STN

- 0 / 0
Nguồn: Internet
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 05h:27' 13-12-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 0
Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
Ngày gửi: 05h:27' 13-12-2024
Dung lượng: 1.7 MB
Số lượt tải: 0
Số lượt thích:
0 người
Tái bản lần thứ 16
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Người cổ Việt Nam/ Trần Bạch Đằng chủ biên; Đinh Văn Liên, Bùi Chí Hoàng biên
soạn; họa sĩ Nguyễn Trung Tín. - Tái bản lần thứ 16. - T.P.Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
96tr. ; 20cm - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh) ; T.1).
1. Người Việt Nam - Sách tranh. 2. Việt Nam - Lịch sử - Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng.
II. Đinh Văn Liên. III. Bùi Chí Hoàng. IV. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnamese - Picture books. 2. Vietnam - History - Picture books.
989.7 -- dc 22
N576
LỜI GIỚI THIỆU
Công trình Lịch sử Việt Nam bằng tranh ra đời nhằm mục đích giới
thiệu lịch sử nước nhà một cách ngắn gọn, sinh động, có hệ thống qua
nhiều truyện kể súc tích và bằng những tranh vẽ minh họa.
Bộ sách tranh nhiều tập này cố gắng phản ánh con người và đất
nước Việt Nam theo đúng tiến trình lịch sử với không gian, văn hóa,
y phục, tính cách phù hợp với từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử.
Bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh dự kiến sẽ thực hiện xuyên suốt
từ người cổ Việt Nam qua các thời đại đồ đá, đồ đồng đến thời Hùng
Vương dựng nước; trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc đến thời kỳ
độc lập tự chủ của Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn và cuối cùng là
hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước vừa qua.
Bộ sách được chia thành nhiều tập. Mỗi tập viết về một thời kỳ
hay một nhân vật, một vấn đề tiêu biểu của thời kỳ đó. Mỗi tập có cấu
trúc độc lập riêng nhưng hài hòa trong một tổng thể chung là Lịch sử
Việt Nam. Trong quá trình biên soạn, các tác giả còn chú ý thể hiện
các đặc điểm văn hóa, lễ hội, phong tục tập quán tiêu biểu của từng
thời kỳ lịch sử.
Công trình này là một nỗ lực chung của các họa sĩ, các cán bộ
nghiên cứu của Viện Khoa học Xã hội tại TP. Hồ Chí Minh và Nhà
xuất bản Trẻ TP. Hồ Chí Minh.
Đây là bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh đầu tiên của nước ta được
thực hiện với mục đích và yêu cầu như trên, nên trong quá trình biên
soạn chắc không tránh khỏi những sơ suất. Ban biên soạn và Nhà xuất
bản Trẻ rất mong được sự góp ý của bạn đọc gần xa.
Thành phố Hồ Chí Minh
TRẦN BẠCH ĐẰNG
BẠN ĐỌC THÂN MẾN!
Chúng ta đang bước vào những trang đầu tiên của lịch sử
đất nước Việt Nam thân yêu. Hàng ngàn năm đã trôi qua, bụi
thời gian đã đóng dày từng lớp, từng lớp. Hẳn không ít bạn
trong chúng ta đã tự hỏi: Vào lúc nào trong thời khởi thủy xa
xăm kia, con người trên mảnh đất Việt Nam đã hình thành và
phát triển để trở thành con người như chúng ta bây giờ như
thế nào? Những người cổ Việt Nam ấy, tiền thân của tổ tiên
chúng ta thuộc giống người nào và đã xuất hiện ở đâu trên cả
ba miền đất nước tươi đẹp này? Họ sống và lao động ra sao?...
Các nhà Khảo cổ học, Nhân chủng học, các nhà Nghiên cứu
lịch sử... qua các công trình nghiên cứu, phát hiện trên các di
tích lịch sử còn lại sẽ cố gắng đáp ứng các câu hỏi của bạn
trong tập “Người cổ Việt Nam” này. Đây là tập mở đầu cho
bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh. Tuy hơi khô khan nhưng chứa
đựng nhiều tư liệu quí báu không chỉ giúp các bạn nâng cao
trình độ hiểu biết mà còn tạo điều kiện cho bạn học tốt môn
lịch sử ở nhà trường.
Nào, bây giờ mời các bạn làm một cuộc hành trình đi về quá
khứ hàng ngàn, hàng vạn năm để làm quen với những người
tối cổ là tổ tiên đã khai sinh ra các dân tộc Việt Nam và đất
nước Việt Nam ngày nay.
Chúc các bạn một cuộc hành trình lý thú vào lịch sử hào
hùng và vinh quang của dân tộc.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
4
Loài người từ đâu sinh ra? Đây là một câu hỏi lớn
được đặt ra cho mọi thời đại và với mọi lớp người.
Từ thời cổ đại cho đến ngày nay, nhiều huyền thoại
và nhiều giả thuyết của các nhà khoa học lý giải khác
nhau về vấn đề này.
Với huyền thoại Ai Cập thì thần Hanuma đã dùng
đất sét tạo thành con người trên bàn xoay đồ gốm. Con
người đầu tiên này được thần Hanuma trao cho một linh
hồn và bắt đầu sinh sôi nảy nở ở khắp bốn phương cho
đến ngày nay.
5
Kinh thánh của đạo Thiên Chúa bảo Đức Chúa trời
đã dùng đất sét để nặn thành người đàn ông và lấy
xương sườn của người đàn ông để tạo ra người đàn
bà. Từ khi nghe theo lời dụ dỗ của rắn thần ăn trái
cấm, biết tình yêu vợ chồng, họ đã rời khỏi vườn địa
đàng và tạo ra thế giới loài người muôn hình muôn
vẻ cho đến ngày nay.
6
Theo sách Trang Tử của nước Trung Hoa
thời cổ thì có loài sâu rễ tre sinh ra loài báo,
báo sinh ra ngựa và ngựa sinh ra người.
7
Huyền thoại Trung Hoa lại cho rằng bà Nữ Oa đã
dùng bùn vàng nặn ra con người và thổi vào đó sự
sống. Từ đó con người bắt đầu sinh con đẻ cái, nhiều
dần cho đến ngày nay.
8
Có học giả cổ Hy Lạp cho rằng con người sinh ra từ
loài cá. Loài cá ở dưới biển thở bằng mang, bơi bằng vây,
lên bờ biến đổi mang thành phổi, các vây trở thành bốn
chân như cá sấu. Rồi trải qua hàng triệu năm, loài người
bò sát đó bắt đầu đứng thẳng, đuôi dần dần rụng đi, hai
chân trước trở thành hai tay để hái trái và sử dụng công cụ.
9
Còn các nhà khoa học đã nghiên cứu trên nhiều lãnh vực: địa chất,
khảo cổ, sinh học..., trong đó nổi bật là Charles Darwin với Thuyết
tiến hóa* đã xác định tổ tiên loài người là từ một loài vượn người
xuất hiện cách nay từ 3 tới 4 triệu năm. Do những biến đổi trên bề
mặt trái đất lúc đó: nhiệt độ lạnh dần, rừng cây thu hẹp lại... trong khi
các động vật khác kể cả loài khỉ họ hàng, có loài bị tiêu diệt, có loài
bỏ đi nơi khác, thì loài vượn tổ tiên của loài người đã ở lại, rời ngọn
cây cao xuống đất, tập đi bằng hai chân để hai tay tìm kiếm thức ăn.
Đó là điều khiến loài vượn này khác với giống khỉ thông thường tuy
hình dạng bên ngoài còn hoàn toàn giống khỉ**.
