Quê nội

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Bùi Thị Thêu
Ngày gửi: 10h:14' 13-09-2024
Dung lượng: 961.6 KB
Số lượt tải: 2
Người gửi: Bùi Thị Thêu
Ngày gửi: 10h:14' 13-09-2024
Dung lượng: 961.6 KB
Số lượt tải: 2
Số lượt thích:
0 người
Quê Nội
Võ Quảng
vietmessenger.com
Lời nói đầu
Khi giới thiệu quyển truyện Quê nội của Võ Quảng người ta bảo tôi: Đây là
một loại Tôm Xoyơ của Việt Nam. Đã từ lâu tôi rất thích tác phẩm Tôm
Xoyơ. Nhưng sau khi làm quen với tác phẩm của Võ Quảng tôi cảm thấy
mình còn thích các nhân vật Cục và Cù Lao hơn.
Võ Quảng đã đặt câu chuyện xảy ra tại chính quê hương mình, ấy là làng
Hoà Phước, tỉnh Quảng Nam, một tỉnh nằm giữa nước Việt Nam. Ở đây các
sự kiện nhỏ đặt liền nhau, khăng khít nhau tạo nên câu chuyện. Câu chuyện
bắt đầu sau Cách mạng tháng Tám, sau ngày lễ tuyên bố độc lập của nước
Việt Nam năm 1945, một thời kì mà mãi đến nay vẫn còn để lại dấu tích
trong nền văn học Việt Nam.
Tác phẩm phản ánh tâm trạng phấn khởi có phần hơi ngây thơ của dân làng,
lòng tin tưởng kì diệu của họ vào tương lai đất nước. Tôi đã có dịp hỏi vài
người từng sống trong thời kì ấy, khi họ còn trẻ. Ở họ đều còn đọng lại một
niềm thương nhớ thắm thiết.
Bạn đọc người Pháp có thể tìm thấy gì qua các hình tượng ở đây? Có thể ở
một số người sau bốn mươi năm, những nỗi đau xót nảy sinh từ cuộc chiến
tranh ở Đông Dương chưa xoá hết được. Trong truyện, người Pháp hiện
diện như kẻ áp bức, như những kẻ thù. Tác giả không nhào nặn lại lịch sử,
nhưng ở đây trong mọi thể hiện đều có mức độ. Có một tí gì mỉa mai nhẹ
nhàng và thân ái trong khi tác giả nhắc lại bài diễn thuyết có phần khoa
trương của một cán bộ cơ sở. Nhưng chúng ta không thể nào nhầm, vì đây
không phải là những lời trống rỗng. Chú Năm Mùi không hề thủ đoạn,
không đầu cơ chính trị. Chú đấu tranh cho cách mạng, chú hiểu rõ bà con
trong làng xóm của mình. Những lời nói của chú không phải là những câu
châm ngôn sách vở, chú cũng không phải là kẻ khoe khoang. Trái lại, trong
nhiều trường hợp chú tỏ ra biết nhiều kinh nghiệm, có những hiểu biết sâu
sắc về cuộc sống và con người. Ngoài ra chú không phải không biết hóm
hỉnh.
Ở Việt Nam, Võ Quảng được công nhận là một trong những nhà văn ưu tú
viết cho thiếu nhi. Mặc dù sự khan hiếm về giấy đã hạn chế gay gắt số
lượng bản in, tác phẩm của Võ Quảng được tái bản nhiều lần và nhanh
chóng được tiêu thụ.
Trước kia trong thời kì thực dân Pháp đô hộ, ông hoạt động cách mạng
chống Pháp. Năm 1941 ông bị thực dân Pháp bắt giam. Sau Cách mạng
tháng Tám, ông phụ trách chính quyền Đà Nẵng, phụ trách việc xét xử ở
các toà án miền Trung. Từ năm 1957, ông chăm lo công việc giáo dục thiếu
nhi bằng các phương tiện văn học nghệ thuật.
Sự đồng cảm về ngôn ngữ có phần hạn chế nhưng bản dịch ít nhiều cũng
gợi lên được phong cảnh, những công việc làm ăn hàng ngày ở một vùng
quê Việt Nam. Chúng ta hi vọng tài năng của tác giả trong việc sáng tạo
những hình tượng văn học, trong việc tạo ra sự sống động của các nhân vật.
Không phải không được cảm nhận ở đây. Làm sao người ta có thể quên
được quang cảnh những ngọn đèn trôi dọc bờ rào của những người đi học
lớp xoá nạn mù chữ trong đêm tối, quên được những con gà trống ở Hoà
Phước, con trâu Bỉnh bước giữa ngàn sao, quên bà Hiến… Chúng ta hi
vọng tính chất kín đáo rất mực tinh vi của những tình cảm bộc lộ trong câu
văn được truyền qua bạn đọc. Chú Hai Quân bị lí trưởng đánh đòn buộc
phải bỏ làng ra đi. Trước khi đi chú sửa lại tao nôi của đứa bé gái con chú.
Những lời từ biệt của Cục và Cù lao được thể hiện qua tiếng hát của các cô
lái đò xuôi Hội An. Lần chia tay thứ hai trái lại là một sự rứt ra đột ngột vào
lúc bến đò Hoà Phước nhốn nháo giữa chiến tranh. Và câu chuyện của Cục
và Cù Lao cũng kết thúc ở đấy.
Các độc giả phương Tây có lẽ sẽ ngạc nhiên trước bao nhiêu khía cạnh dân
tộc của người Việt Nam. Chẳng hạn sự say mê xem hát tuồng của dân làng
và vai trò quan trọng của sân khấu trong đời sống của họ, cảnh chạy trốn
chiến tranh hay chạy trốn đói nghèo kéo dài suốt lịch sử đất nước Việt Nam
qua bao thế kỉ đã từng tạo nguồn cảm hứng cho bao nhiêu bài hát dân gian.
Về phần tôi, tôi mong muốn trước hết được Cục và Cù Lao đưa lại cho
chúng ta một sự hiểu biết nhiều hơn về một nước Việt Nam hầu như còn xa
lạ đối với người Pháp.
1987
Phần 1
Chương 1
Sau ngày Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám, tôi thường thức dậy sớm.
Khi thức giấc, tôi cứ tưởng mình như vừa chợp mắt, tai tôi còn nghe tiếng
hô tập tự vệ của chú Năm Mùi:
- Tất cả quay bên phải! Bên phải là bên tay ta cầm đũa, nghe chưa?
Chị Ba tôi đang tập liền hỏi to:
- Tôi cầm đũa tay trái, tôi quay bên nào?
Chú Năm Mùi quát:
- Đây không phải là việc cô giỡn đâu! Đây là việc quân! - Chú quắc mắt, hô
đúng là to: - Nghiêm! Quay!
Tôi nằm nhớ lại từng động tác luyện tập của đội tự vệ, chợt con gà trống ở
phía nhà bếp nổi gáy. Tiếng nó lanh lảnh. Tôi biết đó là gà của anh Bốn
Linh. Con gà này có bộ lông mã tía, cổ bạnh, mào hạt đậu. Tiếng nó dõng
dạc nhất xóm. Nó thường làm tôi chú ý. Nó nhón chân, bước từng bước oai
vệ, ức ưỡn ra đằng trước, có gan nhảy lên lưng trâu Bĩnh, vỗ cánh phành
phạch rồi gáy như thét vào tai trâu. Bị chó Vện đuổi, nó bỏ chạy. Đột ngột
nó quay lại nện cho chó Vện một đá vào đầu rồi nhảy phóc lên cây rác đứng
nhìn xuống vẻ phớt lờ, nổi gáy như thách thức:
- Tao không sợ ai hết!
Sau gà anh Bốn Linh, gà của ông Kiểm Lài gáy theo. Tiếng của nó nghe
khàn khàn làm tôi nhớ đến tiếng rao của ông thợ hàn nồi khi đi qua xóm:
- Ai hàn nồi không?
Con gà của ông Kiểm Lài hay bới bậy. Nó có bộ mã khá đẹp, lông trắng,
phao to, mỏ búp chuối, mào cờ, hai cánh như hai vỏ trai úp, nhưng lại hay
tán tỉnh láo khoét. Nó đến chỗ bờ tre mời bọn gà mái theo nó để nó đãi
giun. Bới được con giun, nó lấy mỏ kẹp bỏ ra giữa đất, kêu tục tục mời bọn
gà mái đến xơi. Bọn này vừa xô tới, nó đã nuốt chửng con giun vào bụng.
Nó còn giả vờ nghểnh cổ kêu oang oác như phân bua "Ủa! Chớ con giun
đâu mất rồi hè?". Bọn gà mái tưng hửng, nhưng vốn dễ tính nên bỏ qua. Nó
còn ra nương bẻ bắp bị tôi bắt quả tang, xuýt chó cắn cho một trận. Chó vặt
mất túm lông đuôi. Một con gà trống bị mất túm lông đuôi trông cụt ngủn,
đầu như bị chúc về đằng trước, nom hết sức buồn cười. Sau gà ông Kiểm
Lài, gà bà Hiến nổi gáy theo. Nó phóng ra ba tiếng không đều nhau éc, e, e.
Gà bà Hiến là gà trống tơ, lông đen, chân chì, giò cao, cổ ngắn. Tiếng nó
gáy còn vướng trong cổ, chưa ai mê được. Mấy lần tôi gặp nó nhảy tót lên
cây rác thật cao phóng tầm mắt nhìn quanh như muốn mọi người hãy chú ý,
nó sẽ gáy một hơi thật to, thật dài. Nó xoè cánh, nghểnh cổ, nhưng rốt cục
chỉ rặn ra ba tiếng éc, e, e cụt ngủn. Nó ngượng quá đỏ chín mặt, hấp tấp
nhảy xuống đất. Gà thầy Lê Hảo, gà ông Tư Đàm, gà chú Năm Mùi cũng thi
nhau gáy. Gà trong làng nổi gáy loạn xị. Tôi nghe loáng thoáng gà ông Bốn
Rị bán thịt chó ở dưới xóm, gà dượng Hương Thư và gà ông Hoạt ở ngoài
vạn Hoà Phước cũng gáy theo. Ông Hoạt và dượng Hương Thư ở thuyền,
nhốt gà trong một chiếc lồng tre, chiếc lồng treo bên mạn thuyền, nom xa
giống như quả lựu đạn. Mỗi lần dượng Hương Thư rải thóc cho ăn, bọn gà
tranh nhau phóng cổ ra ngoài. Cái lồng bỗng nhiên mọc đầy mũi nhọn. Ăn
xong, những mũi nhọn đó lại thụt đi mất. Dượng Hương Thư mở lồng, bọn
gà bay ra tứ tung, tiếng oang oác nổ ra inh ỏi. Chúng bay xuống đậu chỗ mé
nước, có con nổi gáy dăm ba tiếng.
Ông Hoạt đậu thuyền bên cạnh nhô cái đầu có búi tóc ra khỏi khoang, nói
với dượng Hương:
- Giống gà rừng của anh tốt thiệt! Lần sau đi Dùi Chiêng nhờ mua cho một
đôi. Tôi nuôi thiến vài con ăn Tết.
Thật ra gà dượng Hương Thư không phải giống gà rừng. Chúng cũng là
giống gà nhà. Dượng Hương thường mua gà ở trên rừng, xứ Dùi Chiêng, vì
quê dượng trên đó!
