GTST3 DÀNH CHO MẸ MÓN QUÀ TÌNH YÊU


TẠP CHÍ THƯ VIỆN - THƯ MỤC SÁCH 2025-2026

Ấn nhẹ vào đây để vào Phần mềm Vietbiblilo

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • GIỚI THIỆU WEBSITE THƯ VIỆN TIỂU HỌC MAI CHÂU

    <

    Bản tin thư viện

    < Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z7626801057980_fd0c1665d01f119a6177b5a6ed8d179d.jpg Z7626801055219_1b176b5d91d86d0485ef6b788add7019.jpg 7626801078781.flv Z7626951539691_cbd248c94d4ef70bcef855b388e38fd0.jpg Z7626801057980_fd0c1665d01f119a6177b5a6ed8d179d.jpg Z7626801057980_fd0c1665d01f119a6177b5a6ed8d179d.jpg Z7626801063324_d6302aa66ecdf10f5898fae046cbfeb9.jpg Z7626801045928_2ed2e1ff27c3adb4514b2e3d00588e1a.jpg Genhz7516031377579_b4ce3fdf5f33caaef11b0bd82a98d71d.jpg Genhz7516031330052_9ec35e8b90513ea7451772b56cc6dd9d.jpg Genhz7516033933207_7765c0ef473106600b24b9dd1d8b88fa.jpg Genhz7516033869466_35d598fa8211cb37a7586a77e007b6df.jpg Z7488794422426_50b5bf3b0fa38578782fadefe2fb3c75.jpg Z7488794408671_015096a72117735c5feb6b9fc9febd66.jpg Z7488794418960_b9c0a6d2b9dea0aaa1c8fe1465254dbe.jpg Z7488794418960_b9c0a6d2b9dea0aaa1c8fe1465254dbe.jpg Z7488794422426_50b5bf3b0fa38578782fadefe2fb3c75.jpg Z7488794422426_50b5bf3b0fa38578782fadefe2fb3c75.jpg Z7495156155512_c836636b71fb8044f21bfc41ef4bbc3f.jpg Z7495156160330_c038ea753684bdf8ae7f10dc02b6c3a3.jpg

    Ý NGHĨA VỀ ĐỌC SÁCH


    Chào mừng 116 năm ngày quốc tế Phụ nữ 8/3/2026

    💕💕💕💕 💕💕Thư viện không phải là nơi để ghé qua trong vội vã, mà là nơi yên bình ta chọn dừng chân giữa bộn bề cuộc sống. Nơi đây, mỗi cuốn sách đều như một mảnh ghép của thời gian, gói ghém những tri thức và câu chuyện của biết bao thế hệ💕💕💕💕

    Quê nội

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Bùi Thị Thêu
    Ngày gửi: 10h:14' 13-09-2024
    Dung lượng: 961.6 KB
    Số lượt tải: 2
    Số lượt thích: 0 người
    Quê Nội
    Võ Quảng

    vietmessenger.com

    Lời nói đầu
    Khi giới thiệu quyển truyện Quê nội của Võ Quảng người ta bảo tôi: Đây là
    một loại Tôm Xoyơ của Việt Nam. Đã từ lâu tôi rất thích tác phẩm Tôm
    Xoyơ. Nhưng sau khi làm quen với tác phẩm của Võ Quảng tôi cảm thấy
    mình còn thích các nhân vật Cục và Cù Lao hơn.
    Võ Quảng đã đặt câu chuyện xảy ra tại chính quê hương mình, ấy là làng
    Hoà Phước, tỉnh Quảng Nam, một tỉnh nằm giữa nước Việt Nam. Ở đây các
    sự kiện nhỏ đặt liền nhau, khăng khít nhau tạo nên câu chuyện. Câu chuyện
    bắt đầu sau Cách mạng tháng Tám, sau ngày lễ tuyên bố độc lập của nước
    Việt Nam năm 1945, một thời kì mà mãi đến nay vẫn còn để lại dấu tích
    trong nền văn học Việt Nam.
    Tác phẩm phản ánh tâm trạng phấn khởi có phần hơi ngây thơ của dân làng,
    lòng tin tưởng kì diệu của họ vào tương lai đất nước. Tôi đã có dịp hỏi vài
    người từng sống trong thời kì ấy, khi họ còn trẻ. Ở họ đều còn đọng lại một
    niềm thương nhớ thắm thiết.
    Bạn đọc người Pháp có thể tìm thấy gì qua các hình tượng ở đây? Có thể ở
    một số người sau bốn mươi năm, những nỗi đau xót nảy sinh từ cuộc chiến
    tranh ở Đông Dương chưa xoá hết được. Trong truyện, người Pháp hiện
    diện như kẻ áp bức, như những kẻ thù. Tác giả không nhào nặn lại lịch sử,
    nhưng ở đây trong mọi thể hiện đều có mức độ. Có một tí gì mỉa mai nhẹ
    nhàng và thân ái trong khi tác giả nhắc lại bài diễn thuyết có phần khoa
    trương của một cán bộ cơ sở. Nhưng chúng ta không thể nào nhầm, vì đây
    không phải là những lời trống rỗng. Chú Năm Mùi không hề thủ đoạn,
    không đầu cơ chính trị. Chú đấu tranh cho cách mạng, chú hiểu rõ bà con
    trong làng xóm của mình. Những lời nói của chú không phải là những câu
    châm ngôn sách vở, chú cũng không phải là kẻ khoe khoang. Trái lại, trong
    nhiều trường hợp chú tỏ ra biết nhiều kinh nghiệm, có những hiểu biết sâu