* Xem sơ đồ Thuyết tiến hóa ở cuối sách
** Người ta đã phát hiện ra di cốt của con người đầu tiên ở Nam Châu Phi
năm 1925, được gọi tên là Vượn cổ phương Nam (Australopithecus).
KHỈ NGUYÊN THỦY PROPLIOPITHECUS DRIOPITHECUS
Trang 10, 11, 12 và 13 được vẽ lại theo hình vẽ của R. Daligherơ
trong tạp chí “Tin tức UNESCO” tháng 8, 9 năm 1972.
10
Tiến hóa thêm một bước, người vượn đã chuyển từ ăn rau quả
sang biết ăn thịt, thường xuyên đi bằng hai chân và sử dụng công cụ
đá. Những hòn đá được ghè đẽo thô sơ để chặt, đập các thứ hái lượm
hoặc săn bắt được ấy chính là những công cụ lao động đầu tiên và
cũng là những vũ khí đầu tiên do con người chế tạo. Người tiền sử
thời này còn có tên là Người khéo léo (Homo Habilis).
RAMAPITHECUS AUSTRALOPITHECUS HOMO HOBILIS
(NGƯỜI KHÉO LÉO)
11
Từ hai triệu năm tới mười vạn năm cách nay là Người đứng thẳng
(Homo Erectus) gần giống con người hiện nay và đặc biệt đã biết
dùng lửa. Có thể họ đã tìm ra lửa từ những đám cháy rừng rồi tìm
cách giữ để sưởi ấm, nấu chín thức ăn, xua đuổi thú dữ... Việc tìm ra
lửa đánh dấu một bước quan trọng trong quá trình tiến hóa từ vượn
thành người. Không một loài vật nào, kể cả loài khỉ, biết dùng lửa.
HOMO ERECTUS
(NGƯỜI ĐỨNG THẲNG)
12
HOMO NEANDERTHALENSIS
(NGƯỜI NEANDERTHAL)
Cuộc sống ngày càng phát triển, lao động tập thể ngày càng phức
tạp đòi hỏi người cổ phải có những cử chỉ điệu bộ để giao tiếp với
nhau. Cho đến khi điệu bộ không diễn tả nỗi suy nghĩ của trí óc thì
tiếng nói ra đời. Tiếng nói chứng tỏ con người lúc này đã thực sự là
Người. Các nhà bác họ gọi người cổ đại này là người Neanderthal*.
Ngoài tiếng nói người Neanderthal còn biết chôn người chết. Sau
cùng là Người Khôn ngoan hiện đại (Homo Sapiens Sapiens), cách
nay khoảng ba vạn năm, hoàn toàn giống người hiện nay.
HOMO SAPIENS
NGƯỜI KHÔN NGOAN TÂN CỔ
HOMO SAPIENS SAPIENS
NGƯỜI KHÔN NGOAN HIỆN ĐẠI
* Do đào được xương người cổ thời kỳ này ở vùng Neanderthal trong thung
lũng chi nhánh sông Rhein (Đức).
13
Các địa điểm tìm thấy người cổ ở Đông Nam Á
1. Các di chỉ ở Hà Tây-Hòa Bình
2. Các di chỉ ở Thanh Hóa
3. Các di chỉ ở Bắc Sơn
4. Mái đá Ngườm
5. Thẩm Khương
6. Sạp Việt
7. Các di chỉ ở Nghệ An-Hà Tĩnh
8. Các di chỉ ở Quảng BìnhQuảng Trị-Thừa Thiên Huế
9. Tam Hang
10. Tam Pông
11. Tam Hang Anh
12. Tham Prahom
13. Khăm Muội
14. Laang Spean
15. Tham Pra
16. Spirit cave
17. Hang Banyan Valley
18. Chieng Mai
19. Sai Yok
20. Milong Kroe
21. Hang Ongb
22. Cap Buri
23. Rat Buri
24. Các di chỉ ở Bancao
25. Krabi
26. Padah Lin
27. Tin Ain
28. Gua Kepah
29. Gua Debu
30. Gua Kajang
31. Gua Kerbau
32. Gua Musang
33. Goi Ba'it
34. Gua Madu
35. Gua Cha
36. Kata Tangkat
37. Tolong
38. Gua Kechit
39. Bukit Chimamari
40. Các di chỉ Medan
41. Hang Niah
42. Hang Tabon
Đất nước Việt Nam của chúng ta cũng nằm trong sự tiến hóa
chung ấy, không những thế, các nhà khoa học cho rằng Việt Nam có
thể là một trong những vùng lãnh thổ quê hương của loài người. Việt
Nam nằm giữa Java và Bắc Kinh là hai nơi đã phát hiện được những
giống người vượn cổ và những di tích văn hóa thuộc Thời đại sơ kỳ
đồ đá cũ*. Đó là thời đại cổ xưa nhất khi mà loài người vừa bước ra
từ thế giới động vật. Người ta còn phát hiện di tích văn hóa của thời
đại này ở các nước láng giềng như Miến Điện (Myanmar), Thái Lan
và Mã Lai (Malaysia).
* Xem sơ đồ phân kỳ theo khảo cổ học cuối sách.
14
1. Rìu tay tìm thấy ở Núi Đọ (Thanh Hóa)
Núi Đọ (xã Thiệu Khánh, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa) là
địa điểm đầu tiên thuộc thời đại sơ kỳ đồ đá cũ đã được phát hiện ở
Việt Nam. Núi Đọ cách thị xã Thanh Hóa 9km thuộc xã Thiệu Khánh,
huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Đây là một trái núi cổ, lớn, đỉnh
cao 158m, có độ dốc thoải, đá bazan cổ màu xám - vàng nhạt, nằm
trên hữu ngạn sông Chu và cách bờ sông bởi một dải đất hẹp. Trên
sườn núi, cách chân núi 20-30m, có những tảng đá gốc lộ ra.
15
4. Hiện vật tìm thấy ở núi Đọ
(Thanh Hóa)
2. Công cụ ghè đẽo
3. Mảnh tước
Trên sườn núi Đọ, các nhà khảo cổ học đã thu lượm được hàng
nghìn sản phẩm đá có bàn tay gia công của người cổ hay còn gọi là
người nguyên thủy. Song, các hiện vật này hình loại còn đơn giản,
chế tạo còn thô sơ, bao gồm mảnh tước, hạch đá, công cụ chặt thô
sơ, nạo, rìu tay...
16
Một phát hiện quí báu khác là trong các hang Thẩm Khuyên và
Thẩm Hai ở xã Tân Văn, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, đã tìm
thấy những chiếc răng người nằm trong lớp trầm tích màu đỏ, chứa
xương cốt các loài động vật thuộc trung kỳ thời cách tân*. Răng vừa
có đặc điểm của răng người, vừa có đặc điểm của răng vượn, trong
nhiều kích thước gần gũi với răng người vượn Bắc Kinh. Đó là dấu
vết đầu tiên về người vượn ở Việt Nam, niên đại ước đoán là từ 25
đến 30 vạn năm.
* Thời đại địa chất thuốc thời kỳ
đá cũ cách nay từ 700.000 đến
300.000 năm.
NHỮNG ĐỊA ĐIỂM TÌM THẤY DẤU VẾT
XƯA NHẤT CỦA NGƯỜI
NGUYÊN THỦY Ở VIỆT NAM
17
Trong di chỉ* còn có những răng và xương của quần thể động vật
đã sống đồng thời với người vượn. Trong đó có những loài vẫn sống
đến ngày nay như hổ, báo sao, lợn rừng, khỉ, nhím... và những loài
đã bị tiêu diệt như gấu tre to lớn, voi răng kiếm và vượn khổng lồ.
* Cách gọi những chỗ mà các nhà khảo cổ phát hiện và đào được dấu vết cư
trú của người cổ.