°°°
Dưới nhà bếp, chị Ba tôi cũng thức dậy nhóm lửa. Bóng chị chập choạng
trên vách bếp. Chị đang đưa tay vuốt tóc. Chị Ba vừa cắt tóc ngắn. Các chị
thanh nữ làng tôi, sau Tổng khởi nghĩa, đều cắt tóc ngắn, nói là để cắt đứt
với phong kiến. Chị Ba cầm đèn bước lên nhà trên, vứt cái yếm thao và
khăn trầu đem nhét vào gối mẹ tôi. Chị nói với mẹ là chị không dùng những
thứ lạc hậu đó nữa. Chị đã mua thuốc cạo hết răng đen. Răng chị hoá trắng
nõn. Mẹ tôi kêu lên, vẻ thất vọng: "Răng mày trắng, tao thấy như răng chó!"
Chị Ba đưa cây đèn về phía tôi, gọi:
- Cục ơi! Trời sáng trắng rồi! Dậy đưa trâu đi ăn!
Tôi rướn người nhỏm dậy bước ra chuồng trâu, mở dây mũi đưa con Bĩnh
đi gặm cỏ ngoài bờ sông.
Ra khỏi xóm, sao Mai trên trời đã bạc thếch. Bóng tối bắt đầu rời khỏi cây
sung đầu làng. Một con chèo bẻo đứng trên nóc miếu Bà Tằm đập cánh kêu
mấy tiếng choẹt choẹt! Từ chỗ sân đình vang lên tiếng hô của đội tự vệ.
Anh Bốn Linh làm đội trưởng có tiếng hô tốt lắm. Đây là đội tự vệ nòng
cốt, chọn toàn những trai tráng khỏe mạnh trong làng. Buổi sáng sớm họ tập
những động tác cơ bản, sau đó còn luyện nhiều miếng võ dân tộc. Anh Bốn
Linh dạy luyện côn. Cây côn trong tay anh quay vun vút. Anh quát chúng
tôi phải tránh thật xa, nhỡ cây côn va phải thì đầu chúng tôi bay mất.
Tôi ngồi trên lưng trâu Bĩnh, ra đến chỗ cây bàng, tôi nhón người, bắt tay
lên miệng làm loa gọi to: Hu hu, hu hu! Đó là hiệu lệnh của tôi ra quân, báo
cho bọn chăn trâu trong xóm biết là tôi đã sẵn sàng "xuất trận" để chơi trò
giật lá.
Về phần lũ trẻ cũng phải mau mau đưa trâu ra sông để đánh bại bọn chăn
trâu xóm dưới. Chư tướng của tôi vừa nghe tiếng gọi liền trả lời bằng hai
tiếng hu, hu! Như vậy có nghĩa là: Xin tuân lệnh!
Sau ngày cướp chính quyền, môn chơi giật lá ở quê tôi hoá thịnh hành.
Chơi giật lá phải chia làm hai phe. Người tham gia giắt sau lưng một que
dâu dài chừng bốn tấc. Phải xông ra giật cho kì được que dâu của đối
phương. Đứa nào bị giật mất que dâu thì xem như đã bị chặt mất đầu, tức
khắc phải nằm lăn ra, mặt úp xuống đất không ngọ nguậy. Bên nào bị chặt
đầu nhiều nhất là bên đó bị bại. Tôi được phong làm nguyên suý. Không
phải vì tôi đánh giặc giỏi mà vì tôi thuộc nhiều tích tuồng. Ở chợ Quảng
Huế, gần làng tôi, có một rạp hát tuồng. Thỉnh thoảng chị Ba cho tôi hai xu
để mua vé vào xem. Do đó tích tuồng tôi đều biết hết. Phe chúng tôi có năm
đứa, tôi gọi là năm tướng Ngũ Hổ. Tôi tự xưng là Triệu Tử Long. Dưới trần
này tôi chưa thấy ai vừa đẹp vừa oai như vị tướng đó. Mặt đỏ như son, mắt
sắc như gươm, xiêm giáp rực rỡ đủ màu, sau lưng còn cắm bao nhiêu cung
tên cờ xí. Khi Triệu Tử Long bước ra sân khấu, tôi choáng ngợp vì vẻ oai
phong lẫm liệt. Bốn đứa khác, tôi cũng phong cho mỗi đứa một tên. Tướng
Trương Phi có những cơn thịnh nộ khủng khiếp. Tướng Lưu Khánh biết bay
trên trời như chim. Tướng Hạng Võ có sức mạnh vô địch. Tướng Quan
Công vượt năm cửa ải chém sáu tướng của Tào Tháo. Tôi chống hai tay lên
hông thét vào mặt bọn chăn trâu xóm dưới:
- Hỡi quân Tào tặc! Ta đây là Triệu Tử Long! Chỉ cái tên của ta cũng đủ làm
bọn bay khiếp vía. Hãy mau mau giải giáp quy hàng thì ta tha chết!
Bọn chăn trâu xóm dưới rống to không kém:
- Chúng bay là những thằng đui! Chúng tao là Lía đây. Không phải Tào tặc
nào cả.
Một thằng mắt gườm gườm chỉ vào đầu của mình:
- Hãy xem quả chuỳ của tao đây! Nó nặng nghìn cân. Cho một chuỳ là bọn
Ngũ Hổ chúng bay hồn về chín suối!
Thằng này chiến đấu khá lợi hại. Nó tên là Thân ở xóm chợ, có cái đầu trọc
lóc. Khi xáp trận, nó liều mạng húc đầu vào bụng chúng tôi làm nhiều đứa
ngã uỵch. Một thằng khác vỗ hai tay đánh đét, thị uy:
- Còn tao là Võ Tòng, Võ Tòng đả hổ đây ! Tao từng nhai hổ nghe rau ráu.
Sá gì những mèo ướt chúng bay!
Nói xong, nó nhón một chân, quay vòng, trề môi, méo mồm, điệu bộ phách
lối đến cực độ.
Những đứa khác cũng nhảy ra phùng mang trơn mắt tự xưng mình là Cốt
Đột, là Thiên Lôi. Có đứa còn xưng mình là quỷ Đầu Trâu, phen này chúng
phải bắt cho hết bọn Ngũ Hổ đem làm gỏi ăn cho sướng. Tôi cố giữ nhuệ
khí:
- Bọn bay là lớp sinh sau đẻ muộn, miệng còn hôi sữa, sao dám ngạo mạn
với các tướng Ngũ Hổ chúng tao!...
Tôi nói chưa dứt lời, thằng Cốt Đột đã nhảy xổ ra. Nó làm điệu bộ như xách
chiếc đèn soi vào mặt chúng tôi, cười hề hề đầy vẻ khiêu khích:
- Tưởng là Triệu Tử Long nào, té ra mày là thằng Cục! Nguyễn Văn Cục hái
trộm ổi của ông Bảy Hoá là mày! Mày là thằng miệng hùm gan sứa. Bị chó
đuổi, mày bỏ chạy vấp gãy một chân. Còn một chân tao vặt hết lia chó gặm.
Còn thằng này, mày không phải Quan Công Quan Kiếc nào cả. Mày là
thằng Kề có cái bụng chửa to như cái cối. Mày ăn thịt chó bị đau bụng kinh
niên, nước da vàng như nghệ. Còn mày là Hạng Võ! Hạng Võ bị mụt 1
chùm bao, chân đi cà nhắc, sức không trói nổi con gà. Còn mày nữa - nó
vừa nói vừa chỉ vào mặt Trương Phi - mày là thằng hỗn ăn, tọng bánh bèo
nóng bị rụng hết răng cửa.
Hạ uy thế chúng tôi xong, nó hô to:
- Hỡi chư tướng! Hãy xông lên chém đầu bọn Ngũ Hổ. Bọn chúng là phát
xít Nhật đã bắn vào đồng bào ta ở Ái Nghĩa hôm cướp chính quyền.
Tôi lấy hết gân cổ, cố giảng giải:
- Chớ nói bá láp! Bọn thằng Lía chết từ đời tu huýt tu lai, còn bọn phát xít
đang sống sờ sờ. Nếu chúng tao là phát xít thì làm sao đánh nhau với thằng
Lía được.
Tôi chưa nói xong, bọn chúng đã ào lên như nước lũ. Phe tôi phải nghênh
chiến. Thế trận diễn ra vô cùng ác liệt. Cát bụi trên bờ sông Thu Bồn tung
bay mù mịt. Tiếng reo hò của ba quân dậy đất. Trương Phi gạt tất cả những
đòn chuỳ lợi hại của thằng Thân đầu trọc. Có lúc bị ngã tênh hênh, một tay
phải ôm quần, Trương Phi bỗng đứng lên vô cùng mau lẹ. Bọn giặc mất đà
ngã lăn lông lốc. Hạng Võ đúng là một hổ tướng, biết giương đông kích tây
dồn bọn thắng Lía vào thế bí. Nhưng Hạng Võ chỉ mới đánh vài ba hiệp, mồ
hôi mồ kê đã đổ ra như tắm. Tôi ra hiệu cho các tướng Ngũ Hổ vừa đánh
vừa rút lui. Đợi địch xông đến, chúng tôi rẽ ra hai bên, ép địch vào giữa.
Bọn thằng Lía không đòi hỏi gì hơn vì chúng sẽ có dịp cắt các tướng Ngũ
Hổ ra làm đôi. Chợt Trương Phi ngã quay lơ, chưa kịp đứng dậy, cành dâu
vắt sau lưng đã bị cướp mất. Bọn thằng Lía reo hò:
- Trương Phi chết rồi! Hãy lấy đầu Triệu Tử Long. Đừng để nó múa mép!
Thằng Lía thét một tiếng to, ném người vào bụng tôi. Tôi chưa kịp tránh,
hay cánh tay của Lía đã móc chặt ngang hông, quật tôi ngã xuống đất. Hai
tay tôi giữ chặt que dâu sau lưng, hai chân đạp loạn xạ. Tiếng reo hò lại nổi
lên:
- Hạng Võ ngoẻo rồi! Chặt lấy thủ cấp!
Tôi cố ngoi đầu nhìn lên. Cả Quan Công cũng đang giãy giụa. Quan Công
đang bị quỷ Đầu Trâu đè ngang bụng, lấy tay bóp cổ. Chỉ còn Lưu Khánh
lạch bạch đang bỏ chạy. Tình thế rất khó chuyển bại thành thắng. Việc thua
trận của phe Ngũ Hổ đã hiển nhiên. Trong năm tướng Ngũ Hổ thì Trương
Phi và Hạng Võ đã bị mất đầu, các tướng còn lại cũng sắp bị chặt mất thủ
cấp.
°°°
Chợt không hiểu vì sao thằng Lía đang vít chặt lấy tôi bỗng buông tôi ra.
Nó đứng phắt dậy, nhìn nhìn rồi ba chân bốn cẳng bỏ chạy. Có tiếng kêu to:
- Chúng bay ơi! Có thằng mọi biển! Mau ra coi!
Bọn Cốt Đột, thằng Lía, bọn Thiên Lôi bỏ chạy. Trương Phi, Hạng Võ,
Quan Công bỗng đứng lên. Tất cả chạy đến vây quanh một thằng mặt mày
nom kì dị. Nó có cặp mắt xếch, nước da nó đen thui. Chừng bao nhiêu tuổi,
tôi không đoán được. Có thể mười tuổi, có thể mười hai, mười ba tuổi gì đó.
Nó gầy đét. Đầu nó đội cái mũ giống chiếc mũ nồi, đủ màu xanh đỏ từng
khoanh ghép lại. Ở làng tôi cũng có những người ở Sài Gòn, Lục Tỉnh về.