    sắc về cuộc sống và con người. Ngoài ra chú không phải không biết hóm
    hỉnh.
    Ở Việt Nam, Võ Quảng được công nhận là một trong những nhà văn ưu tú
    viết cho thiếu nhi. Mặc dù sự khan hiếm về giấy đã hạn chế gay gắt số
    lượng bản in, tác phẩm của Võ Quảng được tái bản nhiều lần và nhanh
    chóng được tiêu thụ.
    Trước kia trong thời kì thực dân Pháp đô hộ, ông hoạt động cách mạng
    chống Pháp. Năm 1941 ông bị thực dân Pháp bắt giam. Sau Cách mạng
    tháng Tám, ông phụ trách chính quyền Đà Nẵng, phụ trách việc xét xử ở
    các toà án miền Trung. Từ năm 1957, ông chăm lo công việc giáo dục thiếu
    nhi bằng các phương tiện văn học nghệ thuật.
    Sự đồng cảm về ngôn ngữ có phần hạn chế nhưng bản dịch ít nhiều cũng
    gợi lên được phong cảnh, những công việc làm ăn hàng ngày ở một vùng
    quê Việt Nam. Chúng ta hi vọng tài năng của tác giả trong việc sáng tạo
    những hình tượng văn học, trong việc tạo ra sự sống động của các nhân vật.
    Không phải không được cảm nhận ở đây. Làm sao người ta có thể quên
    được quang cảnh những ngọn đèn trôi dọc bờ rào của những người đi học
    lớp xoá nạn mù chữ trong đêm tối, quên được những con gà trống ở Hoà
    Phước, con trâu Bỉnh bước giữa ngàn sao, quên bà Hiến… Chúng ta hi
    vọng tính chất kín đáo rất mực tinh vi của những tình cảm bộc lộ trong câu
    văn được truyền qua bạn đọc. Chú Hai Quân bị lí trưởng đánh đòn buộc
    phải bỏ làng ra đi. Trước khi đi chú sửa lại tao nôi của đứa bé gái con chú.
    Những lời từ biệt của Cục và Cù lao được thể hiện qua tiếng hát của các cô
    lái đò xuôi Hội An. Lần chia tay thứ hai trái lại là một sự rứt ra đột ngột vào
    lúc bến đò Hoà Phước nhốn nháo giữa chiến tranh. Và câu chuyện của Cục
    và Cù Lao cũng kết thúc ở đấy.
    Các độc giả phương Tây có lẽ sẽ ngạc nhiên trước bao nhiêu khía cạnh dân
    tộc của người Việt Nam. Chẳng hạn sự say mê xem hát tuồng của dân làng
    và vai trò quan trọng của sân khấu trong đời sống của họ, cảnh chạy trốn

    chiến tranh hay chạy trốn đói nghèo kéo dài suốt lịch sử đất nước Việt Nam
    qua bao thế kỉ đã từng tạo nguồn cảm hứng cho bao nhiêu bài hát dân gian.
    Về phần tôi, tôi mong muốn trước hết được Cục và Cù Lao đưa lại cho
    chúng ta một sự hiểu biết nhiều hơn về một nước Việt Nam hầu như còn xa
    lạ đối với người Pháp.
    1987

    Phần 1
    Chương 1
    Sau ngày Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám, tôi thường thức dậy sớm.
    Khi thức giấc, tôi cứ tưởng mình như vừa chợp mắt, tai tôi còn nghe tiếng
    hô tập tự vệ của chú Năm Mùi:
    - Tất cả quay bên phải! Bên phải là bên tay ta cầm đũa, nghe chưa?
    Chị Ba tôi đang tập liền hỏi to:
    - Tôi cầm đũa tay trái, tôi quay bên nào?
    Chú Năm Mùi quát:
    - Đây không phải là việc cô giỡn đâu! Đây là việc quân! - Chú quắc mắt, hô
    đúng là to: - Nghiêm! Quay!
    Tôi nằm nhớ lại từng động tác luyện tập của đội tự vệ, chợt con gà trống ở
    phía nhà bếp nổi gáy. Tiếng nó lanh lảnh. Tôi biết đó là gà của anh Bốn
    Linh. Con gà này có bộ lông mã tía, cổ bạnh, mào hạt đậu. Tiếng nó dõng
    dạc nhất xóm. Nó thường làm tôi chú ý. Nó nhón chân, bước từng bước oai
    vệ, ức ưỡn ra đằng trước, có gan nhảy lên lưng trâu Bĩnh, vỗ cánh phành
    phạch rồi gáy như thét vào tai trâu. Bị chó Vện đuổi, nó bỏ chạy. Đột ngột
    nó quay lại nện cho chó Vện một đá vào đầu rồi nhảy phóc lên cây rác đứng
    nhìn xuống vẻ phớt lờ, nổi gáy như thách thức:

    - Tao không sợ ai hết!
    Sau gà anh Bốn Linh, gà của ông Kiểm Lài gáy theo. Tiếng của nó nghe
    khàn khàn làm tôi nhớ đến tiếng rao của ông thợ hàn nồi khi đi qua xóm:
    - Ai hàn nồi không?
    Con gà của ông Kiểm Lài hay bới bậy. Nó có bộ mã khá đẹp, lông trắng,
    phao to, mỏ búp chuối, mào cờ, hai cánh như hai vỏ trai úp, nhưng lại hay
    tán tỉnh láo khoét. Nó đến chỗ bờ tre mời bọn gà mái theo nó để nó đãi
    giun. Bới được con giun, nó lấy mỏ kẹp bỏ ra giữa đất, kêu tục tục mời bọn
    gà mái đến xơi. Bọn này vừa xô tới, nó đã nuốt chửng con giun vào bụng.
    Nó còn giả vờ nghểnh cổ kêu oang oác như phân bua "Ủa! Chớ con giun
    đâu mất rồi hè?". Bọn gà mái tưng hửng, nhưng vốn dễ tính nên bỏ qua. Nó
    còn ra nương bẻ bắp bị tôi bắt quả tang, xuýt chó cắn cho một trận. Chó vặt
    mất túm lông đuôi. Một con gà trống bị mất túm lông đuôi trông cụt ngủn,
    đầu như bị chúc về đằng trước, nom hết sức buồn cười. Sau gà ông Kiểm
    Lài, gà bà Hiến nổi gáy theo. Nó phóng ra ba tiếng không đều nhau éc, e, e.
    Gà bà Hiến là gà trống tơ, lông đen, chân chì, giò cao, cổ ngắn. Tiếng nó
    gáy còn vướng trong cổ, chưa ai mê được. Mấy lần tôi gặp nó nhảy tót lên
    cây rác thật cao phóng tầm mắt nhìn quanh như muốn mọi người hãy chú ý,
    nó sẽ gáy một hơi thật to, thật dài. Nó xoè cánh, nghểnh cổ, nhưng rốt cục
    chỉ rặn ra ba tiếng éc, e, e cụt ngủn. Nó ngượng quá đỏ chín mặt, hấp tấp
    nhảy xuống đất. Gà thầy Lê Hảo, gà ông Tư Đàm, gà chú Năm Mùi cũng thi
    nhau gáy. Gà trong làng nổi gáy loạn xị. Tôi nghe loáng thoáng gà ông Bốn
    Rị bán thịt chó ở dưới xóm, gà dượng Hương Thư và gà ông Hoạt ở ngoài
    vạn Hoà Phước cũng gáy theo. Ông Hoạt và dượng Hương Thư ở thuyền,
    nhốt gà trong một chiếc lồng tre, chiếc lồng treo bên mạn thuyền, nom xa
    giống như quả lựu đạn. Mỗi lần dượng Hương Thư rải thóc cho ăn, bọn gà
    tranh nhau phóng cổ ra ngoài. Cái lồng bỗng nhiên mọc đầy mũi nhọn. Ăn
    xong, những mũi nhọn đó lại thụt đi mất. Dượng Hương Thư mở lồng, bọn
    gà bay ra tứ tung, tiếng oang oác nổ ra inh ỏi. Chúng bay xuống đậu chỗ mé
    nước, có con nổi gáy dăm ba tiếng.