18
BẢN ĐỒ VIỆT NAM
CÁC DI TÍCH KHẢO CỔ
Đá cũ sơ kỳ
Hang có hóa thạch người
Văn hóa Sơn Vi
Văn hóa Hòa Bình
Văn hóa Bắc Sơn
Văn hóa Hạ Long
Văn hóa Bàu Tró
Văn hóa Hoa Lộc
Văn hóa Phùng Nguyên
Văn hòa Đồng Đậu
Văn hóa Gò Mun
Văn hóa Đông Sơn
Văn hóa Sa Huỳnh
Giai đoạn Bến Đò
Giai đoạn trước Đông Sơn
Giai đoạn trước Sa Huỳnh
THỜI ĐẠI ĐÁ CŨ
1. Hạch đá (Cẩm Tiên).
2. Rìu (Đồng Nai).
3. Công cụ hình rìu (Bình Lộc - Đồng Nai).
4. Công cụ chặt nạo (Vườn Dũ - Sông Bé).
Ở miền Nam nước ta, tại Hang Gòn (huyện Long Thành, tỉnh Đồng
Nai) và Dầu Giây (Đồng Nai) và Vườn Dũ (xã Tân Mỹ, huyện Tân
Uyên, tỉnh Bình Dương) các nhà khoa học cũng đã tìm thấy một số đồ
đá đẽo bằng đá bazan như rìu tay, công cụ đá ba mặt, công cụ nhiều
mặt, mũi nhọn, nạo, nhiều hòn đá ném... Những phát hiện này góp
phần khẳng định sự có mặt của người cổ thuộc sơ kỳ thời đại đồ đá
cũ trên vùng đất đỏ miền Đông Nam bộ. Như vậy, trên toàn cõi nước
ta, từ Bắc vào Nam, vào thời đại đồ đá cũ cách nay hàng vạn năm đã
có người cổ sinh sống.
19
Người cổ trên các địa điểm tìm thấy ở nước ta đã ở vào giai đoạn
Người vượn đi thẳng, khá phát triển. Người vượn này sống thành
từng bầy 20-30 người gọi là bầy người nguyên thủy. Các thành viên
trong bầy đều bình đẳng, họ lao động chung với nhau và chia nhau
thức ăn tìm được.
20
Công việc hàng ngày của người vượn là săn bắt và hái lượm. Việc
săn bắt thường do đàn ông đảm nhiệm. Họ săn cả những loài thú lớn
như voi răng kiếm, gấu tre, hổ, báo, vượn khổng lồ... Để săn được
những thú lớn như thế họ phải đi thành nhóm, phối hợp chặt chẽ vì
công cụ lúc đó chỉ mới là gỗ, tre và đá đẽo nhọn. Chính vì vậy, công
việc săn bắn khá chật vật, những thứ săn bắt được thường rất ít ỏi và
không đủ sống.
21
Nguồn thứ ăn có từ việc
hái lượm các sản vật tự nhiên
như hoa trái, búp non, rễ, lá,
sâu bọ, trai ốc... dồi dào hơn.
Việc này thường do phụ nữ
đảm nhiệm. Họ hái lượm về
cho các gia đình trong bầy
ăn, số còn thừa cất để dành
cho những ngày thời tiết xấu
hay những lúc thức ăn khan
hiếm.
22
Cũng vì thế, vai trò người mẹ lúc này là quan trọng. Người mẹ
sinh con, hái lượm nuôi dưỡng cả gia đình và bầy tộc, nuôi dưỡng
con cái bảo tồn nòi giống, quán xuyến công việc trong gia đình và
trong bầy. Dòng họ lúc này được tính theo huyết thống người mẹ nên
gọi là chế độ mẫu hệ. Còn người đàn ông, do việc săn bắt theo đuổi
con mồi trong thời gian dài cuốn hút khiến họ ít chú ý đến công việc
khác trong bầy.
23
Trải qua nhiều bước tiến hóa gian nan và lâu dài, Người vượn đứng
thẳng mới trở thành Người khôn ngoan hay Người hiện đại (Homo
Sapiens) như ngày nay. Ở hang Thẩm Ồm (xã Châu Thuận, huyện Quỳ
Châu, tỉnh Nghệ An) đã tìm thấy răng vừa mang đặc điểm của người
vượn cổ vừa có đặc điểm của người hiện đại. Còn ở hang Hùm (xã
Tân Lập, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái) lại tìm được răng người có
nhiều đặc điểm hiện tại. Ở hang Kéo Lèng (xã Tô Hiệu, huyện Bình
Gia, tỉnh Lạng Sơn), hang Thung Lang (phường Nam Sơn, thị xã Tam
Điệp, tỉnh Ninh Bình) cũng phát hiện răng và xương của người hiện
đại có niên đại từ 30 đến 29 ngàn năm. Vậy người hiện đại xuất hiện
rất sớm ở Việt Nam, có thể có niên đại từ 5 đến 4 vạn năm về trước.
Hang Hùm - nơi tìm được di tích thuộc
thời đại đồ đá cũ cách nay khoảng
200.000 năm
24
Răng người vượn ở hang Hùm
Thời đại hậu kỳ đá cũ ở Việt Nam các nhà khảo cổ gọi là văn hóa
Sơn Vi*. Các bộ lạc chủ nhân văn hóa Sơn Vi đã cư trú trên địa bàn
rất rộng ở miền Bắc nước ta. Dấu vết của văn hóa Sơn Vi đã tìm thấy
từ Lào Cai, Yên Bái ở phía bắc đến Nghệ An, Hà Tĩnh ở phía nam,
từ Sơn La ở phía tây đến vùng sông Lục Nam ở phía đông. Thời này
mật độ dân cư đã nhiều hơn trước, có những bộ lạc sống ở ngoài
trời Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Giang cũng như trong các
hang động núi đá vôi (Sơn La, Lai Châu). Họ dùng đá cuội để chế
tác công cụ. Công cụ tiêu biểu của Sơn Vi là những hòn cuội được
ghè đẽo ở rìa cạnh.
* Các nhà khoa học thường lấy tên địa điểm phát
hiện di tích đầu tiên tiêu biểu cho văn hóa khảo cổ
thời kỳ nào đó để đặt tên cho nền văn hóa đó. Ví
dụ: Văn hóa Sơn Vi thuộc thời địa hậu kỳ đá cũ ở
Việt Nam, phát hiện đầu tiên vào năm 1958 ở xã
Sơn Vi huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Những giai
đoạn sau là văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn,
văn hóa Quỳnh Văn...
25
Cư dân văn hóa Sơn Vi sinh sống cách nay hơn một vạn năm. Họ
vẫn là những bộ lạc săn bắt và hái lượm. Trong các hang của họ có
xương răng của các loài trâu bò rừng, lợn rừng, hoẵng, nhím, dúi,
khỉ... là dấu vết hoạt động săn bắt của họ. Ngoài ra người ta còn tìm
thấy có xương cá và mai rùa. Họ còn có tục chôn người chết ngay
tại nơi cư trú.
Công cụ đá thuộc văn hóa Sơn Vi
26
Chày và bàn nghiền
thuộc văn hóa
Hòa Bình
Tiếp theo cư dân văn hóa Sơn Vi và phát triển lên một bước là cư
dân văn hóa Hòa Bình. Các bộ lạc Hòa Bình phân bố rộng rãi ở vùng
núi Tây Bắc, trong các tỉnh Sơn La, Lai Châu; ở vùng núi đá vôi thành
phố Hà Nội (phần đất Hà Tây cũ), Hòa Bình, Hà Nam, Nam Định,
Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Vình, Quảng Trị,
Thừa Thiên Huế. Người Hòa Bình cũng thường sống trong hang động
và mái đá. Công cụ tiêu biểu của văn hóa Hòa Bình là rìu ngắn, chày
nghiền... làm bằng đá cuội, ghè đẽo một mặt, một mặt giữ nguyên
hình đĩa, hình bầu dục hay hình hạnh nhân.