Họ đội nhiều cái mũ nom rất lạ. Nhưng tôi chưa hề thấy một chiếc mũ nào
lại có nhiều màu sắc sặc sỡ như vậy. Bọn trẻ đứng vây quanh, đi qua đi lại dòm dòm ngó ngó như những lái mua trâu. Một đứa chợt nói toạc:
- Đen quá hè!
Tất cả nổi cười ồ. Một đứa hỏi:
- Tên mày là chi?
Thằng lạ mặt đứng lặng thinh. Nó hơi núng vì thấy đứa nào cũng có vẻ
hung tợn. Sau cuộc chơi giật lá, mặt mày bọn chăn trâu đang đổ lửa phừng
phừng.
Chợt thằng Thân ở xóm chợ nhảy ra:
- Tên là Cù Lao đó!
Nó huơ tay ra sức giảng giải:
- Nó ở xứ cù lao Chàm ngoài biển Đông. Tên nó cũng Cù Lao, tên mới dị
chớ! Nó về đây hôm qua. Ở xứ biển Đông có con cá Ông to lắm, bằng cái
đình vậy! Khi giông tố, ghe thuyền bị chìm. Người ăn ở có hậu đã có Ông
cõng vào, không chết đâu mà sợ. Khi Ông chết, trời cũng mịt mù...
Thân đầu trọc còn định nói dài nữa, những đứa khác đang nóng ruột muốn
hỏi thằng Cù Lao.
- Phải vậy không? Có phải tên là Cù Lao không?
Thằng lạ mặt bước thụt lui hai bước, quay lưng đi về phía bờ cây bã đậu.
Nó quay lại nhìn nhìn rồi co giò bỏ chạy. Bọn chăn trâu nổi cười ồ.
Thân đầu trọc nói át tất cả:
- Nó ở dưới biển Đông. Biển Đông là chỗ mặt trời mọc. Ở đó gần mặt trời,
nước nóng lắm!
- Hèn gì! Mặt trời đốt nó cháy đen thui. - Một thằng vừa nói vừa gật gù như
vừa khám phá ra một điều bí mật.
Tất cả những đứa khác cũng gật gù theo.
Thân đầu trọc càng quả quyết:
- Tao xem đi xem lại, thằng đó cũng là mọi biển. Mọi biển là thằng nào
cũng đen như đít trã. Mọi núi cũng đen. Bọn ở cao càng đen, vì gần mặt
trời. Mọi cao có giống có đuôi. Chúng có một thứ "ngải" kinh lắm!
Nó kể lại một lần đi theo cha nó lên nguồn gặp mọi có đuôi biết bỏ ngải. Bị
bỏ ngải là bỏ xừ! Cái bụng sẽ phình lên, to mãi, căng mãi ra rồi, đoàng!
Bụng nổ như pháo cối, ruột gan văng tung đi hết...
Nhưng chuyện bụng nổ như pháo cối không hấp hẫn bằng chuyện cái đuôi.
Một thằng hỏi:
- Nhưng tao muốn hỏi cái đuôi nó mọc chỗ nào? Có phải mọc chỗ này
không? - Vừa hỏi nó vừa sờ vào chỗ mông của thằng đứng bên cạnh . - Nó
to hay nhỏ, giống cái đuôi lợn lăng quăng hay cái đuôi trâu? Như vậy nó cứ
cộm, làm sao ngồi đặng?
Thân đầu trọc giơ ngón tay út:
- Bằng cái lóng tay này nè. Ghế ngồi đều phải đục một cái lỗ trống.
Một vài đứa tiếc rẻ là lúc nãy quên xem thằng mọi biển có cái đuôi hay
không.
Thân đầu trọc quả quyết:
- Làm gì có đuôi! Nhưng nó biết uống nước bằng lỗ mũi, uống được nước
mặn!
Một thằng ở xóm dưới bỗng nổi cười lăn cười lóc:
- Bay nè! Tao gặp nó ngoài chợ. Ai đời, hì hì! Cái "dung" đậy cái nồi mà nó
nói là cái vung. Cái trã nó gọi là cái trách. Có trách móc ai đâu. Hì, hì! Nó
nói với bà bán nồi: Bán cho tôi cái vung để đậy cái trách. Bà bán nồi chịu
chết, không biết nó nói cái chi chi, hì, hì! Đi "dề" nhà, nó nói đi huề nhà, hì
hì! Nó uống nhiều nước mặn nên bị cứng lưỡi! - Nói đến đây nó ngã lăn
xuống đất, ôm bụng cười rũ rượi.
Một đứa khác phụ hoạ:
- Nó chẳng biết mốc gì cả. Hôm qua tao lại chỗ nó. Nó lấy tay đánh đốp,
đập chết con muỗi. Nó lượm con muỗi đem ra sân ngắm nghía như một con
gì lạ. Thấy người ta ăn nhộng, nó sợ mất máu. Nó nói là ăn sâu.
Một thằng khác chép miệng tiếc rẻ:
- Uý! Nhộng ngon vậy mà không biết ăn! Nó ăn cái chi?
- Tao thấy nó mua đường với mắm cái.
- Uý mẹ ơi! Kinh lắm! Ăn đường với mắm cái phải oẹ ra hết!
Một vài đứa khạc nhổ rồi nôn oẹ như chính mình vừa ăn đường trộn với
mắm cái.
- Thấy con ngỗng, nó không biết con chi. Gặp trâu nó tránh xa, giương mắt
ếch. Nó nhát như cáy. Gặp nó, tao thét một tiếng, nó hoảng cái chơi!
Một đứa đầy vẻ quan trọng:
- Tao xem thằng này dị tướng! Nó lại ở xứ biển Đông, chỗ mặt trời mọc.
Thầy Lê Hảo nói phát xít Nhật cũng ở chỗ đó. ở cùng một chỗ, chúng phải
quen nhau. - Nó hạ thấp giọng: - Phải coi chừng mới được!
Đến đây không khí bỗng đổi khác. Đứa nào cũng hoá nghiêm nghị tưởng
như mật thám Nhật đã đột nhập vào sông Thu Bồn. Một đứa nhìn khắp
chung quanh:
- Phải báo Uỷ ban bắt quách!
°°°
Trưa hôm đó, đưa trâu về nhà, tôi thuật lại với chị Ba tôi vừa gặp một thằng
mọi biển. Tên nó là Cù Lao, ở ngoài cù lao Chàm mới về. Thấy chị Ba nghe
có vẻ chăm chú, tôi càng nhấn thêm một vài chi tiết có vẻ giật gân. Nào là
thằng Cù Lao đó trông rất gớm ghiếc. Nó biết uống nước bằng lỗ mũi. Cặp
mắt nó con nhỏ con to cứ lấm lét. Chị Ba nghe xong xì một tiếng:
- Làm gì có mọi biển mọi núi! Họ cũng là người như ta cả. Thằng Cù Lao
đó là con của chú Hai Quân. Chú Hai Quân ở ngoài cù lao Chàm về đây
hôm qua. Trước kia bị lý trưởng đánh, chú bỏ làng đi mất. Chú cùng họ với
nhà mình, chú của anh Bốn Linh đó. Chú có đứa con trai, chắc là thằng mày
gặp. Chúng mày ma cũ ăn hiếp ma mới. Chớ bịa đặt những chuyện bậy bạ!
Cách nói của chị Ba có một cái gì quả quyết làm tất cả những điều tôi tưởng
về thằng Cù Lao bỗng tan ra mây khói. Chị Ba bảo tôi đi xúc ngô ra giã. Tôi
xách mủng leo vào cót xúc một mủng bắp đổ vào cối. Chị Ba hứa sẽ làm
món lớ bắp. Nghe vậy tôi giã càng nhanh. Chợt chị Ba ra hiệu bảo tôi dừng
chày:
- Im để nghe thử!
Hình như có tiếng ai khóc. Tôi dừng chày lắng nghe. Rõ ràng có tiếng kể lể
từ phía nhà anh Bốn Linh đưa lại. Chị Ba gác chày lên cối, bỏ chạy. Tôi vứt
chày chạy theo.
Trước nhà anh Bốn Linh, bọn trẻ con đang nhốn nháo. Trong nhà có tiếng
khóc ồ ồ và tiếng kể lể.
- Ốí trời ơi! Chị chết đi bỏ một mình anh ở lại... sống một ngày dương gian
bằng nghìn ngày âm phủ...
Quái! Chị Bốn Linh hôm qua bị cảm đã nhờ chị Năm Như cào xông. Sau đó
lại làm thêm mấy bát cháo hành. Không nhẽ chị Bốn lại bỏ anh Bốn về với
ông bà đột ngột như vậy? Tôi nhìn quanh trong nhà cũng chẳng có ai nằm
im đắp chiếu, cũng chẳng thấy có cỗ áo quan nào cả. Bác Úc ngồi xếp hàng
trên phản cười tủm tỉm. Thầy Lê Hảo cười hà hà. Chú Năm Mùi cười hì hì.
Ông Bảy Hoá cười như người ta ho khẹc, khẹc! Ông vừa cười vừa vuốt râu
ra bộ khoan khoái lắm. Bộ râu của ông Bảy vừa rậm vừa dài toả xuống đến
rốn. Xem điệu bộ ông vuốt râu, người ta tưởng ông còn muốn kéo râu ông
dài đến đất. Một người lạ mặt, tóc hoa râm ngồi cạnh bác Úc. Tiếng khóc và
tiếng kể lể nổi lên:
- Ối chị Hai ôi! Anh Hai đã về đó mà chị đi đâu?...
Thì ra bà Hiến đang ngồi khóc. Bà là người khóc to nhất. Chị Bảy Có, chị
Năm Như ngồi chung quanh cũng thút thít. Tôi rất lạ là trong lúc các bà
đang khóc lóc thì bên nam giới lại cười nói ồn ào. Từ nhỏ đến lớn, tôi chưa
hề thấy một cảnh vừa cười vừa khóc như vậy. Trong những hội hè đình đám
tất cả đều uống rượu, ăn thịt, đều cười hể hả, không ai khóc. Tôi cũng có đi
xem những đám ma, nhiều đám to lắm, cũng chỉ thấy người ta khóc. Nếu
không khóc cũng làm ra vẻ buồn, chẳng có người cười người khóc bao giờ
cả. Bà Hiến nấc lên:
- Khi anh Hai bỏ làng đi thì chị Hai cũng đi biệt tích. Chị em thương nhau
từ thuở để chỏm. Con rận, con chí cũng cắn làm đôi, không nhớ không
thương sao được!
Ông Bảy Hoá lại vuốt râu dài cười khẹc khẹc:
- Ôi cái bà này! Trước đây anh Hai bị đế quốc phong kiến áp bức, cực
chẳng đã phải bỏ làng ra đi. Nay Cách mạng lên rồi. Đất đã lành thì chim
phải bay về đậu. Anh Hai về tìm lại quê cha đất tổ, bà con ta phải mừng chớ
làm răng bà lại khóc? - Ông bắt chước cách nói lối của hát tuồng - Anh Hai
giận làng ra đi, bỏ chị Hai ở lại. Ra ngoài cù lao Chàm lại lấy được một bà
khác. Bà sau sinh được một cậu quý tử. Thật là hạnh ngộ!
Ông Bảy Hoá đưa mắt nhìn quanh. Chợt ông chỉ tay vào chỗ góc cột:
- Có phải chỗ nó kia không?
Tôi nhìn theo ngón tay chỉ của ông Bảy Hoá. Thì ra là thằng Cù Lao đang
đứng nép sau gốc cột.