    Ông Hoạt đậu thuyền bên cạnh nhô cái đầu có búi tóc ra khỏi khoang, nói
    với dượng Hương:
    - Giống gà rừng của anh tốt thiệt! Lần sau đi Dùi Chiêng nhờ mua cho một
    đôi. Tôi nuôi thiến vài con ăn Tết.
    Thật ra gà dượng Hương Thư không phải giống gà rừng. Chúng cũng là
    giống gà nhà. Dượng Hương thường mua gà ở trên rừng, xứ Dùi Chiêng, vì
    quê dượng trên đó!
    °°°
    Dưới nhà bếp, chị Ba tôi cũng thức dậy nhóm lửa. Bóng chị chập choạng
    trên vách bếp. Chị đang đưa tay vuốt tóc. Chị Ba vừa cắt tóc ngắn. Các chị
    thanh nữ làng tôi, sau Tổng khởi nghĩa, đều cắt tóc ngắn, nói là để cắt đứt
    với phong kiến. Chị Ba cầm đèn bước lên nhà trên, vứt cái yếm thao và
    khăn trầu đem nhét vào gối mẹ tôi. Chị nói với mẹ là chị không dùng những
    thứ lạc hậu đó nữa. Chị đã mua thuốc cạo hết răng đen. Răng chị hoá trắng
    nõn. Mẹ tôi kêu lên, vẻ thất vọng: "Răng mày trắng, tao thấy như răng chó!"
    Chị Ba đưa cây đèn về phía tôi, gọi:
    - Cục ơi! Trời sáng trắng rồi! Dậy đưa trâu đi ăn!
    Tôi rướn người nhỏm dậy bước ra chuồng trâu, mở dây mũi đưa con Bĩnh
    đi gặm cỏ ngoài bờ sông.
    Ra khỏi xóm, sao Mai trên trời đã bạc thếch. Bóng tối bắt đầu rời khỏi cây
    sung đầu làng. Một con chèo bẻo đứng trên nóc miếu Bà Tằm đập cánh kêu
    mấy tiếng choẹt choẹt! Từ chỗ sân đình vang lên tiếng hô của đội tự vệ.
    Anh Bốn Linh làm đội trưởng có tiếng hô tốt lắm. Đây là đội tự vệ nòng
    cốt, chọn toàn những trai tráng khỏe mạnh trong làng. Buổi sáng sớm họ tập
    những động tác cơ bản, sau đó còn luyện nhiều miếng võ dân tộc. Anh Bốn
    Linh dạy luyện côn. Cây côn trong tay anh quay vun vút. Anh quát chúng
    tôi phải tránh thật xa, nhỡ cây côn va phải thì đầu chúng tôi bay mất.
    Tôi ngồi trên lưng trâu Bĩnh, ra đến chỗ cây bàng, tôi nhón người, bắt tay
    lên miệng làm loa gọi to: Hu hu, hu hu! Đó là hiệu lệnh của tôi ra quân, báo

    cho bọn chăn trâu trong xóm biết là tôi đã sẵn sàng "xuất trận" để chơi trò
    giật lá.
    Về phần lũ trẻ cũng phải mau mau đưa trâu ra sông để đánh bại bọn chăn
    trâu xóm dưới. Chư tướng của tôi vừa nghe tiếng gọi liền trả lời bằng hai
    tiếng hu, hu! Như vậy có nghĩa là: Xin tuân lệnh!
    Sau ngày cướp chính quyền, môn chơi giật lá ở quê tôi hoá thịnh hành.
    Chơi giật lá phải chia làm hai phe. Người tham gia giắt sau lưng một que
    dâu dài chừng bốn tấc. Phải xông ra giật cho kì được que dâu của đối
    phương. Đứa nào bị giật mất que dâu thì xem như đã bị chặt mất đầu, tức
    khắc phải nằm lăn ra, mặt úp xuống đất không ngọ nguậy. Bên nào bị chặt
    đầu nhiều nhất là bên đó bị bại. Tôi được phong làm nguyên suý. Không
    phải vì tôi đánh giặc giỏi mà vì tôi thuộc nhiều tích tuồng. Ở chợ Quảng
    Huế, gần làng tôi, có một rạp hát tuồng. Thỉnh thoảng chị Ba cho tôi hai xu
    để mua vé vào xem. Do đó tích tuồng tôi đều biết hết. Phe chúng tôi có năm
    đứa, tôi gọi là năm tướng Ngũ Hổ. Tôi tự xưng là Triệu Tử Long. Dưới trần
    này tôi chưa thấy ai vừa đẹp vừa oai như vị tướng đó. Mặt đỏ như son, mắt
    sắc như gươm, xiêm giáp rực rỡ đủ màu, sau lưng còn cắm bao nhiêu cung
    tên cờ xí. Khi Triệu Tử Long bước ra sân khấu, tôi choáng ngợp vì vẻ oai
    phong lẫm liệt. Bốn đứa khác, tôi cũng phong cho mỗi đứa một tên. Tướng
    Trương Phi có những cơn thịnh nộ khủng khiếp. Tướng Lưu Khánh biết bay
    trên trời như chim. Tướng Hạng Võ có sức mạnh vô địch. Tướng Quan
    Công vượt năm cửa ải chém sáu tướng của Tào Tháo. Tôi chống hai tay lên
    hông thét vào mặt bọn chăn trâu xóm dưới:
    - Hỡi quân Tào tặc! Ta đây là Triệu Tử Long! Chỉ cái tên của ta cũng đủ làm
    bọn bay khiếp vía. Hãy mau mau giải giáp quy hàng thì ta tha chết!
    Bọn chăn trâu xóm dưới rống to không kém:
    - Chúng bay là những thằng đui! Chúng tao là Lía đây. Không phải Tào tặc
    nào cả.
    Một thằng mắt gườm gườm chỉ vào đầu của mình:

    - Hãy xem quả chuỳ của tao đây! Nó nặng nghìn cân. Cho một chuỳ là bọn
    Ngũ Hổ chúng bay hồn về chín suối!
    Thằng này chiến đấu khá lợi hại. Nó tên là Thân ở xóm chợ, có cái đầu trọc
    lóc. Khi xáp trận, nó liều mạng húc đầu vào bụng chúng tôi làm nhiều đứa
    ngã uỵch. Một thằng khác vỗ hai tay đánh đét, thị uy:
    - Còn tao là Võ Tòng, Võ Tòng đả hổ đây ! Tao từng nhai hổ nghe rau ráu.
    Sá gì những mèo ướt chúng bay!
    Nói xong, nó nhón một chân, quay vòng, trề môi, méo mồm, điệu bộ phách
    lối đến cực độ.
    Những đứa khác cũng nhảy ra phùng mang trơn mắt tự xưng mình là Cốt
    Đột, là Thiên Lôi. Có đứa còn xưng mình là quỷ Đầu Trâu, phen này chúng
    phải bắt cho hết bọn Ngũ Hổ đem làm gỏi ăn cho sướng. Tôi cố giữ nhuệ
    khí:
    - Bọn bay là lớp sinh sau đẻ muộn, miệng còn hôi sữa, sao dám ngạo mạn
    với các tướng Ngũ Hổ chúng tao!...
    Tôi nói chưa dứt lời, thằng Cốt Đột đã nhảy xổ ra. Nó làm điệu bộ như xách
    chiếc đèn soi vào mặt chúng tôi, cười hề hề đầy vẻ khiêu khích:
    - Tưởng là Triệu Tử Long nào, té ra mày là thằng Cục! Nguyễn Văn Cục hái
    trộm ổi của ông Bảy Hoá là mày! Mày là thằng miệng hùm gan sứa. Bị chó
    đuổi, mày bỏ chạy vấp gãy một chân. Còn một chân tao vặt hết lia chó gặm.
    Còn thằng này, mày không phải Quan Công Quan Kiếc nào cả. Mày là
    thằng Kề có cái bụng chửa to như cái cối. Mày ăn thịt chó bị đau bụng kinh
    niên, nước da vàng như nghệ. Còn mày là Hạng Võ! Hạng Võ bị mụt 1
    chùm bao, chân đi cà nhắc, sức không trói nổi con gà. Còn mày nữa - nó
    vừa nói vừa chỉ vào mặt Trương Phi - mày là thằng hỗn ăn, tọng bánh bèo
    nóng bị rụng hết răng cửa.
    Hạ uy thế chúng tôi xong, nó hô to:

    - Hỡi chư tướng! Hãy xông lên chém đầu bọn Ngũ Hổ. Bọn chúng là phát
    xít Nhật đã bắn vào đồng bào ta ở Ái Nghĩa hôm cướp chính quyền.
    Tôi lấy hết gân cổ, cố giảng giải:
    - Chớ nói bá láp! Bọn thằng Lía chết từ đời tu huýt tu lai, còn bọn phát xít
    đang sống sờ sờ. Nếu chúng tao là phát xít thì làm sao đánh nhau với thằng
    Lía được.
    Tôi chưa nói xong, bọn chúng đã ào lên như nước lũ. Phe tôi phải nghênh
    chiến. Thế trận diễn ra vô cùng ác liệt. Cát bụi trên bờ sông Thu Bồn tung
    bay mù mịt. Tiếng reo hò của ba quân dậy đất. Trương Phi gạt tất cả những
    đòn chuỳ lợi hại của thằng Thân đầu trọc. Có lúc bị ngã tênh hênh, một tay
    phải ôm quần, Trương Phi bỗng đứng lên vô cùng mau lẹ. Bọn giặc mất đà
    ngã lăn lông lốc. Hạng Võ đúng là một hổ tướng, biết giương đông kích tây
    dồn bọn thắng Lía vào thế bí. Nhưng Hạng Võ chỉ mới đánh vài ba hiệp, mồ
    hôi mồ kê đã đổ ra như tắm. Tôi ra hiệu cho các tướng Ngũ Hổ vừa đánh
    vừa rút lui. Đợi địch xông đến, chúng tôi rẽ ra hai bên, ép địch vào giữa.
    Bọn thằng Lía không đòi hỏi gì hơn vì chúng sẽ có dịp cắt các tướng Ngũ
    Hổ ra làm đôi. Chợt Trương Phi ngã quay lơ, chưa kịp đứng dậy, cành dâu
    vắt sau lưng đã bị cướp mất. Bọn thằng Lía reo hò:
    - Trương Phi chết rồi! Hãy lấy đầu Triệu Tử Long. Đừng để nó múa mép!
    Thằng Lía thét một tiếng to, ném người vào bụng tôi. Tôi chưa kịp tránh,
    hay cánh tay của Lía đã móc chặt ngang hông, quật tôi ngã xuống đất. Hai
    tay tôi giữ chặt que dâu sau lưng, hai chân đạp loạn xạ. Tiếng reo hò lại nổi
    lên:
    - Hạng Võ ngoẻo rồi! Chặt lấy thủ cấp!
    Tôi cố ngoi đầu nhìn lên. Cả Quan Công cũng đang giãy giụa. Quan Công
    đang bị quỷ Đầu Trâu đè ngang bụng, lấy tay bóp cổ. Chỉ còn Lưu Khánh
    lạch bạch đang bỏ chạy. Tình thế rất khó chuyển bại thành thắng. Việc thua
    trận của phe Ngũ Hổ đã hiển nhiên. Trong năm tướng Ngũ Hổ thì Trương