27
Cư dân văn hóa Hòa Bình đã biết làm nông nghiệp do việc họ bắt
đầu định cư lâu dài thay vì du canh du cư như trước đây. Như vậy,
trên cơ sở kinh tế hái lượm phát triển, người Hòa Bình đã thực hiện
một bước nhảy vọt là biết đến nông nghiệp trồng rau củ, tiền thân
của nông nghiệp trồng lúa.
Bằng phương pháp phân
tích bào tử phấn hoa, các
nhà khoa học đã tìm hoa
họ rau đậu trong một số
hang Hòa Bình.
HIỆN VẬT THUỘC VĂN
HÓA HÒA BÌNH
1. Rìu ghè cạnh
2. Rìu mài lưỡi
28
Người Hòa Bình bước đầu đã có những hoạt động nghệ thuật sơ
khai, đơn giản. Họ biết khắc hình thú vật, mặt người, cây lá lên vách
đá nơi cư trú, trên xương hay trên những viên đá cuội. Họ còn dùng
thổ hoàng để vẽ hay bôi trên thân mình. Người ta cũng tìm thấy đồ
trang sức, thường là vỏ ốc biển được mài thủng lưng, xâu dây đeo
như các vòng đeo cổ, tay, chân của con người ngày nay.
1. Vỏ trai ốc
2. Hòn thổ hoàng
Hình mặt thú khắc trên vách đá
hang Đồng Nội (khoảng 10.000
năm trước Công nguyên).
29
Thời ấy, người Hòa Bình đã có tín ngưỡng. Mỗi một thị tộc đều thờ
một vật tổ riêng mà họ xem là rất thiêng liêng, là cội nguồn xuất phát
của thị tộc, có quyền lực tối hậu tạo họa phước an nguy cho cả thị tộc
mà họ phải thờ phụng dâng lễ thường xuyên. Nơi cúng vật tổ thường
ở sâu trong các đáy hang. Vật tổ có thể là loài động vật ăn cỏ như
hươu nai... có thể là loài chim lạ, cây quý hay những tảng đá dị hình.
Hang Đồng Nội (xã Đồng
Tâm, huyện Lạc Thủy, tỉnh
Hòa Bình) nơi có nhiều
di tích thuộc thời
đại đồ đá mới.
30
Sau người cổ Hòa Bình và phát triển với trình độ cao hơn, trên đất
nước ta đã có nhiều bộ lạc cư trú trong nhiều vùng tự nhiên khác nhau.
Ở miền núi có người cổ Bắc Sơn, được phát hiện đầu tiên ở các tỉnh
Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên. Người cổ sống cách đây từ một
vạn đến khoảng 8 nghìn năm, vào giai đoạn đầu của thời đại đá mới.
Tuy công cụ của họ vẫn là đá cuội nhưng tiến bộ
hơn người cổ Hòa Bình vì họ đã biết mài đá. Người
Bắc Sơn lấy một hòn cuội ghè đẽo chung quanh rồi
sau đó một đầu thành lưỡi sắc bén. Kỹ thuật mài đá
đánh dấu một bước tiến quan trọng trong cuộc sống
lao động của người Việt cổ. Rìu mài của Văn hóa Bắc
Sơn có ý nghĩa rất lớn trong việc săn bắt cũng như
chặt cây phá rừng, phát triển nghề nông lên một bước.
31
Một thành tựu quan trọng nữa là người cổ Bắc Sơn lần đầu tiên
đã biết làm gốm. Đồ gốm Bắc Sơn thường có miệng loe và đáy tròn.
Độ nung của đồ gốm chưa cao. Người cổ Bắc Sơn đã biết nhào đất
sét lẫn cát để nung nên đồ gốm, không rạn nứt nhưng còn rất thô. Họ
Bắc Sơn tuy đã biết làm đồ gốm nhưng có lẽ chưa dùng nhiều. Họ
vẫn dùng ống tre, vỏ bầu để đựng nước và nấu ăn.
HIỆN VẬT THUỘC VĂN HÓA BẮC SƠN
1. Bàn mài
4. Đá có vết lõm đôi
2. Rìu mài lưỡi
5. Mảnh gốm
3. Chày nghiền
6. Vỏ sò
32
Trang sức của cư dân văn hóa Bắc Sơn phong phú và đa dạng hơn
của cư dân văn hóa Hòa Bình. Ngoài những vỏ ốc biển xuyên lỗ giữa
để đeo, họ còn làm đồ trang sức bằng đá phiến có lỗ đeo và những hạt
chuỗi bằng đất nung hình trụ hay hình thoi, giữa có xuyên lỗ. Đồ trang
sức có ý nghĩa quan trọng các buổi lễ tế thần, tế trời đất của người cổ.
33
Cư dân văn hóa Bắc Sơn sống thành từng nhóm gồm những người
có quan hệ huyết thống tức là anh em bà con với nhau. Đó là những thị
tộc, bộ lạc mẫu hệ. Lúc này vai trò người phụ nữ vẫn quan trọng. Con
cái sinh ra chỉ biết có
mẹ. Đứng đầu những
thị tộc, bộ lạc là những
phụ nữ lớn tuổi, khỏe
mạnh, có nhiều kinh
nghiệm.
Hang Đồng Ky - nơi có nhiều di tích
thời đại đồ đá mới.
34
Hình khắc trong hang Đồng Ky.
Khoảng 5.000 - 8.000 năm trước
Công nguyên.
Người ta cho rằng vào thời kỳ này
cư dân văn hóa Bắc Sơn đã biết đến
số đếm. Trong một số hang động Bắc
Sơn, trên những phiến đá nhỏ, người
cổ đã khắc lên những đường rẽ quạt,
đường tròn hay vuông, hình chữ nhật
gần nhau. Trên những vật bằng đất
sét hay bằng đá phiến đã có những
đoạn thẳng song song làm thành từng
nhóm.
35
Trong thời gian này, bên cạnh văn hóa Bắc Sơn ở vùng đồi núi,
còn có văn hóa Quỳnh Văn phân bố ở vùng ven biển, mà người ta
đã tìm thấy dấu tích trên các đồi vỏ điệp ở Quỳnh Văn thuộc huyện
Quỳnh Lưu, Nghệ An. Với họ điệp, sò, ốc, ngao, hàu là những nguồn
thức ăn quan trọng. Khác hẳn với cư dân văn hóa Bắc Sơn, rìu đá
của họ không làm bằng cuội và không có vết mài. Họ dùng đá thạch
anh, đá gốc, ghè đẽo trên cả hai mặt, rìu có đốc dày, lưỡi và hai rìa
cạnh được ghè mỏng.
36
Cư dân văn hóa Quỳnh Văn còn biết mài xương thú thành các mũi
dùi, những chiếc đục. Họ còn làm các loại nồi gốm đáy nhọn, trong và
ngoài đều có vết chải, được nặn bằng tay. Đặc biệt, người cổ Quỳnh
Văn đã biết nấu chín thức ăn. Trong các nơi cư trú của họ, người ta
tìm thấy bếp với những đám tro than và các hòn đá ám khói. Trong
tro than, thường lẫn lộn xương thú, xương cá và càng cua.
37
Dấu tích mộ cổ ở di tích cồn Sò Điệp
(Đa Bút - Thanh Hóa).
Khoảng 2000 - 3000 năm trước Công
nguyên.