Ông Bảy Hoá đưa tay vẫy vẫy:
- Ra đây. Mày ra đây để bác xem cái tướng mày ra sao? Ái chà! Trán cao,
mắt xếch, tai sừng, đường đường như Lục Vân Tiên. Lại đen thui đen thủi!
Uý, có cái mũ khéo đã hung! Cho bác mượn bác đội một chút cho sướng. Ông quay về phía người lạ mặt: - Nè anh Hai, đã về đến đây, anh để cho em
nó ăn mặc chi lạ vậy? Quần dài không ra quần dài, quần xà lỏn không ra
quần xà lỏn. Phải sắm cho em nó một bộ đồ tây, có cái ca- vát hẳn hoi, đội
cho nó cái mũ phớt, ngó mới được!
Thằng Cù Lao mắc cỡ lại thụt vào sau gốc cột.
Ông Bảy Hoá cười to:
- Con trai sao lại thậm thà thậm thụt làm vậy! Phải can trường lên chớ! Lục
Vân Tiên tuổi vừa đôi tám đã đánh được bọn lâu la, Về đây, nên dùi mài
kinh sử. Cách mạng đã thành công, phong vân ta đà gặp hội!
Ông Bảy Hoá quay sang phía thầy Lê Hảo:
- Sẵn đây có thầy Lê Hảo, anh Hai nên nhờ thầy lo bề đèn sách cho em nó.
"Danh con đặng rạng thì tiếng thầy đồn xa" đó thầy!
Anh Bốn Linh ở dưới nhà bếp bước lên nói liền theo:
- Tôi phải lo cho nó học tập cái đã. Chú tôi về được đây, ông chẳng phải lo
cái chi cho mệt. Mất cha còn chú. Chú cũng như cha. Vợ chồng tôi sẽ lo hết
cho chú. Chữ hiếu trung bọn này giữ trọn.
Ông Bảy Hoá khẹc khẹc to hơn:
- Vậy mới phải đạo chớ! Tôi còn muốn hỏi, vậy cái khoản mừng anh Hai về
làng, anh chị Bốn định sao?
- Trưa nay tôi có con gà, làm bữa qua loa. Mời ông Bảy ở lại với chú tôi cho
vui, không mấy khi hai ông gặp lại. Ngoài chuồng, tôi còn con heo. Tôi bảo
mụ Bốn thúc cho nó béo ú ù, rồi mời bà con đến cầm... chén rượu!
Dưới nhà có tiếng gà bị bắt kêu oang oác.
Chợt con Vện nhà anh Bốn Linh sủa ran. Con Vàng nhà tôi cũng sủa. Chó
nhà bà Hiến sủa rộn lên. Ông Kiểm Lài bên hàng xóm chạy qua, chú Năm
Mùi, dượng Hương Thư, ông Bốn Rị ở xóm dưới chạy đến. Ông Kiểm Lài
vừa bước vào cửa đã oang oang:
- À anh Hai! Anh về đó hả ? Anh giận có người, chớ sao lại giận cả bà con,
bỏ đi biệt tích. Sáng nay anh về... Hèn gì con chim khách cứ bay qua bay lại
kêu choẹt choẹt. Tưởng có khách lạ. Té ra anh Hai về.
Ông Bảy Hoá vê râu:
- Sáng nay tôi cứ hắt xì, hắt xì, đoán có điềm lành. Hoá ra thật!
Bác Úc cười:
- Bữa nay mà ông Bảy còn nói chuyện mê tín. Sách của ông Bảy cũng phải
đốt đi.
Ông Bảy nửa đùa nửa thật:
- Thế tôi xem tướng có sai không nào? Khi anh Sáu còn bị đế quốc làm tù,
tôi xem tướng biết cái hậu vận của anh sẽ làm ông lớn. Nay nghe nói anh
làm đến chức gì rồi đó! Có đúng không nào? - Ông quay sang phía chú Hai
Quân chỉ vào cái cằm của chú: - Theo sách tướng, người có cái cằm dài và
nhọn như thế này thì cả đời lao khổ. Nhưng được một cái thượng đình 2
bằng bằng như anh Hai thì hậu vận về sau phú quý.
Bác Úc cười to hơn:
- Nước nhà độc lập, rồi đây ai chẳng phú quý. Đoán như vậy cũng chẳng
khác chi thầy bói "đoán cho một quẻ trong nhà, vợ chú đàn bà chẳng phải
đàn ông".
Mọi người cùng cười. Bà Hiến nín khóc cười theo:
- Còn cái hậu vận của tôi nè?
- Bà hử? Bà có hai tai to, hai má bầu bầu. Như vậy tướng bà đúng là tướng
phật. Tiên phật ra đời phải nếm đủ mùi cay đắng. Đức Quan Âm cũng vậy,
phải chịu hết oan khiên. Lửa thử vàng gian nan thử sức, sau đó mới được
ngồi trên tòa sen. Bà từ nhỏ đến già, không nơi chui rúc. Nhưng nhờ cái
hiếu trung giữ trọn nên đã đến lúc... thái lai. Vài ngày nữa bà có một gian
nhà mới, có hai trái tám cột đàng hoàng!
- Phải chịu thầy coi tướng giỏi! Uỷ ban đã cấp đủ tranh tre kèo cột. Đợi vài
bữa sẽ có nhà mới!
Tiếng cười như pháo nổ. Ai cũng muốn hỏi chú Hai rất nhiều chuyện, mời
chú Hai về nhà mình chơi. Cho đến lúc chị Bốn Linh nhắc chồng quét bàn
để dọn cơm, mọi người mới lần lượt giải tán.
-------------------------------1 Nhọt. Mụt chùm bao: nhọt làm mủ lâu không lành.
2 Thượng đình: phần trên của mặt.
Chương 2
Chú Hai Quân là người làng Hoà Phước, nằm trên bờ sông Thu Bồn, hình
thế giống như một con rùa nằm cạnh bờ bể. Bể dó là một rừng dâu xanh.
Chuyện kể lại rằng:
Lúc khai thiên lập địa, trời đất còn hỗn mang, chưa có sông Thu Bồn. Tất cả
nguồn nước không chảy về phía đông mà cứ chảy loanh quanh ở phía tây, vì
ở đó có con giao long khổng lồ hút hết nước. Thuở ấy thần Mưa tính hay lơ
đễnh, có lúc quên cả những việc có thể gây ra cái chết cho cả trăm loài. Một
năm thần Mưa quên gọi Mây tưới nước xuống phía đông, gây ra những cơn
hạn hán khủng khiếp. Ao hồ cạn nước, cây cối khô queo. Lưới lửa suốt
ngày cứ bập bùng. Loài biết bò và loài biết bay, loài có râu và loài không
râu đều cháy ra tro bụi. Hồi đó trên non cao có một vị thần tên là Thượng
Ngàn. Ngài cao to khác thường. Người đời phải có tầm mắt thật xa mới
nhìn thấy được Ngài trong ráng chiều lộng lẫy. Ngài hay qua lại giữa
khoảng trăng sao. Một hôm nhìn về hướng đông, biết có cơn hạn lớn, Ngài
vội vã đi tìm con giao long hút nước. Ngài nhổ sẵn nhiều cụm núi rồi đứng
đợi. Giao long vừa há mồm, Ngài lập tức tọng nhiều quả núi vào họng nó.
Nó giãy lên làm núi non ào ào sụp đổ. Một phen đất chạy đá bay! Giao long
bị quật chết, ngã sóng sượt, xương xẩu nanh vuốt của nó chất thành núi như
núi Mỹ Yên, núi Lập Thạch trùng điệp và lởm chởm đến vài mươi dặm,
hiện này còn thấy. Nước không bị giao long hút cứ tràn ra. Vị Thượng Ngàn
phải chẻ núi, vạch nguồn Chiên Đàn, nguồn Thu Bồn và nguồn Ô Da. Tất
cả ba nguồn Chiên Đàn, Thu Bồn, Ô Da ngài cho nhập lại thành một con
sông to. Đó là sông Thu Bồn ngày nay. Sông Thu Bồn chảy đến Văn Ly,
Ngài Thượng Ngàn cho chẻ ra làm đôi như đôi tay ôm lấy khu Gò Nổi. Vị
Thượng Ngàn còn vạch dọc theo bờ bể sông Trường Giang, sông Tam Kì,
sông Bầu Bầu... Ngang dọc chỗ nào cũng có sông, có nước, đủ cho dân cư
nảy nở.
Nhưng việc mới lại đẻ ra.
Dân cư trên sông Thu Bồn hoá đông đúc. Số người đẻ ra nhiều thì số người
chết không ít. Nhà cửa dưới âm phủ ngày càng thấy thiếu, mọi việc trở nên
phiền phức. Vua Diêm Vương thấy cần thiết phải xây dựng thêm nhà cửa và
cung điện. Ngài sai bọn Hà Bá mang theo bọn Thuồng Luồng, Bạch Tuộc
lên nguồn đốn gỗ. Chúng ngược sông Thu Bồn, hô mưa gọi gió gây ra
những bão táp dữ dội, vặt hết gỗ tốt. Vị Thượng Ngàn phải đánh trả. Ngài
nhổ những núi to ném xuống. Bọn thuỷ quái chết có hàng triệu, thây đặc cả
nước. Núi rơi loạn xị cắm xuống đất, có hòn cao ngất như Núi Chúa, núi Cu
Đê, núi Phò Nam. Có hòn làm thành những hình thù kì quái: Hòn Nghê
giống như sư tử đứng chồm ra biển, cụm Ngũ Hành Sơn giống như năm
ngọn tháp chọc trời xanh, núi Quắp giống như một cái vuốt hổ, dãy Phò
Nam giống như đàn cá kình vùng vẫy...
Như vậy sau những cuộc chiến đấu ác liệt, núi cũng như sông ở quê nội của
thằng Cù Lao đã hình thành, hiện nay còn nguyên như cũ.
°°°
Câu chuyện vẫn tiếp tục.
Nhờ những trận đánh trả quyết liệt của vị Thượng Ngàn, nhân dân đã sống
sót. Nhưng sau trận lụt bão, nạn dịch tả lại hoành hành.Một năm bệnh đậu
mùa làm người chết như rạ. Viên quan dưới âm phủ lo về nhân thế bộ
không ghi hết danh sách. Một số cô hồn phải ở lại trần gian. Chúng nổi lên
phá phách, bắt mọi người phải cúng lễ. Một số thay đổi hình dạng. Có lúc
chúng biến thành chim, thành cá hoặc thành những ông già, hoặc những
người bạn thân thiết. Có người đang ngồi nói chuyện với một người bạn,
chợt người bạn đó hoá thành hai, giống nhau như đúc. Người nào cũng cho
mình là bạn thật, làm không biết đâu là thật, đâu là giả. Bọn ma quỷ gieo
rắc hoang mang giữa bạn bè, anh em, cha con. Cuộc sống bị đảo lộn. Vừa
lúc đó có một vị đạo sĩ ra đời. Ngài biết con đường đi vào trăng sao và con
đường đi vào lòng người. Do đó thật hư ngài đều hiểu rõ. Ngài cầm chiếc
quạt nan, mặc áo vải, đi chân đất, nhưng đến đâu bọn ma quỷ đều khiếp sợ.
Vị đạo sĩ dùng bùa chú, tập hợp các loại âm hồn giảng giải:
- Ta không hiểu sao các ngươi cứ làm tổn hại đến sinh linh. Nếu người sống
còn lại ít thì tất nhiên việc lễ bái cũng sẽ ít đi. Số chết đi biến thành ma quỷ
ngày càng đông, thì cái ăn của các người càng bị thiếu. Cái ăn càng thiếu thì
dễ sinh làm bậy. Ta khuyên các ngươi nên tập hợp lại, làm giấy khai với
Diêm Vương để xin hoá kiếp. Kẻ vì việc ...