    Phi và Hạng Võ đã bị mất đầu, các tướng còn lại cũng sắp bị chặt mất thủ
    cấp.
    °°°
    Chợt không hiểu vì sao thằng Lía đang vít chặt lấy tôi bỗng buông tôi ra.
    Nó đứng phắt dậy, nhìn nhìn rồi ba chân bốn cẳng bỏ chạy. Có tiếng kêu to:
    - Chúng bay ơi! Có thằng mọi biển! Mau ra coi!
    Bọn Cốt Đột, thằng Lía, bọn Thiên Lôi bỏ chạy. Trương Phi, Hạng Võ,
    Quan Công bỗng đứng lên. Tất cả chạy đến vây quanh một thằng mặt mày
    nom kì dị. Nó có cặp mắt xếch, nước da nó đen thui. Chừng bao nhiêu tuổi,
    tôi không đoán được. Có thể mười tuổi, có thể mười hai, mười ba tuổi gì đó.
    Nó gầy đét. Đầu nó đội cái mũ giống chiếc mũ nồi, đủ màu xanh đỏ từng
    khoanh ghép lại. Ở làng tôi cũng có những người ở Sài Gòn, Lục Tỉnh về.
    Họ đội nhiều cái mũ nom rất lạ. Nhưng tôi chưa hề thấy một chiếc mũ nào
    lại có nhiều màu sắc sặc sỡ như vậy. Bọn trẻ đứng vây quanh, đi qua đi lại dòm dòm ngó ngó như những lái mua trâu. Một đứa chợt nói toạc:
    - Đen quá hè!
    Tất cả nổi cười ồ. Một đứa hỏi:
    - Tên mày là chi?
    Thằng lạ mặt đứng lặng thinh. Nó hơi núng vì thấy đứa nào cũng có vẻ
    hung tợn. Sau cuộc chơi giật lá, mặt mày bọn chăn trâu đang đổ lửa phừng
    phừng.
    Chợt thằng Thân ở xóm chợ nhảy ra:
    - Tên là Cù Lao đó!
    Nó huơ tay ra sức giảng giải:
    - Nó ở xứ cù lao Chàm ngoài biển Đông. Tên nó cũng Cù Lao, tên mới dị
    chớ! Nó về đây hôm qua. Ở xứ biển Đông có con cá Ông to lắm, bằng cái
    đình vậy! Khi giông tố, ghe thuyền bị chìm. Người ăn ở có hậu đã có Ông
    cõng vào, không chết đâu mà sợ. Khi Ông chết, trời cũng mịt mù...

    Thân đầu trọc còn định nói dài nữa, những đứa khác đang nóng ruột muốn
    hỏi thằng Cù Lao.
    - Phải vậy không? Có phải tên là Cù Lao không?
    Thằng lạ mặt bước thụt lui hai bước, quay lưng đi về phía bờ cây bã đậu.
    Nó quay lại nhìn nhìn rồi co giò bỏ chạy. Bọn chăn trâu nổi cười ồ.
    Thân đầu trọc nói át tất cả:
    - Nó ở dưới biển Đông. Biển Đông là chỗ mặt trời mọc. Ở đó gần mặt trời,
    nước nóng lắm!
    - Hèn gì! Mặt trời đốt nó cháy đen thui. - Một thằng vừa nói vừa gật gù như
    vừa khám phá ra một điều bí mật.
    Tất cả những đứa khác cũng gật gù theo.
    Thân đầu trọc càng quả quyết:
    - Tao xem đi xem lại, thằng đó cũng là mọi biển. Mọi biển là thằng nào
    cũng đen như đít trã. Mọi núi cũng đen. Bọn ở cao càng đen, vì gần mặt
    trời. Mọi cao có giống có đuôi. Chúng có một thứ "ngải" kinh lắm!
    Nó kể lại một lần đi theo cha nó lên nguồn gặp mọi có đuôi biết bỏ ngải. Bị
    bỏ ngải là bỏ xừ! Cái bụng sẽ phình lên, to mãi, căng mãi ra rồi, đoàng!
    Bụng nổ như pháo cối, ruột gan văng tung đi hết...
    Nhưng chuyện bụng nổ như pháo cối không hấp hẫn bằng chuyện cái đuôi.
    Một thằng hỏi:
    - Nhưng tao muốn hỏi cái đuôi nó mọc chỗ nào? Có phải mọc chỗ này
    không? - Vừa hỏi nó vừa sờ vào chỗ mông của thằng đứng bên cạnh . - Nó
    to hay nhỏ, giống cái đuôi lợn lăng quăng hay cái đuôi trâu? Như vậy nó cứ
    cộm, làm sao ngồi đặng?
    Thân đầu trọc giơ ngón tay út:
    - Bằng cái lóng tay này nè. Ghế ngồi đều phải đục một cái lỗ trống.

    Một vài đứa tiếc rẻ là lúc nãy quên xem thằng mọi biển có cái đuôi hay
    không.
    Thân đầu trọc quả quyết:
    - Làm gì có đuôi! Nhưng nó biết uống nước bằng lỗ mũi, uống được nước
    mặn!
    Một thằng ở xóm dưới bỗng nổi cười lăn cười lóc:
    - Bay nè! Tao gặp nó ngoài chợ. Ai đời, hì hì! Cái "dung" đậy cái nồi mà nó
    nói là cái vung. Cái trã nó gọi là cái trách. Có trách móc ai đâu. Hì, hì! Nó
    nói với bà bán nồi: Bán cho tôi cái vung để đậy cái trách. Bà bán nồi chịu
    chết, không biết nó nói cái chi chi, hì, hì! Đi "dề" nhà, nó nói đi huề nhà, hì
    hì! Nó uống nhiều nước mặn nên bị cứng lưỡi! - Nói đến đây nó ngã lăn
    xuống đất, ôm bụng cười rũ rượi.
    Một đứa khác phụ hoạ:
    - Nó chẳng biết mốc gì cả. Hôm qua tao lại chỗ nó. Nó lấy tay đánh đốp,
    đập chết con muỗi. Nó lượm con muỗi đem ra sân ngắm nghía như một con
    gì lạ. Thấy người ta ăn nhộng, nó sợ mất máu. Nó nói là ăn sâu.
    Một thằng khác chép miệng tiếc rẻ:
    - Uý! Nhộng ngon vậy mà không biết ăn! Nó ăn cái chi?
    - Tao thấy nó mua đường với mắm cái.
    - Uý mẹ ơi! Kinh lắm! Ăn đường với mắm cái phải oẹ ra hết!
    Một vài đứa khạc nhổ rồi nôn oẹ như chính mình vừa ăn đường trộn với
    mắm cái.
    - Thấy con ngỗng, nó không biết con chi. Gặp trâu nó tránh xa, giương mắt
    ếch. Nó nhát như cáy. Gặp nó, tao thét một tiếng, nó hoảng cái chơi!
    Một đứa đầy vẻ quan trọng:
    - Tao xem thằng này dị tướng! Nó lại ở xứ biển Đông, chỗ mặt trời mọc.
    Thầy Lê Hảo nói phát xít Nhật cũng ở chỗ đó. ở cùng một chỗ, chúng phải