Tục chôn người chết của người Quỳnh Văn khá đặc biệt. Người
ta đào những huyệt mộ tròn thẳng từ trên xuống dưới, xuyên qua
các lớp vỏ điệp. Người chết được chôn vào mộ với tư thế ngồi xổm,
hai chân co lại, hai tay duỗi hai bên, đầu tựa vào thành huyệt. Có lẽ
người chết đã được cột lại trước khi chôn và thường chôn ở ngay nơi
cư trú. Trong các mộ còn có chôn theo đồ trang sức và công cụ lao
động. Tục chôn này thể hiện quan niệm gắn bó với người chết, vừa
sợ người chết về hại đến gia đình, bộ lạc.
38
Bên cạnh hoạt động kinh tế chủ yếu là bắt điệp, sò, ốc ở bờ biển
và vùng nước lợ, người cổ Quỳnh Văn còn sinh sống bằng nghề
đánh cá biển. Trong các đồi vỏ sò điệp, người ta còn tìm thấy các
đốt xương sống và vây của các loài cá biển khá lớn. Muốn đánh
được loài cá biển như vậy, người cổ Quỳnh Văn phải có thuyền
ra biển. Như vậy, có thể nói, bên cạnh việc hái lượm săn bắt,
nghề đánh cá biển đã phát triển trong các cư dân cổ ở vùng
biển Quỳnh Văn.
39
Cuối Thời đại đá mới, cách nay khoảng 6-5 năm phần lớn cư dân
cổ trên đất nước ta đều đã bước đến giai đoạn nông nghiệp trồng lúa.
Đây là một cuộc cách mạng thật sự, làm thay đổi lớn lao đời sống
của các cư dân nguyên thủy. Họ đã định cư lâu dài, đã biết tổ chức
sản xuất tuy còn rất sơ khai, từng bước học hỏi kinh nghiệm để chế
ngự thiên nhiên, chủ động thực phẩm cho cộng đồng.
40
HIỆN VẬT THUỘC VĂN HÓA HẠ LONG
(Quảng Ninh)
1. Rìu mui rùa
2. Rìu có vai và vai xuôi
3. Bôn
4. Cuốc
Ở vùng biển Quảng Ninh - Hải Phòng và trên một số đảo trong
vịnh Hạ Long còn phát hiện được những di tích về cư dân cổ Hạ Long.
Công cụ đá của người Hạ Long là rìu, bôn và đục. Bôn gần giống rìu
nhưng lưỡi được mài vát một bên và có cán lắp như kiểu cán cuốc.
Loại công cụ đá tiêu biểu cho văn hóa Hạ Long là loại bôn có vai
có nấc với phần chuôi thu nhỏ có thể cắm hay buộc vào cán để lao
động. Người Hạ Long để biết kết hợp các kỹ thuật mài, cưa và khoan
đá một cách khéo léo để chế tác các công cụ và đồ trang sức rất đẹp.
41
Một tiến bộ nữa là cư dân văn hóa Hạ Long đã biết làm đồ gốm
bằng bàn xoay. Đồ gốm có nhiều loại hơn phục vụ cho cuộc sống hàng
ngày như: nồi, niêu, vò, hũ, bát, ấm... Đồ gốm có nhiều hình dạng,
có loại miệng hơi loe, có loại miệng loe ngang rồi gãy góc, có loại
miệng loe ra rồi có gờ gấp vào trong, có loại miệng hình nhiều cạnh,
có chân đế. Hoa văn thì có hoa văn dấu thừng (buộc dây thừng vào bàn
dập rồi dập lên khi còn ướt), đường song song cắt nhau bằng ô vuông
hay ô trám, hình tam giác hay đắp đất hình chữ S quanh gờ miệng.
42
Vào cuối Thời đại đá mới, qua các nghiên cứu phát hiện ở Bắc bộ,
Tây Nguyên và Đông Nam bộ cho biết trên khắp đất nước ta, đã tụ
cư nhiều bộ lạc trồng lúa. Thời đó xóm làng đã đông đúc, dân số đã
có sự tăng vọt hơn các thời trước. Sự phân công lao động đã bắt đầu
xuất hiện để thỏa mãn nhu cầu của bộ lạc và trao đổi với bên ngoài.
43
Bước sang Sơ kỳ thời đại đồ đồng, cư dân cổ ở nước ta, trong khi
vẫn đưa kỹ thuật chế tác đá lên đỉnh cao đã thay thế một số công cụ
đá bằng một nguyên liệu mới: đó là đồng. Sự xuất hiện của đồng đã
dần dần làm thay đổi mạnh mẽ đời sống xã hội nguyên thủy. Thời đại
đồ đồng ở nước ta được biết qua di chỉ văn hóa Phùng Nguyên (xã
Kinh Kệ, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ). Các bộ lạc Phùng Nguyên
đã tập trung thành những khu dân cư đông đúc phân bố cả vùng trung
du và một phần đồng bằng Bắc bộ, nhiều nhất là vùng hợp lưu các
con sông Hồng, sông Đà, sông La...
DI CHỈ THUỘC VĂN HÓA PHÙNG NGUYÊN
DI CHỈ PHONG PHÚ RÌU CÓ VAI
DI CHỈ THUỘC VĂN HÓA GÒ MUN
44
HIỆN VẬT TÌM THẤY Ở
PHÙNG NGUYÊN
1. Bàn mài
2. Rìu tứ giác
3. Rìu có vai
4. Mảnh vòng và lõi vòng
5. Màn rỉ đồng
Các bộ lạc Phùng Nguyên, cách nay hơn bốn ngàn năm, đã đưa
kỹ thuật làm đồ đá lên đến một trình độ cao. Hiện vật đã rất phong
phú về loại hình cũng như về số lượng. Công cụ, vũ khí, có đủ các
loại: rìu, bôn, đục, dao, lao, mũi tên, mũi nhọn, mũi khoan, chỉ lưới,
bàn mài, bàn đập gốm, qua... Trong một số nơi cư trú người ta còn
thấy tồn tại những “Công xưởng chế tác đá” chuyên sản xuất công
cụ và đồ trang sức.
45
Thời này, cảm quan về cái đẹp của người cổ đã phát triển thể hiện
qua đồ trang sức, đồ gốm và ngay cả trên các công cụ đá. Những vòng
trang sức, những hạt chuỗi bằng đá nephrit màu xanh như màu men
ngọc hay trắng như ngà được khoan tiện tinh vi, xinh xắn. Đặc biệt,
còn có những tượng gà, tượng bò tuy đơn sơ, ước lệ nhưng chứng tỏ sự
quan sát tinh tế thế giới bên ngoài và khả năng thể hiện của người cổ.
Rìu, đục, vòng trang sức, lõi vòng
bằng đá cách nay khoảng 4000
năm tìm thấy ở Phùng Nguyên.
46
Các bộ lạc Phùng Nguyên
là các cư dân nông nghiệp
trồng lúa. Người ta tìm thấy
gạo cháy, phấn hoa của các
loài lúa nước Oryza trong các
di chỉ cư trú của người thời
này. Một điểm quan trọng là
người Phùng Nguyên biết đến
việc chăn nuôi, ít ra là họ đã
nuôi chó, lợn, trâu, bò, gà.
Do nông nghiệp và chăn nuôi
phát triển, nghề săn bắt vẫn
còn tồn tại nhưng không còn
chiếm vị trí chủ đạo.
Tượng thú tìm thấy ở Phùng Nguyên
47
Các nghề thủ công như đan lát, se chỉ, dệt vải đều đã phát triển.
Cư dân Phùng Nguyên đã biết đan lóng đôi và lóng thúng rất đẹp, rất
giống ngày nay. Họ đã se được các loại thừng to và chỉ nhỏ, nhiều
đọi se chỉ đã được phát hiện trong các di chỉ văn hóa của thời này.
