữa, tôi đứng im, không đợi trống
ngực trở về êm đềm, mà để nhớ lại, một dự định bị bỏ rơi, từ mấy ngày
trước. Tôi đứng im mà nghĩ: cũng có thể đi trốn, tại sao không, ngay trong
thành phố. Tôi moi sọ tôi, một lần cuối nữa, những địa chỉ quen thân, mà cái
nào cũng hủi. Không có chỗ nào trong Hà Nội để đi trốn. Chỉ có Lai Thụ.
Lai Thụ trước kia là quê mẹ, sau đó là bà dì tôi tốt bụng, sau đó nữa là hậu
phương. Bộ đội đã đóng quá cả Lai Thụ, đến tận Mai Lĩnh. Để tôi có thể an
toàn ẩn náu ở quê mẹ, đến ngày Tây xéo khỏi Hà Nội, tôi lại quay về.
24 giờ trước nhật kí, tôi nói với chị Hòa: “Tôi nghe chị trốn ở lại, nhưng tôi
lo”. Chị Hòa hỏi: “Anh lo thế nào?” Tôi nói: “Tôi đào ngũ, bây giờ tôi chạy
trốn, bây giờ tôi lo, ở nhà Tây sục đến bắt vợ tôi”. Chị Hòa nói: “Sáng mai
đúng 8 giờ 15, chúng tôi sẽ bày cách cho vợ anh, làm lá đơn lên trại đòi
chồng, vì bị quân ngũ giữ lại, 8 ngày rồi không về. Tình hình lúc này chúng
nhốn nháo, sẽ khất lần cho qua chuyện. Anh đừng lo. Chúng sẽ không làm gì
cô ấy đâu”. Tôi gật đầu. Chị Hòa hỏi, còn lo gì nữa không. Tôi nói: “Tôi
nghe đài lời kêu gọi tề ngụy, tôi đã hiểu. Chính phủ chọn kẻ lầm đường, kẻ
lạc lối, kẻ bị ép buộc, để khoan hồng. Tôi tự nguyên đi lính, cho nên tôi lo”.
Chị Hòa nói: “14 tháng trước anh không chống động viên, cho nên tối nay
anh sợ. Nhưng trong bốn hình thức của tự-nguyện-đi-lính, sẽ được chọn để
khoan hồng, anh thuộc hình thức thứ tư, cho nên anh đừng lo”. Tôi thở phào.
Chị Hòa vừa thẳng vừa ngọt, vừa khéo léo vừa thật thà, vừa nghiêm khắc
vừa thân tình, vừa chính xác vừa nữ tính, tôi nghe lọt tai. Tôi nói: “Thôi chào
chị tôi đi”. Chị Hòa nói: “Anh đi nhé”. Mặt chị vẫn đỏ ửng, môi cũng đỏ.
Thế là tôi về.
22 giờ trước nhật kí: tôi dừng chân ở một điểm do dự trên đường chạy trốn.
Tôi chưa bao giờ, rời xa thành phố tôi sống, bởi vì những địa điểm khác, tất
cả mọi quê hương, đều xa lạ như chiếc áo tôi mặc không vừa. 21 giờ trước
nhật kí, một đêm đầu đông rét sớm, tôi vẫn đứng băn khoăn, giữa hai dự
định khó khăn, giữa Lai Thụ và Hà Nội, trong bóng tối tràn ngập mọi hàng
cây, con đường. Thế rồi dưới cơn mưa lất phất, tôi quay lại Hà Nội. Tôi
không đi Lai Thụ nữa. 21 giờ trước nhật kí, ánh điện thành phố vàng hoe,
trước mặt tôi, nhòe lẫn vào mưa.