    quen nhau. - Nó hạ thấp giọng: - Phải coi chừng mới được!
    Đến đây không khí bỗng đổi khác. Đứa nào cũng hoá nghiêm nghị tưởng
    như mật thám Nhật đã đột nhập vào sông Thu Bồn. Một đứa nhìn khắp
    chung quanh:
    - Phải báo Uỷ ban bắt quách!
    °°°
    Trưa hôm đó, đưa trâu về nhà, tôi thuật lại với chị Ba tôi vừa gặp một thằng
    mọi biển. Tên nó là Cù Lao, ở ngoài cù lao Chàm mới về. Thấy chị Ba nghe
    có vẻ chăm chú, tôi càng nhấn thêm một vài chi tiết có vẻ giật gân. Nào là
    thằng Cù Lao đó trông rất gớm ghiếc. Nó biết uống nước bằng lỗ mũi. Cặp
    mắt nó con nhỏ con to cứ lấm lét. Chị Ba nghe xong xì một tiếng:
    - Làm gì có mọi biển mọi núi! Họ cũng là người như ta cả. Thằng Cù Lao
    đó là con của chú Hai Quân. Chú Hai Quân ở ngoài cù lao Chàm về đây
    hôm qua. Trước kia bị lý trưởng đánh, chú bỏ làng đi mất. Chú cùng họ với
    nhà mình, chú của anh Bốn Linh đó. Chú có đứa con trai, chắc là thằng mày
    gặp. Chúng mày ma cũ ăn hiếp ma mới. Chớ bịa đặt những chuyện bậy bạ!
    Cách nói của chị Ba có một cái gì quả quyết làm tất cả những điều tôi tưởng
    về thằng Cù Lao bỗng tan ra mây khói. Chị Ba bảo tôi đi xúc ngô ra giã. Tôi
    xách mủng leo vào cót xúc một mủng bắp đổ vào cối. Chị Ba hứa sẽ làm
    món lớ bắp. Nghe vậy tôi giã càng nhanh. Chợt chị Ba ra hiệu bảo tôi dừng
    chày:
    - Im để nghe thử!
    Hình như có tiếng ai khóc. Tôi dừng chày lắng nghe. Rõ ràng có tiếng kể lể
    từ phía nhà anh Bốn Linh đưa lại. Chị Ba gác chày lên cối, bỏ chạy. Tôi vứt
    chày chạy theo.
    Trước nhà anh Bốn Linh, bọn trẻ con đang nhốn nháo. Trong nhà có tiếng
    khóc ồ ồ và tiếng kể lể.

    - Ốí trời ơi! Chị chết đi bỏ một mình anh ở lại... sống một ngày dương gian
    bằng nghìn ngày âm phủ...
    Quái! Chị Bốn Linh hôm qua bị cảm đã nhờ chị Năm Như cào xông. Sau đó
    lại làm thêm mấy bát cháo hành. Không nhẽ chị Bốn lại bỏ anh Bốn về với
    ông bà đột ngột như vậy? Tôi nhìn quanh trong nhà cũng chẳng có ai nằm
    im đắp chiếu, cũng chẳng thấy có cỗ áo quan nào cả. Bác Úc ngồi xếp hàng
    trên phản cười tủm tỉm. Thầy Lê Hảo cười hà hà. Chú Năm Mùi cười hì hì.
    Ông Bảy Hoá cười như người ta ho khẹc, khẹc! Ông vừa cười vừa vuốt râu
    ra bộ khoan khoái lắm. Bộ râu của ông Bảy vừa rậm vừa dài toả xuống đến
    rốn. Xem điệu bộ ông vuốt râu, người ta tưởng ông còn muốn kéo râu ông
    dài đến đất. Một người lạ mặt, tóc hoa râm ngồi cạnh bác Úc. Tiếng khóc và
    tiếng kể lể nổi lên:
    - Ối chị Hai ôi! Anh Hai đã về đó mà chị đi đâu?...
    Thì ra bà Hiến đang ngồi khóc. Bà là người khóc to nhất. Chị Bảy Có, chị
    Năm Như ngồi chung quanh cũng thút thít. Tôi rất lạ là trong lúc các bà
    đang khóc lóc thì bên nam giới lại cười nói ồn ào. Từ nhỏ đến lớn, tôi chưa
    hề thấy một cảnh vừa cười vừa khóc như vậy. Trong những hội hè đình đám
    tất cả đều uống rượu, ăn thịt, đều cười hể hả, không ai khóc. Tôi cũng có đi
    xem những đám ma, nhiều đám to lắm, cũng chỉ thấy người ta khóc. Nếu
    không khóc cũng làm ra vẻ buồn, chẳng có người cười người khóc bao giờ
    cả. Bà Hiến nấc lên:
    - Khi anh Hai bỏ làng đi thì chị Hai cũng đi biệt tích. Chị em thương nhau
    từ thuở để chỏm. Con rận, con chí cũng cắn làm đôi, không nhớ không
    thương sao được!
    Ông Bảy Hoá lại vuốt râu dài cười khẹc khẹc:
    - Ôi cái bà này! Trước đây anh Hai bị đế quốc phong kiến áp bức, cực
    chẳng đã phải bỏ làng ra đi. Nay Cách mạng lên rồi. Đất đã lành thì chim
    phải bay về đậu. Anh Hai về tìm lại quê cha đất tổ, bà con ta phải mừng chớ
    làm răng bà lại khóc? - Ông bắt chước cách nói lối của hát tuồng - Anh Hai