48
BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM
Người cổ Việt Nam/ Trần Bạch Đằng chủ biên; Đinh Văn Liên, Bùi Chí Hoàng biên
soạn; họa sĩ Nguyễn Trung Tín. - Tái bản lần thứ 16. - T.P.Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
96tr. ; 20cm - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh) ; T.1).
1. Người Việt Nam - Sách tranh. 2. Việt Nam - Lịch sử - Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng.
II. Đinh Văn Liên. III. Bùi Chí Hoàng. IV. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
1. Vietnamese - Picture books. 2. Vietnam - History - Picture books.
989.7 -- dc 22
N576
LỜI GIỚI THIỆU
Công trình Lịch sử Việt Nam bằng tranh ra đời nhằm mục đích giới
thiệu lịch sử nước nhà một cách ngắn gọn, sinh động, có hệ thống qua
nhiều truyện kể súc tích và bằng những tranh vẽ minh họa.
Bộ sách tranh nhiều tập này cố gắng phản ánh con người và đất
nước Việt Nam theo đúng tiến trình lịch sử với không gian, văn hóa,
y phục, tính cách phù hợp với từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử.
Bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh dự kiến sẽ thực hiện xuyên suốt
từ người cổ Việt Nam qua các thời đại đồ đá, đồ đồng đến thời Hùng
Vương dựng nước; trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc đến thời kỳ
độc lập tự chủ của Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn và cuối cùng là
hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước vừa qua.
Bộ sách được chia thành nhiều tập. Mỗi tập viết về một thời kỳ
hay một nhân vật, một vấn đề tiêu biểu của thời kỳ đó. Mỗi tập có cấu
trúc độc lập riêng nhưng hài hòa trong một tổng thể chung là Lịch sử
Việt Nam. Trong quá trình biên soạn, các tác giả còn chú ý thể hiện
các đặc điểm văn hóa, lễ hội, phong tục tập quán tiêu biểu của từng
thời kỳ lịch sử.
Công trình này là một nỗ lực chung của các họa sĩ, các cán bộ
nghiên cứu của Viện Khoa học Xã hội tại TP. Hồ Chí Minh và Nhà
xuất bản Trẻ TP. Hồ Chí Minh.
Đây là bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh đầu tiên của nước ta được
thực hiện với mục đích và yêu cầu như trên, nên trong quá trình biên
soạn chắc không tránh khỏi những sơ suất. Ban biên soạn và Nhà xuất
bản Trẻ rất mong được sự góp ý của bạn đọc gần xa.
Thành phố Hồ Chí Minh
TRẦN BẠCH ĐẰNG
BẠN ĐỌC THÂN MẾN!
Chúng ta đang bước vào những trang đầu tiên của lịch sử
đất nước Việt Nam thân yêu. Hàng ngàn năm đã trôi qua, bụi
thời gian đã đóng dày từng lớp, từng lớp. Hẳn không ít bạn
trong chúng ta đã tự hỏi: Vào lúc nào trong thời khởi thủy xa
xăm kia, con người trên mảnh đất Việt Nam đã hình thành và
phát triển để trở thành con người như chúng ta bây giờ như
thế nào? Những người cổ Việt Nam ấy, tiền thân của tổ tiên
chúng ta thuộc giống người nào và đã xuất hiện ở đâu trên cả
ba miền đất nước tươi đẹp này? Họ sống và lao động ra sao?...
Các nhà Khảo cổ học, Nhân chủng học, các nhà Nghiên cứu
lịch sử... qua các công trình nghiên cứu, phát hiện trên các di
tích lịch sử còn lại sẽ cố gắng đáp ứng các câu hỏi của bạn
trong tập “Người cổ Việt Nam” này. Đây là tập mở đầu cho
bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh. Tuy hơi khô khan nhưng chứa
đựng nhiều tư liệu quí báu không chỉ giúp các bạn nâng cao
trình độ hiểu biết mà còn tạo điều kiện cho bạn học tốt môn
lịch sử ở nhà trường.
Nào, bây giờ mời các bạn làm một cuộc hành trình đi về quá
khứ hàng ngàn, hàng vạn năm để làm quen với những người
tối cổ là tổ tiên đã khai sinh ra các dân tộc Việt Nam và đất
nước Việt Nam ngày nay.
Chúc các bạn một cuộc hành trình lý thú vào lịch sử hào
hùng và vinh quang của dân tộc.
NHÀ XUẤT BẢN TRẺ
4
Loài người từ đâu sinh ra? Đây là một câu hỏi lớn
được đặt ra cho mọi thời đại và với mọi lớp người.
Từ thời cổ đại cho đến ngày nay, nhiều huyền thoại
và nhiều giả thuyết của các nhà khoa học lý giải khác
nhau về vấn đề này.
Với huyền thoại Ai Cập thì thần Hanuma đã dùng
đất sét tạo thành con người trên bàn xoay đồ gốm. Con
người đầu tiên này được thần Hanuma trao cho một linh
hồn và bắt đầu sinh sôi nảy nở ở khắp bốn phương cho
đến ngày nay.
5
Kinh thánh của đạo Thiên Chúa bảo Đức Chúa trời
đã dùng đất sét để nặn thành người đàn ông và lấy
xương sườn của người đàn ông để tạo ra người đàn
bà. Từ khi nghe theo lời dụ dỗ của rắn thần ăn trái
cấm, biết tình yêu vợ chồng, họ đã rời khỏi vườn địa
đàng và tạo ra thế giới loài người muôn hình muôn
vẻ cho đến ngày nay.
6
Theo sách Trang Tử của nước Trung Hoa
thời cổ thì có loài sâu rễ tre sinh ra loài báo,
báo sinh ra ngựa và ngựa sinh ra người.
7
Huyền thoại Trung Hoa lại cho rằng bà Nữ Oa đã
dùng bùn vàng nặn ra con người và thổi vào đó sự
sống. Từ đó con người bắt đầu sinh con đẻ cái, nhiều
dần cho đến ngày nay.
8
Có học giả cổ Hy Lạp cho rằng con người sinh ra từ
loài cá. Loài cá ở dưới biển thở bằng mang, bơi bằng vây,
lên bờ biến đổi mang thành phổi, các vây trở thành bốn
chân như cá sấu. Rồi trải qua hàng triệu năm, loài người
bò sát đó bắt đầu đứng thẳng, đuôi dần dần rụng đi, hai
chân trước trở thành hai tay để hái trái và sử dụng công cụ.
9
Còn các nhà khoa học đã nghiên cứu trên nhiều lãnh vực: địa chất,
khảo cổ, sinh học..., trong đó nổi bật là Charles Darwin với Thuyết
tiến hóa* đã xác định tổ tiên loài người là từ một loài vượn người
xuất hiện cách nay từ 3 tới 4 triệu năm. Do những biến đổi trên bề
mặt trái đất lúc đó: nhiệt độ lạnh dần, rừng cây thu hẹp lại... trong khi
các động vật khác kể cả loài khỉ họ hàng, có loài bị tiêu diệt, có loài
bỏ đi nơi khác, thì loài vượn tổ tiên của loài người đã ở lại, rời ngọn
cây cao xuống đất, tập đi bằng hai chân để hai tay tìm kiếm thức ăn.
Đó là điều khiến loài vượn này khác với giống khỉ thông thường tuy
hình dạng bên ngoài còn hoàn toàn giống khỉ**.
* Xem sơ đồ Thuyết tiến hóa ở cuối sách
** Người ta đã phát hiện ra di cốt của con người đầu tiên ở Nam Châu Phi
năm 1925, được gọi tên là Vượn cổ phương Nam (Australopithecus).