Võ Quảng
vietmessenger.com
Lời nói đầu
Khi giới thiệu quyển truyện Quê nội của Võ Quảng người ta bảo tôi: Đây là
một loại Tôm Xoyơ của Việt Nam. Đã từ lâu tôi rất thích tác phẩm Tôm
Xoyơ. Nhưng sau khi làm quen với tác phẩm của Võ Quảng tôi cảm thấy
mình còn thích các nhân vật Cục và Cù Lao hơn.
Võ Quảng đã đặt câu chuyện xảy ra tại chính quê hương mình, ấy là làng
Hoà Phước, tỉnh Quảng Nam, một tỉnh nằm giữa nước Việt Nam. Ở đây các
sự kiện nhỏ đặt liền nhau, khăng khít nhau tạo nên câu chuyện. Câu chuyện
bắt đầu sau Cách mạng tháng Tám, sau ngày lễ tuyên bố độc lập của nước
Việt Nam năm 1945, một thời kì mà mãi đến nay vẫn còn để lại dấu tích
trong nền văn học Việt Nam.
Tác phẩm phản ánh tâm trạng phấn khởi có phần hơi ngây thơ của dân làng,
lòng tin tưởng kì diệu của họ vào tương lai đất nước. Tôi đã có dịp hỏi vài
người từng sống trong thời kì ấy, khi họ còn trẻ. Ở họ đều còn đọng lại một
niềm thương nhớ thắm thiết.
Bạn đọc người Pháp có thể tìm thấy gì qua các hình tượng ở đây? Có thể ở
một số người sau bốn mươi năm, những nỗi đau xót nảy sinh từ cuộc chiến
tranh ở Đông Dương chưa xoá hết được. Trong truyện, người Pháp hiện
diện như kẻ áp bức, như những kẻ thù. Tác giả không nhào nặn lại lịch sử,
nhưng ở đây trong mọi thể hiện đều có mức độ. Có một tí gì mỉa mai nhẹ
nhàng và thân ái trong khi tác giả nhắc lại bài diễn thuyết có phần khoa
trương của một cán bộ cơ sở. Nhưng chúng ta không thể nào nhầm, vì đây
không phải là những lời trống rỗng. Chú Năm Mùi không hề thủ đoạn,
không đầu cơ chính trị. Chú đấu tranh cho cách mạng, chú hiểu rõ bà con
trong làng xóm của mình. Những lời nói của chú không phải là những câu
châm ngôn sách vở, chú cũng không phải là kẻ khoe khoang. Trái lại, trong
nhiều trường hợp chú tỏ ra biết nhiều kinh nghiệm, có những hiểu biết sâu
sắc về cuộc sống và con người. Ngoài ra chú không phải không biết hóm
hỉnh.
Ở Việt Nam, Võ Quảng được công nhận là một trong những nhà văn ưu tú
viết cho thiếu nhi. Mặc dù sự khan hiếm về giấy đã hạn chế gay gắt số
lượng bản in, tác phẩm của Võ Quảng được tái bản nhiều lần và nhanh
chóng được tiêu thụ.
Trước kia trong thời kì thực dân Pháp đô hộ, ông hoạt động cách mạng
chống Pháp. Năm 1941 ông bị thực dân Pháp bắt giam. Sau Cách mạng
tháng Tám, ông phụ trách chính quyền Đà Nẵng, phụ trách việc xét xử ở
các toà án miền Trung. Từ năm 1957, ông chăm lo công việc giáo dục thiếu
nhi bằng các phương tiện văn học nghệ thuật.
Sự đồng cảm về ngôn ngữ có phần hạn chế nhưng bản dịch ít nhiều cũng
gợi lên được phong cảnh, những công việc làm ăn hàng ngày ở một vùng
quê Việt Nam. Chúng ta hi vọng tài năng của tác giả trong việc sáng tạo
những hình tượng văn học, trong việc tạo ra sự sống động của các nhân vật.
Không phải không được cảm nhận ở đây. Làm sao người ta có thể quên
được quang cảnh những ngọn đèn trôi dọc bờ rào của những người đi học
lớp xoá nạn mù chữ trong đêm tối, quên được những con gà trống ở Hoà
Phước, con trâu Bỉnh bước giữa ngàn sao, quên bà Hiến… Chúng ta hi
vọng tính chất kín đáo rất mực tinh vi của những tình cảm bộc lộ trong câu
văn được truyền qua bạn đọc. Chú Hai Quân bị lí trưởng đánh đòn buộc
phải bỏ làng ra đi. Trước khi đi chú sửa lại tao nôi của đứa bé gái con chú.
Những lời từ biệt của Cục và Cù lao được thể hiện qua tiếng hát của các cô
lái đò xuôi Hội An. Lần chia tay thứ hai trái lại là một sự rứt ra đột ngột vào
lúc bến đò Hoà Phước nhốn nháo giữa chiến tranh. Và câu chuyện của Cục
và Cù Lao cũng kết thúc ở đấy.
Các độc giả phương Tây có lẽ sẽ ngạc nhiên trước bao nhiêu khía cạnh dân
tộc của người Việt Nam. Chẳng hạn sự say mê xem hát tuồng của dân làng
và vai trò quan trọng của sân khấu trong đời sống của họ, cảnh chạy trốn
chiến tranh hay chạy trốn đói nghèo kéo dài suốt lịch sử đất nước Việt Nam
qua bao thế kỉ đã từng tạo nguồn cảm hứng cho bao nhiêu bài hát dân gian.
Về phần tôi, tôi mong muốn trước hết được Cục và Cù Lao đưa lại cho
chúng ta một sự hiểu biết nhiều hơn về một nước Việt Nam hầu như còn xa
lạ đối với người Pháp.
1987
Phần 1
Chương 1
Sau ngày Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám, tôi thường thức dậy sớm.
Khi thức giấc, tôi cứ tưởng mình như vừa chợp mắt, tai tôi còn nghe tiếng
hô tập tự vệ của chú Năm Mùi:
- Tất cả quay bên phải! Bên phải là bên tay ta cầm đũa, nghe chưa?
Chị Ba tôi đang tập liền hỏi to:
- Tôi cầm đũa tay trái, tôi quay bên nào?
Chú Năm Mùi quát:
- Đây không phải là việc cô giỡn đâu! Đây là việc quân! - Chú quắc mắt, hô
đúng là to: - Nghiêm! Quay!
Tôi nằm nhớ lại từng động tác luyện tập của đội tự vệ, chợt con gà trống ở
phía nhà bếp nổi gáy. Tiếng nó lanh lảnh. Tôi biết đó là gà của anh Bốn
Linh. Con gà này có bộ lông mã tía, cổ bạnh, mào hạt đậu. Tiếng nó dõng
dạc nhất xóm. Nó thường làm tôi chú ý. Nó nhón chân, bước từng bước oai
vệ, ức ưỡn ra đằng trước, có gan nhảy lên lưng trâu Bĩnh, vỗ cánh phành
phạch rồi gáy như thét vào tai trâu. Bị chó Vện đuổi, nó bỏ chạy. Đột ngột
nó quay lại nện cho chó Vện một đá vào đầu rồi nhảy phóc lên cây rác đứng
nhìn xuống vẻ phớt lờ, nổi gáy như thách thức:
- Tao không sợ ai hết!
Sau gà anh Bốn Linh, gà của ông Kiểm Lài gáy theo. Tiếng của nó nghe
khàn khàn làm tôi nhớ đến tiếng rao của ông thợ hàn nồi khi đi qua xóm:
- Ai hàn nồi không?
Con gà của ông Kiểm Lài hay bới bậy. Nó có bộ mã khá đẹp, lông trắng,
phao to, mỏ búp chuối, mào cờ, hai cánh như hai vỏ trai úp, nhưng lại hay
tán tỉnh láo khoét. Nó đến chỗ bờ tre mời bọn gà mái theo nó để nó đãi
giun. Bới được con giun, nó lấy mỏ kẹp bỏ ra giữa đất, kêu tục tục mời bọn
gà mái đến xơi. Bọn này vừa xô tới, nó đã nuốt chửng con giun vào bụng.
Nó còn giả vờ nghểnh cổ kêu oang oác như phân bua "Ủa! Chớ con giun
đâu mất rồi hè?". Bọn gà mái tưng hửng, nhưng vốn dễ tính nên bỏ qua. Nó
còn ra nương bẻ bắp bị tôi bắt quả tang, xuýt chó cắn cho một trận. Chó vặt
mất túm lông đuôi. Một con gà trống bị mất túm lông đuôi trông cụt ngủn,
đầu như bị chúc về đằng trước, nom hết sức buồn cười. Sau gà ông Kiểm
Lài, gà bà Hiến nổi gáy theo. Nó phóng ra ba tiếng không đều nhau éc, e, e.
Gà bà Hiến là gà trống tơ, lông đen, chân chì, giò cao, cổ ngắn. Tiếng nó
gáy còn vướng trong cổ, chưa ai mê được. Mấy lần tôi gặp nó nhảy tót lên
cây rác thật cao phóng tầm mắt nhìn quanh như muốn mọi người hãy chú ý,
nó sẽ gáy một hơi thật to, thật dài. Nó xoè cánh, nghểnh cổ, nhưng rốt cục
chỉ rặn ra ba tiếng éc, e, e cụt ngủn. Nó ngượng quá đỏ chín mặt, hấp tấp
nhảy xuống đất. Gà thầy Lê Hảo, gà ông Tư Đàm, gà chú Năm Mùi cũng thi
nhau gáy. Gà trong làng nổi gáy loạn xị. Tôi nghe loáng thoáng gà ông Bốn
Rị bán thịt chó ở dưới xóm, gà dượng Hương Thư và gà ông Hoạt ở ngoài
vạn Hoà Phước cũng gáy theo. Ông Hoạt và dượng Hương Thư ở thuyền,
nhốt gà trong một chiếc lồng tre, chiếc lồng treo bên mạn thuyền, nom xa
giống như quả lựu đạn. Mỗi lần dượng Hương Thư rải thóc cho ăn, bọn gà
tranh nhau phóng cổ ra ngoài. Cái lồng bỗng nhiên mọc đầy mũi nhọn. Ăn
xong, những mũi nhọn đó lại thụt đi mất. Dượng Hương Thư mở lồng, bọn
gà bay ra tứ tung, tiếng oang oác nổ ra inh ỏi. Chúng bay xuống đậu chỗ mé
nước, có con nổi gáy dăm ba tiếng.
Ông Hoạt đậu thuyền bên cạnh nhô cái đầu có búi tóc ra khỏi khoang, nói
với dượng Hương:
- Giống gà rừng của anh tốt thiệt! Lần sau đi Dùi Chiêng nhờ mua cho một
đôi. Tôi nuôi thiến vài con ăn Tết.
Thật ra gà dượng Hương Thư không phải giống gà rừng. Chúng cũng là
giống gà nhà. Dượng Hương thường mua gà ở trên rừng, xứ Dùi Chiêng, vì
quê dượng trên đó!