    giận làng ra đi, bỏ chị Hai ở lại. Ra ngoài cù lao Chàm lại lấy được một bà
    khác. Bà sau sinh được một cậu quý tử. Thật là hạnh ngộ!
    Ông Bảy Hoá đưa mắt nhìn quanh. Chợt ông chỉ tay vào chỗ góc cột:
    - Có phải chỗ nó kia không?
    Tôi nhìn theo ngón tay chỉ của ông Bảy Hoá. Thì ra là thằng Cù Lao đang
    đứng nép sau gốc cột.
    Ông Bảy Hoá đưa tay vẫy vẫy:
    - Ra đây. Mày ra đây để bác xem cái tướng mày ra sao? Ái chà! Trán cao,
    mắt xếch, tai sừng, đường đường như Lục Vân Tiên. Lại đen thui đen thủi!
    Uý, có cái mũ khéo đã hung! Cho bác mượn bác đội một chút cho sướng. Ông quay về phía người lạ mặt: - Nè anh Hai, đã về đến đây, anh để cho em
    nó ăn mặc chi lạ vậy? Quần dài không ra quần dài, quần xà lỏn không ra
    quần xà lỏn. Phải sắm cho em nó một bộ đồ tây, có cái ca- vát hẳn hoi, đội
    cho nó cái mũ phớt, ngó mới được!
    Thằng Cù Lao mắc cỡ lại thụt vào sau gốc cột.
    Ông Bảy Hoá cười to:
    - Con trai sao lại thậm thà thậm thụt làm vậy! Phải can trường lên chớ! Lục
    Vân Tiên tuổi vừa đôi tám đã đánh được bọn lâu la, Về đây, nên dùi mài
    kinh sử. Cách mạng đã thành công, phong vân ta đà gặp hội!
    Ông Bảy Hoá quay sang phía thầy Lê Hảo:
    - Sẵn đây có thầy Lê Hảo, anh Hai nên nhờ thầy lo bề đèn sách cho em nó.
    "Danh con đặng rạng thì tiếng thầy đồn xa" đó thầy!
    Anh Bốn Linh ở dưới nhà bếp bước lên nói liền theo:
    - Tôi phải lo cho nó học tập cái đã. Chú tôi về được đây, ông chẳng phải lo
    cái chi cho mệt. Mất cha còn chú. Chú cũng như cha. Vợ chồng tôi sẽ lo hết
    cho chú. Chữ hiếu trung bọn này giữ trọn.
    Ông Bảy Hoá khẹc khẹc to hơn:

    - Vậy mới phải đạo chớ! Tôi còn muốn hỏi, vậy cái khoản mừng anh Hai về
    làng, anh chị Bốn định sao?
    - Trưa nay tôi có con gà, làm bữa qua loa. Mời ông Bảy ở lại với chú tôi cho
    vui, không mấy khi hai ông gặp lại. Ngoài chuồng, tôi còn con heo. Tôi bảo
    mụ Bốn thúc cho nó béo ú ù, rồi mời bà con đến cầm... chén rượu!
    Dưới nhà có tiếng gà bị bắt kêu oang oác.
    Chợt con Vện nhà anh Bốn Linh sủa ran. Con Vàng nhà tôi cũng sủa. Chó
    nhà bà Hiến sủa rộn lên. Ông Kiểm Lài bên hàng xóm chạy qua, chú Năm
    Mùi, dượng Hương Thư, ông Bốn Rị ở xóm dưới chạy đến. Ông Kiểm Lài
    vừa bước vào cửa đã oang oang:
    - À anh Hai! Anh về đó hả ? Anh giận có người, chớ sao lại giận cả bà con,
    bỏ đi biệt tích. Sáng nay anh về... Hèn gì con chim khách cứ bay qua bay lại
    kêu choẹt choẹt. Tưởng có khách lạ. Té ra anh Hai về.
    Ông Bảy Hoá vê râu:
    - Sáng nay tôi cứ hắt xì, hắt xì, đoán có điềm lành. Hoá ra thật!
    Bác Úc cười:
    - Bữa nay mà ông Bảy còn nói chuyện mê tín. Sách của ông Bảy cũng phải
    đốt đi.
    Ông Bảy nửa đùa nửa thật:
    - Thế tôi xem tướng có sai không nào? Khi anh Sáu còn bị đế quốc làm tù,
    tôi xem tướng biết cái hậu vận của anh sẽ làm ông lớn. Nay nghe nói anh
    làm đến chức gì rồi đó! Có đúng không nào? - Ông quay sang phía chú Hai
    Quân chỉ vào cái cằm của chú: - Theo sách tướng, người có cái cằm dài và
    nhọn như thế này thì cả đời lao khổ. Nhưng được một cái thượng đình 2
    bằng bằng như anh Hai thì hậu vận về sau phú quý.
    Bác Úc cười to hơn:
    - Nước nhà độc lập, rồi đây ai chẳng phú quý. Đoán như vậy cũng chẳng
    khác chi thầy bói "đoán cho một quẻ trong nhà, vợ chú đàn bà chẳng phải

    đàn ông".
    Mọi người cùng cười. Bà Hiến nín khóc cười theo:
    - Còn cái hậu vận của tôi nè?
    - Bà hử? Bà có hai tai to, hai má bầu bầu. Như vậy tướng bà đúng là tướng
    phật. Tiên phật ra đời phải nếm đủ mùi cay đắng. Đức Quan Âm cũng vậy,
    phải chịu hết oan khiên. Lửa thử vàng gian nan thử sức, sau đó mới được
    ngồi trên tòa sen. Bà từ nhỏ đến già, không nơi chui rúc. Nhưng nhờ cái
    hiếu trung giữ trọn nên đã đến lúc... thái lai. Vài ngày nữa bà có một gian
    nhà mới, có hai trái tám cột đàng hoàng!
    - Phải chịu thầy coi tướng giỏi! Uỷ ban đã cấp đủ tranh tre kèo cột. Đợi vài
    bữa sẽ có nhà mới!
    Tiếng cười như pháo nổ. Ai cũng muốn hỏi chú Hai rất nhiều chuyện, mời
    chú Hai về nhà mình chơi. Cho đến lúc chị Bốn Linh nhắc chồng quét bàn
    để dọn cơm, mọi người mới lần lượt giải tán.
    -------------------------------1 Nhọt. Mụt chùm bao: nhọt làm mủ lâu không lành.
    2 Thượng đình: phần trên của mặt.