19 giờ trước nhật kí: tôi vào nhà, bằng lối vườn. Rồi gọi khẽ ở cửa sổ. Tôi
gọi: “Cốm, Cốm”, cửa vẫn đóng kín. Có một tiếng động nhẹ nhàng, trong
nhà. Cốm có lẽ đã dậy. Tôi gọi khẽ: “Anh đây mở cửa”. Cốm trong nhà nói:
“Anh đấy à? Cửa sổ em buộc kĩ. Anh ra cửa trước”. Tôi vòng ra trước nhà,
qua cái sân gạch, ở đó có cái bể nước. Tôi lên bốn bậc thềm gạch. Có tiếng
bàn ghế xê dịch: là những bàn ghế Cốm dùng, để chặn cửa. Cốm không bật
điện. Cửa mở, tôi ôm chầm Cốm, bằng một chiếc hôn, rất ra thế nào. Cốm
cuống lên, mừng, rồi lại lo. Cốm nói: “Không trôi chảy à anh?” Tôi thì thầm
mấy câu giải thích, tiện thể cắn nhẹ vào tai Cốm, một cái. Rồi lại hôn nữa,
một chiếc hôn xinê. Người Cốm nóng hổi. Thế là tôi và Cốm bắt tay ngay
vào việc. Hai đứa xuống kho, ớ dưới nhà ngang. Kho lúc nào cũng đủ thứ
đồng nát: rế rách đè chổi cùn, đống sắt gỉ đè cánh cửa hỏng. Nhiều thứ đã
nằm đây từ thời bố tôi, phải dỡ ra khá nhiều, để lấy lối đi. Chuột thấy người
thì bỏ chạy, lúc rúc. Mùi gián mọt xông lên, hôi rình. Vào sát bức tường cuối
kho. Tôi lật tấm ván. Và rọi đèn pin. Cốm hỏi: “Thế nào anh?” Tôi nói:
“Suỵttt” rồi chui xuống hầm. Theo ánh đèn pin, đường ngầm lộ dần: hầm ăn
thông ra tận vườn, ngay chỗ búi tre đổ rác. Nắp hầm bằng ván lim, nằm im
lìm, vì đất nén và rác đổ nhiều quá phía trên, và vì bao nhiêu năm rồi hầm bỏ
không. Tôi đã đào, để trốn động viên, 15 tháng trước. 1 tháng sau, đường
hầm đóng lại, vì mẹ tôi chạy tiền thằng Macxen, đưa tôi vào ngụy. Nhưng
được làm lính ôtô cho an toàn, và gần phố, gần nhà. Đêm nay trở lại khúc
đường ngầm của nhiều năm trước, để tôi và Cốm, suốt đêm, cùng sửa chữa
hầm.
24 giờ sau: thế là tôi đã bắt đầu nhật kí, từ 5 giờ, bằng mực tím. Tôi đi trốn,
ở chính nhà tôi. Phố xóm và bạn bè không biết. Tôi ăn ngủ trong kho. Trên
một ổ rơm khô. Cửa kho bị khóa lại. Sáng nay, Cốm đến gặp chị Hòa đúng 8
giờ 15, để cùng chị làm lá đơn lên trại đòi chồng. Cốm ngày ngày kín đáo
đem vào cơm nóng, cà phê và rượu ngon. Tôi đái vào bô. Trong kho tôi có
thể nhìn, qua sân qua cổng, kiểm soát một khúc ngõ, một mảnh phố bên
ngoài. Vợ chồng ban đêm vẫn… vợ chồng. Em Cốm cũng ngủ luôn, trên ổ
rơm khô. Những trò hủi trong thành phố lúc này, tôi không nghĩ tới nữa. Tôi
mang truyện trinh thám vào kho đọc suốt ngày.
Em Cốm không biết lấy tin ở đâu, mà ngày nào về cũng kể cho tôi. I như
trong thánh kinh: mấy thằng bạn thân của tôi đều chạy trốn. Thằng Chắt đào
ngũ, trốn ra hậu phương. Thằng Đoành và Tình Bốp là hai thằng tôi thân
nhất, thì trốn quanh, trong thành phố. Thằng Đoành là ca sĩ nam trầm ở đội
Gamô, có thể hát bật tung cửa sổ nhà thờ. Còn Tình Bốp là bạn đồng ấu với
tôi, hồi trèo me trèo sấu, hồi đi ném đá các cửa sổ. Nó bỏ học lớp 5. Tôi học
tiếp đến lớp 7. Nhiều năm trước nó đưa tôi đi, năm lần xem thoát i vũ, sáu
lần bắn súng đạn thật, bảy lần đánh nhau với bọn nhảy dù, trong tiệm rượu.