°°°
Dưới nhà bếp, chị Ba tôi cũng thức dậy nhóm lửa. Bóng chị chập choạng
trên vách bếp. Chị đang đưa tay vuốt tóc. Chị Ba vừa cắt tóc ngắn. Các chị
thanh nữ làng tôi, sau Tổng khởi nghĩa, đều cắt tóc ngắn, nói là để cắt đứt
với phong kiến. Chị Ba cầm đèn bước lên nhà trên, vứt cái yếm thao và
khăn trầu đem nhét vào gối mẹ tôi. Chị nói với mẹ là chị không dùng những
thứ lạc hậu đó nữa. Chị đã mua thuốc cạo hết răng đen. Răng chị hoá trắng
nõn. Mẹ tôi kêu lên, vẻ thất vọng: "Răng mày trắng, tao thấy như răng chó!"
Chị Ba đưa cây đèn về phía tôi, gọi:
- Cục ơi! Trời sáng trắng rồi! Dậy đưa trâu đi ăn!
Tôi rướn người nhỏm dậy bước ra chuồng trâu, mở dây mũi đưa con Bĩnh
đi gặm cỏ ngoài bờ sông.
Ra khỏi xóm, sao Mai trên trời đã bạc thếch. Bóng tối bắt đầu rời khỏi cây
sung đầu làng. Một con chèo bẻo đứng trên nóc miếu Bà Tằm đập cánh kêu
mấy tiếng choẹt choẹt! Từ chỗ sân đình vang lên tiếng hô của đội tự vệ.
Anh Bốn Linh làm đội trưởng có tiếng hô tốt lắm. Đây là đội tự vệ nòng
cốt, chọn toàn những trai tráng khỏe mạnh trong làng. Buổi sáng sớm họ tập
những động tác cơ bản, sau đó còn luyện nhiều miếng võ dân tộc. Anh Bốn
Linh dạy luyện côn. Cây côn trong tay anh quay vun vút. Anh quát chúng
tôi phải tránh thật xa, nhỡ cây côn va phải thì đầu chúng tôi bay mất.
Tôi ngồi trên lưng trâu Bĩnh, ra đến chỗ cây bàng, tôi nhón người, bắt tay
lên miệng làm loa gọi to: Hu hu, hu hu! Đó là hiệu lệnh của tôi ra quân, báo
cho bọn chăn trâu trong xóm biết là tôi đã sẵn sàng "xuất trận" để chơi trò
giật lá.
Về phần lũ trẻ cũng phải mau mau đưa trâu ra sông để đánh bại bọn chăn
trâu xóm dưới. Chư tướng của tôi vừa nghe tiếng gọi liền trả lời bằng hai
tiếng hu, hu! Như vậy có nghĩa là: Xin tuân lệnh!
Sau ngày cướp chính quyền, môn chơi giật lá ở quê tôi hoá thịnh hành.
Chơi giật lá phải chia làm hai phe. Người tham gia giắt sau lưng một que
dâu dài chừng bốn tấc. Phải xông ra giật cho kì được que dâu của đối
phương. Đứa nào bị giật mất que dâu thì xem như đã bị chặt mất đầu, tức
khắc phải nằm lăn ra, mặt úp xuống đất không ngọ nguậy. Bên nào bị chặt
đầu nhiều nhất là bên đó bị bại. Tôi được phong làm nguyên suý. Không
phải vì tôi đánh giặc giỏi mà vì tôi thuộc nhiều tích tuồng. Ở chợ Quảng
Huế, gần làng tôi, có một rạp hát tuồng. Thỉnh thoảng chị Ba cho tôi hai xu
để mua vé vào xem. Do đó tích tuồng tôi đều biết hết. Phe chúng tôi có năm
đứa, tôi gọi là năm tướng Ngũ Hổ. Tôi tự xưng là Triệu Tử Long. Dưới trần
này tôi chưa thấy ai vừa đẹp vừa oai như vị tướng đó. Mặt đỏ như son, mắt
sắc như gươm, xiêm giáp rực rỡ đủ màu, sau lưng còn cắm bao nhiêu cung
tên cờ xí. Khi Triệu Tử Long bước ra sân khấu, tôi choáng ngợp vì vẻ oai
phong lẫm liệt. Bốn đứa khác, tôi cũng phong cho mỗi đứa một tên. Tướng
Trương Phi có những cơn thịnh nộ khủng khiếp. Tướng Lưu Khánh biết bay
trên trời như chim. Tướng Hạng Võ có sức mạnh vô địch. Tướng Quan
Công vượt năm cửa ải chém sáu tướng của Tào Tháo. Tôi chống hai tay lên
hông thét vào mặt bọn chăn trâu xóm dưới:
- Hỡi quân Tào tặc! Ta đây là Triệu Tử Long! Chỉ cái tên của ta cũng đủ làm
bọn bay khiếp vía. Hãy mau mau giải giáp quy hàng thì ta tha chết!
Bọn chăn trâu xóm dưới rống to không kém:
- Chúng bay là những thằng đui! Chúng tao là Lía đây. Không phải Tào tặc
nào cả.
Một thằng mắt gườm gườm chỉ vào đầu của mình:
- Hãy xem quả chuỳ của tao đây! Nó nặng nghìn cân. Cho một chuỳ là bọn
Ngũ Hổ chúng bay hồn về chín suối!
Thằng này chiến đấu khá lợi hại. Nó tên là Thân ở xóm chợ, có cái đầu trọc
lóc. Khi xáp trận, nó liều mạng húc đầu vào bụng chúng tôi làm nhiều đứa
ngã uỵch. Một thằng khác vỗ hai tay đánh đét, thị uy:
- Còn tao là Võ Tòng, Võ Tòng đả hổ đây ! Tao từng nhai hổ nghe rau ráu.
Sá gì những mèo ướt chúng bay!
Nói xong, nó nhón một chân, quay vòng, trề môi, méo mồm, điệu bộ phách
lối đến cực độ.
Những đứa khác cũng nhảy ra phùng mang trơn mắt tự xưng mình là Cốt
Đột, là Thiên Lôi. Có đứa còn xưng mình là quỷ Đầu Trâu, phen này chúng
phải bắt cho hết bọn Ngũ Hổ đem làm gỏi ăn cho sướng. Tôi cố giữ nhuệ
khí:
- Bọn bay là lớp sinh sau đẻ muộn, miệng còn hôi sữa, sao dám ngạo mạn
với các tướng Ngũ Hổ chúng tao!...
Tôi nói chưa dứt lời, thằng Cốt Đột đã nhảy xổ ra. Nó làm điệu bộ như xách
chiếc đèn soi vào mặt chúng tôi, cười hề hề đầy vẻ khiêu khích:
- Tưởng là Triệu Tử Long nào, té ra mày là thằng Cục! Nguyễn Văn Cục hái
trộm ổi của ông Bảy Hoá là mày! Mày là thằng miệng hùm gan sứa. Bị chó
đuổi, mày bỏ chạy vấp gãy một chân. Còn một chân tao vặt hết lia chó gặm.
Còn thằng này, mày không phải Quan Công Quan Kiếc nào cả. Mày là
thằng Kề có cái bụng chửa to như cái cối. Mày ăn thịt chó bị đau bụng kinh
niên, nước da vàng như nghệ. Còn mày là Hạng Võ! Hạng Võ bị mụt 1
chùm bao, chân đi cà nhắc, sức không trói nổi con gà. Còn mày nữa - nó
vừa nói vừa chỉ vào mặt Trương Phi - mày là thằng hỗn ăn, tọng bánh bèo
nóng bị rụng hết răng cửa.
Hạ uy thế chúng tôi xong, nó hô to:
- Hỡi chư tướng! Hãy xông lên chém đầu bọn Ngũ Hổ. Bọn chúng là phát
xít Nhật đã bắn vào đồng bào ta ở Ái Nghĩa hôm cướp chính quyền.
Tôi lấy hết gân cổ, cố giảng giải:
- Chớ nói bá láp! Bọn thằng Lía chết từ đời tu huýt tu lai, còn bọn phát xít
đang sống sờ sờ. Nếu chúng tao là phát xít thì làm sao đánh nhau với thằng
Lía được.
Tôi chưa nói xong, bọn chúng đã ào lên như nước lũ. Phe tôi phải nghênh
chiến. Thế trận diễn ra vô cùng ác liệt. Cát bụi trên bờ sông Thu Bồn tung
bay mù mịt. Tiếng reo hò của ba quân dậy đất. Trương Phi gạt tất cả những
đòn chuỳ lợi hại của thằng Thân đầu trọc. Có lúc bị ngã tênh hênh, một tay
phải ôm quần, Trương Phi bỗng đứng lên vô cùng mau lẹ. Bọn giặc mất đà
ngã lăn lông lốc. Hạng Võ đúng là một hổ tướng, biết giương đông kích tây
dồn bọn thắng Lía vào thế bí. Nhưng Hạng Võ chỉ mới đánh vài ba hiệp, mồ
hôi mồ kê đã đổ ra như tắm. Tôi ra hiệu cho các tướng Ngũ Hổ vừa đánh
vừa rút lui. Đợi địch xông đến, chúng tôi rẽ ra hai bên, ép địch vào giữa.
Bọn thằng Lía không đòi hỏi gì hơn vì chúng sẽ có dịp cắt các tướng Ngũ
Hổ ra làm đôi. Chợt Trương Phi ngã quay lơ, chưa kịp đứng dậy, cành dâu
vắt sau lưng đã bị cướp mất. Bọn thằng Lía reo hò:
- Trương Phi chết rồi! Hãy lấy đầu Triệu Tử Long. Đừng để nó múa mép!
Thằng Lía thét một tiếng to, ném người vào bụng tôi. Tôi chưa kịp tránh,
hay cánh tay của Lía đã móc chặt ngang hông, quật tôi ngã xuống đất. Hai
tay tôi giữ chặt que dâu sau lưng, hai chân đạp loạn xạ. Tiếng reo hò lại nổi
lên:
- Hạng Võ ngoẻo rồi! Chặt lấy thủ cấp!
Tôi cố ngoi đầu nhìn lên. Cả Quan Công cũng đang giãy giụa. Quan Công
đang bị quỷ Đầu Trâu đè ngang bụng, lấy tay bóp cổ. Chỉ còn Lưu Khánh
lạch bạch đang bỏ chạy. Tình thế rất khó chuyển bại thành thắng. Việc thua
trận của phe Ngũ Hổ đã hiển nhiên. Trong năm tướng Ngũ Hổ thì Trương
Phi và Hạng Võ đã bị mất đầu, các tướng còn lại cũng sắp bị chặt mất thủ
cấp.
°°°
Chợt không hiểu vì sao thằng Lía đang vít chặt lấy tôi bỗng buông tôi ra.
Nó đứng phắt dậy, nhìn nhìn rồi ba chân bốn cẳng bỏ chạy. Có tiếng kêu to:
- Chúng bay ơi! Có thằng mọi biển! Mau ra coi!
Bọn Cốt Đột, thằng Lía, bọn Thiên Lôi bỏ chạy. Trương Phi, Hạng Võ,
Quan Công bỗng đứng lên. Tất cả chạy đến vây quanh một thằng mặt mày
nom kì dị. Nó có cặp mắt xếch, nước da nó đen thui. Chừng bao nhiêu tuổi,
tôi không đoán được. Có thể mười tuổi, có thể mười hai, mười ba tuổi gì đó.
Nó gầy đét. Đầu nó đội cái mũ giống chiếc mũ nồi, đủ màu xanh đỏ từng
khoanh ghép lại. Ở làng tôi cũng có những người ở Sài Gòn, Lục Tỉnh về.
Họ đội nhiều cái mũ nom rất lạ. Nhưng tôi chưa hề thấy một chiếc mũ nào
lại có nhiều màu sắc sặc sỡ như vậy. Bọn trẻ đứng vây quanh, đi qua đi lại dòm dòm ngó ngó như những lái mua trâu. Một đứa chợt nói toạc:
- Đen quá hè!