    Chương 2
    Chú Hai Quân là người làng Hoà Phước, nằm trên bờ sông Thu Bồn, hình
    thế giống như một con rùa nằm cạnh bờ bể. Bể dó là một rừng dâu xanh.
    Chuyện kể lại rằng:
    Lúc khai thiên lập địa, trời đất còn hỗn mang, chưa có sông Thu Bồn. Tất cả
    nguồn nước không chảy về phía đông mà cứ chảy loanh quanh ở phía tây, vì
    ở đó có con giao long khổng lồ hút hết nước. Thuở ấy thần Mưa tính hay lơ
    đễnh, có lúc quên cả những việc có thể gây ra cái chết cho cả trăm loài. Một
    năm thần Mưa quên gọi Mây tưới nước xuống phía đông, gây ra những cơn
    hạn hán khủng khiếp. Ao hồ cạn nước, cây cối khô queo. Lưới lửa suốt
    ngày cứ bập bùng. Loài biết bò và loài biết bay, loài có râu và loài không
    râu đều cháy ra tro bụi. Hồi đó trên non cao có một vị thần tên là Thượng
    Ngàn. Ngài cao to khác thường. Người đời phải có tầm mắt thật xa mới
    nhìn thấy được Ngài trong ráng chiều lộng lẫy. Ngài hay qua lại giữa
    khoảng trăng sao. Một hôm nhìn về hướng đông, biết có cơn hạn lớn, Ngài
    vội vã đi tìm con giao long hút nước. Ngài nhổ sẵn nhiều cụm núi rồi đứng
    đợi. Giao long vừa há mồm, Ngài lập tức tọng nhiều quả núi vào họng nó.
    Nó giãy lên làm núi non ào ào sụp đổ. Một phen đất chạy đá bay! Giao long
    bị quật chết, ngã sóng sượt, xương xẩu nanh vuốt của nó chất thành núi như
    núi Mỹ Yên, núi Lập Thạch trùng điệp và lởm chởm đến vài mươi dặm,
    hiện này còn thấy. Nước không bị giao long hút cứ tràn ra. Vị Thượng Ngàn
    phải chẻ núi, vạch nguồn Chiên Đàn, nguồn Thu Bồn và nguồn Ô Da. Tất
    cả ba nguồn Chiên Đàn, Thu Bồn, Ô Da ngài cho nhập lại thành một con
    sông to. Đó là sông Thu Bồn ngày nay. Sông Thu Bồn chảy đến Văn Ly,
    Ngài Thượng Ngàn cho chẻ ra làm đôi như đôi tay ôm lấy khu Gò Nổi. Vị
    Thượng Ngàn còn vạch dọc theo bờ bể sông Trường Giang, sông Tam Kì,
    sông Bầu Bầu... Ngang dọc chỗ nào cũng có sông, có nước, đủ cho dân cư
    nảy nở.

    Nhưng việc mới lại đẻ ra.
    Dân cư trên sông Thu Bồn hoá đông đúc. Số người đẻ ra nhiều thì số người
    chết không ít. Nhà cửa dưới âm phủ ngày càng thấy thiếu, mọi việc trở nên
    phiền phức. Vua Diêm Vương thấy cần thiết phải xây dựng thêm nhà cửa và
    cung điện. Ngài sai bọn Hà Bá mang theo bọn Thuồng Luồng, Bạch Tuộc
    lên nguồn đốn gỗ. Chúng ngược sông Thu Bồn, hô mưa gọi gió gây ra
    những bão táp dữ dội, vặt hết gỗ tốt. Vị Thượng Ngàn phải đánh trả. Ngài
    nhổ những núi to ném xuống. Bọn thuỷ quái chết có hàng triệu, thây đặc cả
    nước. Núi rơi loạn xị cắm xuống đất, có hòn cao ngất như Núi Chúa, núi Cu
    Đê, núi Phò Nam. Có hòn làm thành những hình thù kì quái: Hòn Nghê
    giống như sư tử đứng chồm ra biển, cụm Ngũ Hành Sơn giống như năm
    ngọn tháp chọc trời xanh, núi Quắp giống như một cái vuốt hổ, dãy Phò
    Nam giống như đàn cá kình vùng vẫy...
    Như vậy sau những cuộc chiến đấu ác liệt, núi cũng như sông ở quê nội của
    thằng Cù Lao đã hình thành, hiện nay còn nguyên như cũ.
    °°°
    Câu chuyện vẫn tiếp tục.
    Nhờ những trận đánh trả quyết liệt của vị Thượng Ngàn, nhân dân đã sống
    sót. Nhưng sau trận lụt bão, nạn dịch tả lại hoành hành.Một năm bệnh đậu
    mùa làm người chết như rạ. Viên quan dưới âm phủ lo về nhân thế bộ
    không ghi hết danh sách. Một số cô hồn phải ở lại trần gian. Chúng nổi lên
    phá phách, bắt mọi người phải cúng lễ. Một số thay đổi hình dạng. Có lúc
    chúng biến thành chim, thành cá hoặc thành những ông già, hoặc những
    người bạn thân thiết. Có người đang ngồi nói chuyện với một người bạn,
    chợt người bạn đó hoá thành hai, giống nhau như đúc. Người nào cũng cho
    mình là bạn thật, làm không biết đâu là thật, đâu là giả. Bọn ma quỷ gieo
    rắc hoang mang giữa bạn bè, anh em, cha con. Cuộc sống bị đảo lộn. Vừa
    lúc đó có một vị đạo sĩ ra đời. Ngài biết con đường đi vào trăng sao và con
    đường đi vào lòng người. Do đó thật hư ngài đều hiểu rõ. Ngài cầm chiếc

    quạt nan, mặc áo vải, đi chân đất, nhưng đến đâu bọn ma quỷ đều khiếp sợ.
    Vị đạo sĩ dùng bùa chú, tập hợp các loại âm hồn giảng giải:
    - Ta không hiểu sao các ngươi cứ làm tổn hại đến sinh linh. Nếu người sống
    còn lại ít thì tất nhiên việc lễ bái cũng sẽ ít đi. Số chết đi biến thành ma quỷ
    ngày càng đông, thì cái ăn của các người càng bị thiếu. Cái ăn càng thiếu thì
    dễ sinh làm bậy. Ta khuyên các ngươi nên tập hợp lại, làm giấy khai với
    Diêm Vương để xin hoá kiếp. Kẻ vì việc ...
     
    Gửi ý kiến

    THƯ VIỆN TIỂU HỌC MAI CHÂU MỞ RA CÁNH CỬA DIỆU KỲ

    Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    DANH NGÔN VỀ SÁCH

    Một cuốn sách hay trên giá sách là một người bạn, dù quay lưng lại nhưng vẫn là bạn tốt”. Vậy tại sao chúng ta lại quay lưng với người bạn tốt?Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    SỰ TÍCH CÂY NÊU NGÀY TẾT

    GTS THÁNG 3 LÒNG HIẾU THẢO

    XIN ĐỪNG LÀM MẸ KHÓC


    TẬP SAN MỪNG ĐẢNG MỪNG XUÂN

    Một thư viện tốt là trái tim của nhà trường – nơi nuôi dưỡng trí tuệ và tâm hồn học sinh

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC MAI CHÂU TỈNH PHÚ THỌ !

    “Sách mang trong mình sứ mệnh đưa độc giả đi du lịch khắp muôn nơi mà không cần di chuyển một bước.” – Jumpa Lahiri