KHỈ NGUYÊN THỦY PROPLIOPITHECUS DRIOPITHECUS
Trang 10, 11, 12 và 13 được vẽ lại theo hình vẽ của R. Daligherơ
trong tạp chí “Tin tức UNESCO” tháng 8, 9 năm 1972.
10
Tiến hóa thêm một bước, người vượn đã chuyển từ ăn rau quả
sang biết ăn thịt, thường xuyên đi bằng hai chân và sử dụng công cụ
đá. Những hòn đá được ghè đẽo thô sơ để chặt, đập các thứ hái lượm
hoặc săn bắt được ấy chính là những công cụ lao động đầu tiên và
cũng là những vũ khí đầu tiên do con người chế tạo. Người tiền sử
thời này còn có tên là Người khéo léo (Homo Habilis).
RAMAPITHECUS AUSTRALOPITHECUS HOMO HOBILIS
(NGƯỜI KHÉO LÉO)
11
Từ hai triệu năm tới mười vạn năm cách nay là Người đứng thẳng
(Homo Erectus) gần giống con người hiện nay và đặc biệt đã biết
dùng lửa. Có thể họ đã tìm ra lửa từ những đám cháy rừng rồi tìm
cách giữ để sưởi ấm, nấu chín thức ăn, xua đuổi thú dữ... Việc tìm ra
lửa đánh dấu một bước quan trọng trong quá trình tiến hóa từ vượn
thành người. Không một loài vật nào, kể cả loài khỉ, biết dùng lửa.
HOMO ERECTUS
(NGƯỜI ĐỨNG THẲNG)
12
HOMO NEANDERTHALENSIS
(NGƯỜI NEANDERTHAL)
Cuộc sống ngày càng phát triển, lao động tập thể ngày càng phức
tạp đòi hỏi người cổ phải có những cử chỉ điệu bộ để giao tiếp với
nhau. Cho đến khi điệu bộ không diễn tả nỗi suy nghĩ của trí óc thì
tiếng nói ra đời. Tiếng nói chứng tỏ con người lúc này đã thực sự là
Người. Các nhà bác họ gọi người cổ đại này là người Neanderthal*.
Ngoài tiếng nói người Neanderthal còn biết chôn người chết. Sau
cùng là Người Khôn ngoan hiện đại (Homo Sapiens Sapiens), cách
nay khoảng ba vạn năm, hoàn toàn giống người hiện nay.
HOMO SAPIENS
NGƯỜI KHÔN NGOAN TÂN CỔ
HOMO SAPIENS SAPIENS
NGƯỜI KHÔN NGOAN HIỆN ĐẠI
* Do đào được xương người cổ thời kỳ này ở vùng Neanderthal trong thung
lũng chi nhánh sông Rhein (Đức).
13
Các địa điểm tìm thấy người cổ ở Đông Nam Á
1. Các di chỉ ở Hà Tây-Hòa Bình
2. Các di chỉ ở Thanh Hóa
3. Các di chỉ ở Bắc Sơn
4. Mái đá Ngườm
5. Thẩm Khương
6. Sạp Việt
7. Các di chỉ ở Nghệ An-Hà Tĩnh
8. Các di chỉ ở Quảng BìnhQuảng Trị-Thừa Thiên Huế
9. Tam Hang
10. Tam Pông
11. Tam Hang Anh
12. Tham Prahom
13. Khăm Muội
14. Laang Spean
15. Tham Pra
16. Spirit cave
17. Hang Banyan Valley
18. Chieng Mai
19. Sai Yok
20. Milong Kroe
21. Hang Ongb
22. Cap Buri
23. Rat Buri
24. Các di chỉ ở Bancao
25. Krabi
26. Padah Lin
27. Tin Ain
28. Gua Kepah
29. Gua Debu
30. Gua Kajang
31. Gua Kerbau
32. Gua Musang
33. Goi Ba'it
34. Gua Madu
35. Gua Cha
36. Kata Tangkat
37. Tolong
38. Gua Kechit
39. Bukit Chimamari
40. Các di chỉ Medan
41. Hang Niah
42. Hang Tabon
Đất nước Việt Nam của chúng ta cũng nằm trong sự tiến hóa
chung ấy, không những thế, các nhà khoa học cho rằng Việt Nam có
thể là một trong những vùng lãnh thổ quê hương của loài người. Việt
Nam nằm giữa Java và Bắc Kinh là hai nơi đã phát hiện được những
giống người vượn cổ và những di tích văn hóa thuộc Thời đại sơ kỳ
đồ đá cũ*. Đó là thời đại cổ xưa nhất khi mà loài người vừa bước ra
từ thế giới động vật. Người ta còn phát hiện di tích văn hóa của thời
đại này ở các nước láng giềng như Miến Điện (Myanmar), Thái Lan
và Mã Lai (Malaysia).
* Xem sơ đồ phân kỳ theo khảo cổ học cuối sách.
14
1. Rìu tay tìm thấy ở Núi Đọ (Thanh Hóa)
Núi Đọ (xã Thiệu Khánh, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa) là
địa điểm đầu tiên thuộc thời đại sơ kỳ đồ đá cũ đã được phát hiện ở
Việt Nam. Núi Đọ cách thị xã Thanh Hóa 9km thuộc xã Thiệu Khánh,
huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Đây là một trái núi cổ, lớn, đỉnh
cao 158m, có độ dốc thoải, đá bazan cổ màu xám - vàng nhạt, nằm
trên hữu ngạn sông Chu và cách bờ sông bởi một dải đất hẹp. Trên
sườn núi, cách chân núi 20-30m, có những tảng đá gốc lộ ra.
15
4. Hiện vật tìm thấy ở núi Đọ
(Thanh Hóa)
2. Công cụ ghè đẽo
3. Mảnh tước
Trên sườn núi Đọ, các nhà khảo cổ học đã thu lượm được hàng
nghìn sản phẩm đá có bàn tay gia công của người cổ hay còn gọi là
người nguyên thủy. Song, các hiện vật này hình loại còn đơn giản,
chế tạo còn thô sơ, bao gồm mảnh tước, hạch đá, công cụ chặt thô
sơ, nạo, rìu tay...
16
Một phát hiện quí báu khác là trong các hang Thẩm Khuyên và
Thẩm Hai ở xã Tân Văn, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, đã tìm
thấy những chiếc răng người nằm trong lớp trầm tích màu đỏ, chứa
xương cốt các loài động vật thuộc trung kỳ thời cách tân*. Răng vừa
có đặc điểm của răng người, vừa có đặc điểm của răng vượn, trong
nhiều kích thước gần gũi với răng người vượn Bắc Kinh. Đó là dấu
vết đầu tiên về người vượn ở Việt Nam, niên đại ước đoán là từ 25
đến 30 vạn năm.
* Thời đại địa chất thuốc thời kỳ
đá cũ cách nay từ 700.000 đến
300.000 năm.
NHỮNG ĐỊA ĐIỂM TÌM THẤY DẤU VẾT
XƯA NHẤT CỦA NGƯỜI
NGUYÊN THỦY Ở VIỆT NAM
17
Trong di chỉ* còn có những răng và xương của quần thể động vật
đã sống đồng thời với người vượn. Trong đó có những loài vẫn sống
đến ngày nay như hổ, báo sao, lợn rừng, khỉ, nhím... và những loài
đã bị tiêu diệt như gấu tre to lớn, voi răng kiếm và vượn khổng lồ.
* Cách gọi những chỗ mà các nhà khảo cổ phát hiện và đào được dấu vết cư
trú của người cổ.