Tất cả nổi cười ồ. Một đứa hỏi:
- Tên mày là chi?
Thằng lạ mặt đứng lặng thinh. Nó hơi núng vì thấy đứa nào cũng có vẻ
hung tợn. Sau cuộc chơi giật lá, mặt mày bọn chăn trâu đang đổ lửa phừng
phừng.
Chợt thằng Thân ở xóm chợ nhảy ra:
- Tên là Cù Lao đó!
Nó huơ tay ra sức giảng giải:
- Nó ở xứ cù lao Chàm ngoài biển Đông. Tên nó cũng Cù Lao, tên mới dị
chớ! Nó về đây hôm qua. Ở xứ biển Đông có con cá Ông to lắm, bằng cái
đình vậy! Khi giông tố, ghe thuyền bị chìm. Người ăn ở có hậu đã có Ông
cõng vào, không chết đâu mà sợ. Khi Ông chết, trời cũng mịt mù...
Thân đầu trọc còn định nói dài nữa, những đứa khác đang nóng ruột muốn
hỏi thằng Cù Lao.
- Phải vậy không? Có phải tên là Cù Lao không?
Thằng lạ mặt bước thụt lui hai bước, quay lưng đi về phía bờ cây bã đậu.
Nó quay lại nhìn nhìn rồi co giò bỏ chạy. Bọn chăn trâu nổi cười ồ.
Thân đầu trọc nói át tất cả:
- Nó ở dưới biển Đông. Biển Đông là chỗ mặt trời mọc. Ở đó gần mặt trời,
nước nóng lắm!
- Hèn gì! Mặt trời đốt nó cháy đen thui. - Một thằng vừa nói vừa gật gù như
vừa khám phá ra một điều bí mật.
Tất cả những đứa khác cũng gật gù theo.
Thân đầu trọc càng quả quyết:
- Tao xem đi xem lại, thằng đó cũng là mọi biển. Mọi biển là thằng nào
cũng đen như đít trã. Mọi núi cũng đen. Bọn ở cao càng đen, vì gần mặt
trời. Mọi cao có giống có đuôi. Chúng có một thứ "ngải" kinh lắm!
Nó kể lại một lần đi theo cha nó lên nguồn gặp mọi có đuôi biết bỏ ngải. Bị
bỏ ngải là bỏ xừ! Cái bụng sẽ phình lên, to mãi, căng mãi ra rồi, đoàng!
Bụng nổ như pháo cối, ruột gan văng tung đi hết...
Nhưng chuyện bụng nổ như pháo cối không hấp hẫn bằng chuyện cái đuôi.
Một thằng hỏi:
- Nhưng tao muốn hỏi cái đuôi nó mọc chỗ nào? Có phải mọc chỗ này
không? - Vừa hỏi nó vừa sờ vào chỗ mông của thằng đứng bên cạnh . - Nó
to hay nhỏ, giống cái đuôi lợn lăng quăng hay cái đuôi trâu? Như vậy nó cứ
cộm, làm sao ngồi đặng?
Thân đầu trọc giơ ngón tay út:
- Bằng cái lóng tay này nè. Ghế ngồi đều phải đục một cái lỗ trống.
Một vài đứa tiếc rẻ là lúc nãy quên xem thằng mọi biển có cái đuôi hay
không.
Thân đầu trọc quả quyết:
- Làm gì có đuôi! Nhưng nó biết uống nước bằng lỗ mũi, uống được nước
mặn!
Một thằng ở xóm dưới bỗng nổi cười lăn cười lóc:
- Bay nè! Tao gặp nó ngoài chợ. Ai đời, hì hì! Cái "dung" đậy cái nồi mà nó
nói là cái vung. Cái trã nó gọi là cái trách. Có trách móc ai đâu. Hì, hì! Nó
nói với bà bán nồi: Bán cho tôi cái vung để đậy cái trách. Bà bán nồi chịu
chết, không biết nó nói cái chi chi, hì, hì! Đi "dề" nhà, nó nói đi huề nhà, hì
hì! Nó uống nhiều nước mặn nên bị cứng lưỡi! - Nói đến đây nó ngã lăn
xuống đất, ôm bụng cười rũ rượi.
Một đứa khác phụ hoạ:
- Nó chẳng biết mốc gì cả. Hôm qua tao lại chỗ nó. Nó lấy tay đánh đốp,
đập chết con muỗi. Nó lượm con muỗi đem ra sân ngắm nghía như một con
gì lạ. Thấy người ta ăn nhộng, nó sợ mất máu. Nó nói là ăn sâu.
Một thằng khác chép miệng tiếc rẻ:
- Uý! Nhộng ngon vậy mà không biết ăn! Nó ăn cái chi?
- Tao thấy nó mua đường với mắm cái.
- Uý mẹ ơi! Kinh lắm! Ăn đường với mắm cái phải oẹ ra hết!
Một vài đứa khạc nhổ rồi nôn oẹ như chính mình vừa ăn đường trộn với
mắm cái.
- Thấy con ngỗng, nó không biết con chi. Gặp trâu nó tránh xa, giương mắt
ếch. Nó nhát như cáy. Gặp nó, tao thét một tiếng, nó hoảng cái chơi!
Một đứa đầy vẻ quan trọng:
- Tao xem thằng này dị tướng! Nó lại ở xứ biển Đông, chỗ mặt trời mọc.
Thầy Lê Hảo nói phát xít Nhật cũng ở chỗ đó. ở cùng một chỗ, chúng phải
quen nhau. - Nó hạ thấp giọng: - Phải coi chừng mới được!
Đến đây không khí bỗng đổi khác. Đứa nào cũng hoá nghiêm nghị tưởng
như mật thám Nhật đã đột nhập vào sông Thu Bồn. Một đứa nhìn khắp
chung quanh:
- Phải báo Uỷ ban bắt quách!
°°°
Trưa hôm đó, đưa trâu về nhà, tôi thuật lại với chị Ba tôi vừa gặp một thằng
mọi biển. Tên nó là Cù Lao, ở ngoài cù lao Chàm mới về. Thấy chị Ba nghe
có vẻ chăm chú, tôi càng nhấn thêm một vài chi tiết có vẻ giật gân. Nào là
thằng Cù Lao đó trông rất gớm ghiếc. Nó biết uống nước bằng lỗ mũi. Cặp
mắt nó con nhỏ con to cứ lấm lét. Chị Ba nghe xong xì một tiếng:
- Làm gì có mọi biển mọi núi! Họ cũng là người như ta cả. Thằng Cù Lao
đó là con của chú Hai Quân. Chú Hai Quân ở ngoài cù lao Chàm về đây
hôm qua. Trước kia bị lý trưởng đánh, chú bỏ làng đi mất. Chú cùng họ với
nhà mình, chú của anh Bốn Linh đó. Chú có đứa con trai, chắc là thằng mày
gặp. Chúng mày ma cũ ăn hiếp ma mới. Chớ bịa đặt những chuyện bậy bạ!
Cách nói của chị Ba có một cái gì quả quyết làm tất cả những điều tôi tưởng
về thằng Cù Lao bỗng tan ra mây khói. Chị Ba bảo tôi đi xúc ngô ra giã. Tôi
xách mủng leo vào cót xúc một mủng bắp đổ vào cối. Chị Ba hứa sẽ làm
món lớ bắp. Nghe vậy tôi giã càng nhanh. Chợt chị Ba ra hiệu bảo tôi dừng
chày:
- Im để nghe thử!
Hình như có tiếng ai khóc. Tôi dừng chày lắng nghe. Rõ ràng có tiếng kể lể
từ phía nhà anh Bốn Linh đưa lại. Chị Ba gác chày lên cối, bỏ chạy. Tôi vứt
chày chạy theo.
Trước nhà anh Bốn Linh, bọn trẻ con đang nhốn nháo. Trong nhà có tiếng
khóc ồ ồ và tiếng kể lể.
- Ốí trời ơi! Chị chết đi bỏ một mình anh ở lại... sống một ngày dương gian
bằng nghìn ngày âm phủ...
Quái! Chị Bốn Linh hôm qua bị cảm đã nhờ chị Năm Như cào xông. Sau đó
lại làm thêm mấy bát cháo hành. Không nhẽ chị Bốn lại bỏ anh Bốn về với
ông bà đột ngột như vậy? Tôi nhìn quanh trong nhà cũng chẳng có ai nằm
im đắp chiếu, cũng chẳng thấy có cỗ áo quan nào cả. Bác Úc ngồi xếp hàng
trên phản cười tủm tỉm. Thầy Lê Hảo cười hà hà. Chú Năm Mùi cười hì hì.
Ông Bảy Hoá cười như người ta ho khẹc, khẹc! Ông vừa cười vừa vuốt râu
ra bộ khoan khoái lắm. Bộ râu của ông Bảy vừa rậm vừa dài toả xuống đến
rốn. Xem điệu bộ ông vuốt râu, người ta tưởng ông còn muốn kéo râu ông
dài đến đất. Một người lạ mặt, tóc hoa râm ngồi cạnh bác Úc. Tiếng khóc và
tiếng kể lể nổi lên:
- Ối chị Hai ôi! Anh Hai đã về đó mà chị đi đâu?...
Thì ra bà Hiến đang ngồi khóc. Bà là người khóc to nhất. Chị Bảy Có, chị
Năm Như ngồi chung quanh cũng thút thít. Tôi rất lạ là trong lúc các bà
đang khóc lóc thì bên nam giới lại cười nói ồn ào. Từ nhỏ đến lớn, tôi chưa
hề thấy một cảnh vừa cười vừa khóc như vậy. Trong những hội hè đình đám
tất cả đều uống rượu, ăn thịt, đều cười hể hả, không ai khóc. Tôi cũng có đi
xem những đám ma, nhiều đám to lắm, cũng chỉ thấy người ta khóc. Nếu
không khóc cũng làm ra vẻ buồn, chẳng có người cười người khóc bao giờ
cả. Bà Hiến nấc lên:
- Khi anh Hai bỏ làng đi thì chị Hai cũng đi biệt tích. Chị em thương nhau
từ thuở để chỏm. Con rận, con chí cũng cắn làm đôi, không nhớ không
thương sao được!
Ông Bảy Hoá lại vuốt râu dài cười khẹc khẹc:
- Ôi cái bà này! Trước đây anh Hai bị đế quốc phong kiến áp bức, cực
chẳng đã phải bỏ làng ra đi. Nay Cách mạng lên rồi. Đất đã lành thì chim
phải bay về đậu. Anh Hai về tìm lại quê cha đất tổ, bà con ta phải mừng chớ
làm răng bà lại khóc? - Ông bắt chước cách nói lối của hát tuồng - Anh Hai
giận làng ra đi, bỏ chị Hai ở lại. Ra ngoài cù lao Chàm lại lấy được một bà
khác. Bà sau sinh được một cậu quý tử. Thật là hạnh ngộ!
Ông Bảy Hoá đưa mắt nhìn quanh. Chợt ông chỉ tay vào chỗ góc cột:
- Có phải chỗ nó kia không?
Tôi nhìn theo ngón tay chỉ của ông Bảy Hoá. Thì ra là thằng Cù Lao đang
đứng nép sau gốc cột.
Ông Bảy Hoá đưa tay vẫy vẫy:
- Ra đây. Mày ra đây để bác xem cái tướng mày ra sao? Ái chà! Trán cao,
mắt xếch, tai sừng, đường đường như Lục Vân Tiên. Lại đen thui đen thủi!