Ở trường nó thắt lưng bằng da thật. Chị nó là Lily. Chị nó rất hay cười, và
cười rất kĩ thuật, để mỗi lần chị nó cười, là phô ra hai hàng răng trắng, làm
cả hai dãy phố đều nghe tiếng. Hai dãy phố, là năm mươi số nhà quét vôi
vàng. Chị nó làm đĩ theo kiểu Mĩ. Chị nó nói: “Đĩ theo kiểu Pháp bây giờ
không ăn tiền”. Lily chị nó có khuôn mặt hình trái tim, môi đỏ như máu, eo
bụng rất nhỏ. I như trong thánh kinh: mùa hè Lily ở truồng, không quên mở
tung tất cả các cửa sổ trông ra phố, không quên chiếc thập ác đung đưa mạnh
dạn trước ngực. Nhưng Lily không đi đạo. Thuần những sĩ quan bảo hoàng
cao cấp đến thăm Lily. Hôm nào, trước nhà Lily có chiếc xe cao kều đậu, là
cả phố xanh mắt: xe của thằng Macxen Phòng Nhì. Macxen tây lai, cao
nhớn, đẹp trai. Nhà nó phố Hàng Vôi, xuống đây cốt để bắt người. Cả phố
đồn, nó chuyên đào tạo gián điệp nữ, cho nên phố nào nó cũng có ít nhất một
cô nhân tình. Nó mua nhà cho Lily. Nhà bên dãy số lẻ, có chiếc cổng sắt sơn
xanh. Tình Bốp cũng được nó dạy cách nuôi chó Bẹcgiê. Có lúc Tình Bốp
nuôi đến chục con trong nhà, nhâu nhâu như một đàn hổ. Tình Bốp nuôi chó
để bán lấy lãi. Có lúc phởn chí nó khoe cả cái chuyện khó tin. Nó nói: “Tao
táplô con chị tao luôn”. Không tin được, nhưng rồi cũng do nó bố trí, một
đêm xuân 18 tuổi, tôi được biết như thế nào cơn sung sướng không ngờ, mà
cô chị Lily đã đưa tôi vào. Khi vượt qua chiếc cổng sắt sơn xanh, tôi còn là
trai tân. Sáng hôm sau, khi bước ra phố, tôi đã từ chức ngây thơ. Từ đó thi
thoảng Lily cũng cho gọi tôi đến. Lần nào về rồi, cũng còn thấm thía, đến
mấy tháng. Thứ bảy tuần trước, tôi với Tình Bốp đi tửu, đến say mèm, để
bàn nhau trốn ở lại. Tôi nói: “Tao về Lai Thụ quê mẹ”. Tình Bốp nói: “Tao
có chỗ này rất xuya. Mày đi với tao thì đi. Ngay trong thành phố thôi. Đầm,
ta, lai, loai choai, đủ cả. Mày biết rồi chứ gì?” Tôi nói: “Nhà Macxen hả?”
Nó nói: “Mày khắc hiểu lấy. Chỗ ấy, thần tiên không chịu được. Mày còn
chưa bao giờ biết mùi. Con chị tao, chưa đi đến đâu. Có em chỉ mới nhìn
mày, mắt đưa vài cái, mày đã phải chảy… ra bằng hết”. Nghe vậy tôi muốn
quá, nhưng lại không muốn dính vào thằng Macxen, hủi mấy đời. Tôi kinh
thằng trùm Phòng Nhì này. Nghe cả phố kể chuyện nó huấn luyện nữ gián
điệp mà khiếp. Nữ gián điệp qua tay nó, phải có đủ 136 phép rùng rợn. Cô
nào ngúng nguẩy, Macxen bắt chổng mông, lấy chổi sơn quét, hoặc rỏ
têrêbăngtin vào bụng, hoặc xát lá han vào chỗ cần xát, rồi ném ra phố giữa
ban ngày, cho đứng đấy mà gãi. Tình Bốp được làm lính bàn giấy ở Bạch
Mai, chắc là do Macxen xin cho. Theo Tình Bốp kể, Macxen ngủ với Lily,
có lần bắt Tình Bốp đứng nhìn.
9 giờ tối. Tôi lột áo em Cốm. Hai đứa nằm trong kho. Dưới là ổ rơm. Trên là
chiếu hoa. Trên nữa là chăn cưới. Ngoài trời là mùa đông. Ngoài trời là cả
không gian heo may, và một đêm hiếm có không mưa. Thế là, tôi ở lại Hà
Nội thật, trong một nơi không địa chí bưu điện, không cả mây bay ngàn dặm.
I như trong thánh kinh: mai là ngày tiếp quản. Thành phố thế nào cũng xúc
động, mùi giao thừa. Tôi vuốt ve Cốm. Đêm nay mặc áo hở nách, nhưng
Cốm không có ngay cả một kĩ thuật hở nách. Cho nên bây giờ tôi lột áo
Cốm. Bây giờ Cốm nằm trên chiếu hoa, đúng vào chỗ một bông hoa rất lớn
và rất đỏ. Tôi không nghĩ đến
 