Uý, có cái mũ khéo đã hung! Cho bác mượn bác đội một chút cho sướng. Ông quay về phía người lạ mặt: - Nè anh Hai, đã về đến đây, anh để cho em
nó ăn mặc chi lạ vậy? Quần dài không ra quần dài, quần xà lỏn không ra
quần xà lỏn. Phải sắm cho em nó một bộ đồ tây, có cái ca- vát hẳn hoi, đội
cho nó cái mũ phớt, ngó mới được!
Thằng Cù Lao mắc cỡ lại thụt vào sau gốc cột.
Ông Bảy Hoá cười to:
- Con trai sao lại thậm thà thậm thụt làm vậy! Phải can trường lên chớ! Lục
Vân Tiên tuổi vừa đôi tám đã đánh được bọn lâu la, Về đây, nên dùi mài
kinh sử. Cách mạng đã thành công, phong vân ta đà gặp hội!
Ông Bảy Hoá quay sang phía thầy Lê Hảo:
- Sẵn đây có thầy Lê Hảo, anh Hai nên nhờ thầy lo bề đèn sách cho em nó.
"Danh con đặng rạng thì tiếng thầy đồn xa" đó thầy!
Anh Bốn Linh ở dưới nhà bếp bước lên nói liền theo:
- Tôi phải lo cho nó học tập cái đã. Chú tôi về được đây, ông chẳng phải lo
cái chi cho mệt. Mất cha còn chú. Chú cũng như cha. Vợ chồng tôi sẽ lo hết
cho chú. Chữ hiếu trung bọn này giữ trọn.
Ông Bảy Hoá khẹc khẹc to hơn:
- Vậy mới phải đạo chớ! Tôi còn muốn hỏi, vậy cái khoản mừng anh Hai về
làng, anh chị Bốn định sao?
- Trưa nay tôi có con gà, làm bữa qua loa. Mời ông Bảy ở lại với chú tôi cho
vui, không mấy khi hai ông gặp lại. Ngoài chuồng, tôi còn con heo. Tôi bảo
mụ Bốn thúc cho nó béo ú ù, rồi mời bà con đến cầm... chén rượu!
Dưới nhà có tiếng gà bị bắt kêu oang oác.
Chợt con Vện nhà anh Bốn Linh sủa ran. Con Vàng nhà tôi cũng sủa. Chó
nhà bà Hiến sủa rộn lên. Ông Kiểm Lài bên hàng xóm chạy qua, chú Năm
Mùi, dượng Hương Thư, ông Bốn Rị ở xóm dưới chạy đến. Ông Kiểm Lài
vừa bước vào cửa đã oang oang:
- À anh Hai! Anh về đó hả ? Anh giận có người, chớ sao lại giận cả bà con,
bỏ đi biệt tích. Sáng nay anh về... Hèn gì con chim khách cứ bay qua bay lại
kêu choẹt choẹt. Tưởng có khách lạ. Té ra anh Hai về.
Ông Bảy Hoá vê râu:
- Sáng nay tôi cứ hắt xì, hắt xì, đoán có điềm lành. Hoá ra thật!
Bác Úc cười:
- Bữa nay mà ông Bảy còn nói chuyện mê tín. Sách của ông Bảy cũng phải
đốt đi.
Ông Bảy nửa đùa nửa thật:
- Thế tôi xem tướng có sai không nào? Khi anh Sáu còn bị đế quốc làm tù,
tôi xem tướng biết cái hậu vận của anh sẽ làm ông lớn. Nay nghe nói anh
làm đến chức gì rồi đó! Có đúng không nào? - Ông quay sang phía chú Hai
Quân chỉ vào cái cằm của chú: - Theo sách tướng, người có cái cằm dài và
nhọn như thế này thì cả đời lao khổ. Nhưng được một cái thượng đình 2
bằng bằng như anh Hai thì hậu vận về sau phú quý.
Bác Úc cười to hơn:
- Nước nhà độc lập, rồi đây ai chẳng phú quý. Đoán như vậy cũng chẳng
khác chi thầy bói "đoán cho một quẻ trong nhà, vợ chú đàn bà chẳng phải
đàn ông".
Mọi người cùng cười. Bà Hiến nín khóc cười theo:
- Còn cái hậu vận của tôi nè?
- Bà hử? Bà có hai tai to, hai má bầu bầu. Như vậy tướng bà đúng là tướng
phật. Tiên phật ra đời phải nếm đủ mùi cay đắng. Đức Quan Âm cũng vậy,
phải chịu hết oan khiên. Lửa thử vàng gian nan thử sức, sau đó mới được
ngồi trên tòa sen. Bà từ nhỏ đến già, không nơi chui rúc. Nhưng nhờ cái
hiếu trung giữ trọn nên đã đến lúc... thái lai. Vài ngày nữa bà có một gian
nhà mới, có hai trái tám cột đàng hoàng!
- Phải chịu thầy coi tướng giỏi! Uỷ ban đã cấp đủ tranh tre kèo cột. Đợi vài
bữa sẽ có nhà mới!
Tiếng cười như pháo nổ. Ai cũng muốn hỏi chú Hai rất nhiều chuyện, mời
chú Hai về nhà mình chơi. Cho đến lúc chị Bốn Linh nhắc chồng quét bàn
để dọn cơm, mọi người mới lần lượt giải tán.
-------------------------------1 Nhọt. Mụt chùm bao: nhọt làm mủ lâu không lành.
2 Thượng đình: phần trên của mặt.
Chương 2
Chú Hai Quân là người làng Hoà Phước, nằm trên bờ sông Thu Bồn, hình
thế giống như một con rùa nằm cạnh bờ bể. Bể dó là một rừng dâu xanh.
Chuyện kể lại rằng:
Lúc khai thiên lập địa, trời đất còn hỗn mang, chưa có sông Thu Bồn. Tất cả
nguồn nước không chảy về phía đông mà cứ chảy loanh quanh ở phía tây, vì
ở đó có con giao long khổng lồ hút hết nước. Thuở ấy thần Mưa tính hay lơ
đễnh, có lúc quên cả những việc có thể gây ra cái chết cho cả trăm loài. Một
năm thần Mưa quên gọi Mây tưới nước xuống phía đông, gây ra những cơn
hạn hán khủng khiếp. Ao hồ cạn nước, cây cối khô queo. Lưới lửa suốt
ngày cứ bập bùng. Loài biết bò và loài biết bay, loài có râu và loài không
râu đều cháy ra tro bụi. Hồi đó trên non cao có một vị thần tên là Thượng
Ngàn. Ngài cao to khác thường. Người đời phải có tầm mắt thật xa mới
nhìn thấy được Ngài trong ráng chiều lộng lẫy. Ngài hay qua lại giữa
khoảng trăng sao. Một hôm nhìn về hướng đông, biết có cơn hạn lớn, Ngài
vội vã đi tìm con giao long hút nước. Ngài nhổ sẵn nhiều cụm núi rồi đứng
đợi. Giao long vừa há mồm, Ngài lập tức tọng nhiều quả núi vào họng nó.
Nó giãy lên làm núi non ào ào sụp đổ. Một phen đất chạy đá bay! Giao long
bị quật chết, ngã sóng sượt, xương xẩu nanh vuốt của nó chất thành núi như
núi Mỹ Yên, núi Lập Thạch trùng điệp và lởm chởm đến vài mươi dặm,
hiện này còn thấy. Nước không bị giao long hút cứ tràn ra. Vị Thượng Ngàn
phải chẻ núi, vạch nguồn Chiên Đàn, nguồn Thu Bồn và nguồn Ô Da. Tất
cả ba nguồn Chiên Đàn, Thu Bồn, Ô Da ngài cho nhập lại thành một con
sông to. Đó là sông Thu Bồn ngày nay. Sông Thu Bồn chảy đến Văn Ly,
Ngài Thượng Ngàn cho chẻ ra làm đôi như đôi tay ôm lấy khu Gò Nổi. Vị
Thượng Ngàn còn vạch dọc theo bờ bể sông Trường Giang, sông Tam Kì,
sông Bầu Bầu... Ngang dọc chỗ nào cũng có sông, có nước, đủ cho dân cư
nảy nở.
Nhưng việc mới lại đẻ ra.
Dân cư trên sông Thu Bồn hoá đông đúc. Số người đẻ ra nhiều thì số người
chết không ít. Nhà cửa dưới âm phủ ngày càng thấy thiếu, mọi việc trở nên
phiền phức. Vua Diêm Vương thấy cần thiết phải xây dựng thêm nhà cửa và
cung điện. Ngài sai bọn Hà Bá mang theo bọn Thuồng Luồng, Bạch Tuộc
lên nguồn đốn gỗ. Chúng ngược sông Thu Bồn, hô mưa gọi gió gây ra
những bão táp dữ dội, vặt hết gỗ tốt. Vị Thượng Ngàn phải đánh trả. Ngài
nhổ những núi to ném xuống. Bọn thuỷ quái chết có hàng triệu, thây đặc cả
nước. Núi rơi loạn xị cắm xuống đất, có hòn cao ngất như Núi Chúa, núi Cu
Đê, núi Phò Nam. Có hòn làm thành những hình thù kì quái: Hòn Nghê
giống như sư tử đứng chồm ra biển, cụm Ngũ Hành Sơn giống như năm
ngọn tháp chọc trời xanh, núi Quắp giống như một cái vuốt hổ, dãy Phò
Nam giống như đàn cá kình vùng vẫy...
Như vậy sau những cuộc chiến đấu ác liệt, núi cũng như sông ở quê nội của
thằng Cù Lao đã hình thành, hiện nay còn nguyên như cũ.
°°°
Câu chuyện vẫn tiếp tục.
Nhờ những trận đánh trả quyết liệt của vị Thượng Ngàn, nhân dân đã sống
sót. Nhưng sau trận lụt bão, nạn dịch tả lại hoành hành.Một năm bệnh đậu
mùa làm người chết như rạ. Viên quan dưới âm phủ lo về nhân thế bộ
không ghi hết danh sách. Một số cô hồn phải ở lại trần gian. Chúng nổi lên
phá phách, bắt mọi người phải cúng lễ. Một số thay đổi hình dạng. Có lúc
chúng biến thành chim, thành cá hoặc thành những ông già, hoặc những
người bạn thân thiết. Có người đang ngồi nói chuyện với một người bạn,
chợt người bạn đó hoá thành hai, giống nhau như đúc. Người nào cũng cho
mình là bạn thật, làm không biết đâu là thật, đâu là giả. Bọn ma quỷ gieo
rắc hoang mang giữa bạn bè, anh em, cha con. Cuộc sống bị đảo lộn. Vừa
lúc đó có một vị đạo sĩ ra đời. Ngài biết con đường đi vào trăng sao và con
đường đi vào lòng người. Do đó thật hư ngài đều hiểu rõ. Ngài cầm chiếc
quạt nan, mặc áo vải, đi chân đất, nhưng đến đâu bọn ma quỷ đều khiếp sợ.
Vị đạo sĩ dùng bùa chú, tập hợp các loại âm hồn giảng giải:
- Ta không hiểu sao các ngươi cứ làm tổn hại đến sinh linh. Nếu người sống
còn lại ít thì tất nhiên việc lễ bái cũng sẽ ít đi. Số chết đi biến thành ma quỷ
ngày càng đông, thì cái ăn của các người càng bị thiếu. Cái ăn càng thiếu thì
dễ sinh làm bậy. Ta khuyên các ngươi nên tập hợp lại, làm giấy khai với
Diêm Vương để xin hoá kiếp. Kẻ vì việc ...
 