18
BẢN ĐỒ VIỆT NAM
CÁC DI TÍCH KHẢO CỔ
Đá cũ sơ kỳ
Hang có hóa thạch người
Văn hóa Sơn Vi
Văn hóa Hòa Bình
Văn hóa Bắc Sơn
Văn hóa Hạ Long
Văn hóa Bàu Tró
Văn hóa Hoa Lộc
Văn hóa Phùng Nguyên
Văn hòa Đồng Đậu
Văn hóa Gò Mun
Văn hóa Đông Sơn
Văn hóa Sa Huỳnh
Giai đoạn Bến Đò
Giai đoạn trước Đông Sơn
Giai đoạn trước Sa Huỳnh
THỜI ĐẠI ĐÁ CŨ
1. Hạch đá (Cẩm Tiên).
2. Rìu (Đồng Nai).
3. Công cụ hình rìu (Bình Lộc - Đồng Nai).
4. Công cụ chặt nạo (Vườn Dũ - Sông Bé).
Ở miền Nam nước ta, tại Hang Gòn (huyện Long Thành, tỉnh Đồng
Nai) và Dầu Giây (Đồng Nai) và Vườn Dũ (xã Tân Mỹ, huyện Tân
Uyên, tỉnh Bình Dương) các nhà khoa học cũng đã tìm thấy một số đồ
đá đẽo bằng đá bazan như rìu tay, công cụ đá ba mặt, công cụ nhiều
mặt, mũi nhọn, nạo, nhiều hòn đá ném... Những phát hiện này góp
phần khẳng định sự có mặt của người cổ thuộc sơ kỳ thời đại đồ đá
cũ trên vùng đất đỏ miền Đông Nam bộ. Như vậy, trên toàn cõi nước
ta, từ Bắc vào Nam, vào thời đại đồ đá cũ cách nay hàng vạn năm đã
có người cổ sinh sống.
19
Người cổ trên các địa điểm tìm thấy ở nước ta đã ở vào giai đoạn
Người vượn đi thẳng, khá phát triển. Người vượn này sống thành
từng bầy 20-30 người gọi là bầy người nguyên thủy. Các thành viên
trong bầy đều bình đẳng, họ lao động chung với nhau và chia nhau
thức ăn tìm được.
20
Công việc hàng ngày của người vượn là săn bắt và hái lượm. Việc
săn bắt thường do đàn ông đảm nhiệm. Họ săn cả những loài thú lớn
như voi răng kiếm, gấu tre, hổ, báo, vượn khổng lồ... Để săn được
những thú lớn như thế họ phải đi thành nhóm, phối hợp chặt chẽ vì
công cụ lúc đó chỉ mới là gỗ, tre và đá đẽo nhọn. Chính vì vậy, công
việc săn bắn khá chật vật, những thứ săn bắt được thường rất ít ỏi và
không đủ sống.
21
Nguồn thứ ăn có từ việc
hái lượm các sản vật tự nhiên
như hoa trái, búp non, rễ, lá,
sâu bọ, trai ốc... dồi dào hơn.
Việc này thường do phụ nữ
đảm nhiệm. Họ hái lượm về
cho các gia đình trong bầy
ăn, số còn thừa cất để dành
cho những ngày thời tiết xấu
hay những lúc thức ăn khan
hiếm.
22
Cũng vì thế, vai trò người mẹ lúc này là quan trọng. Người mẹ
sinh con, hái lượm nuôi dưỡng cả gia đình và bầy tộc, nuôi dưỡng
con cái bảo tồn nòi giống, quán xuyến công việc trong gia đình và
trong bầy. Dòng họ lúc này được tính theo huyết thống người mẹ nên
gọi là chế độ mẫu hệ. Còn người đàn ông, do việc săn bắt theo đuổi
con mồi trong thời gian dài cuốn hút khiến họ ít chú ý đến công việc
khác trong bầy.
23
Trải qua nhiều bước tiến hóa gian nan và lâu dài, Người vượn đứng
thẳng mới trở thành Người khôn ngoan hay Người hiện đại (Homo
Sapiens) như ngày nay. Ở hang Thẩm Ồm (xã Châu Thuận, huyện Quỳ
Châu, tỉnh Nghệ An) đã tìm thấy răng vừa mang đặc điểm của người
vượn cổ vừa có đặc điểm của người hiện đại. Còn ở hang Hùm (xã
Tân Lập, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái) lại tìm được răng người có
nhiều đặc điểm hiện tại. Ở hang Kéo Lèng (xã Tô Hiệu, huyện Bình
Gia, tỉnh Lạng Sơn), hang Thung Lang (phường Nam Sơn, thị xã Tam
Điệp, tỉnh Ninh Bình) cũng phát hiện răng và xương của người hiện
đại có niên đại từ 30 đến 29 ngàn năm. Vậy người hiện đại xuất hiện
rất sớm ở Việt Nam, có thể có niên đại từ 5 đến 4 vạn năm về trước.
Hang Hùm - nơi tìm được di tích thuộc
thời đại đồ đá cũ cách nay khoảng
200.000 năm
24
Răng người vượn ở hang Hùm
Thời đại hậu kỳ đá cũ ở Việt Nam các nhà khảo cổ gọi là văn hóa
Sơn Vi*. Các bộ lạc chủ nhân văn hóa Sơn Vi đã cư trú trên địa bàn
rất rộng ở miền Bắc nước ta. Dấu vết của văn hóa Sơn Vi đã tìm thấy
từ Lào Cai, Yên Bái ở phía bắc đến Nghệ An, Hà Tĩnh ở phía nam,
từ Sơn La ở phía tây đến vùng sông Lục Nam ở phía đông. Thời này
mật độ dân cư đã nhiều hơn trước, có những bộ lạc sống ở ngoài
trời Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Giang cũng như trong các
hang động núi đá vôi (Sơn La, Lai Châu). Họ dùng đá cuội để chế
tác công cụ. Công cụ tiêu biểu của Sơn Vi là những hòn cuội được
ghè đẽo ở rìa cạnh.
* Các nhà khoa học thường lấy tên địa điểm phát
hiện di tích đầu tiên tiêu biểu cho văn hóa khảo cổ
thời kỳ nào đó để đặt tên cho nền văn hóa đó. Ví
dụ: Văn hóa Sơn Vi thuộc thời địa hậu kỳ đá cũ ở
Việt Nam, phát hiện đầu tiên vào năm 1958 ở xã
Sơn Vi huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Những giai
đoạn sau là văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn,
văn hóa Quỳnh Văn...
25
Cư dân văn hóa Sơn Vi sinh sống cách nay hơn một vạn năm. Họ
vẫn là những bộ lạc săn bắt và hái lượm. Trong các hang của họ có
xương răng của các loài trâu bò rừng, lợn rừng, hoẵng, nhím, dúi,
khỉ... là dấu vết hoạt động săn bắt của họ. Ngoài ra người ta còn tìm
thấy có xương cá và mai rùa. Họ còn có tục chôn người chết ngay
tại nơi cư trú.
Công cụ đá thuộc văn hóa Sơn Vi
26
Chày và bàn nghiền
thuộc văn hóa
Hòa Bình
Tiếp theo cư dân văn hóa Sơn Vi và phát triển lên một bước là cư
dân văn hóa Hòa Bình. Các bộ lạc Hòa Bình phân bố rộng rãi ở vùng
núi Tây Bắc, trong các tỉnh Sơn La, Lai Châu; ở vùng núi đá vôi thành
phố Hà Nội (phần đất Hà Tây cũ), Hòa Bình, Hà Nam, Nam Định,
Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Vình, Quảng Trị,
Thừa Thiên Huế. Người Hòa Bình cũng thường sống trong hang động
và mái đá. Công cụ tiêu biểu của văn hóa Hòa Bình là rìu ngắn, chày
nghiền... làm bằng đá cuội, ghè đẽo một mặt, một mặt giữ nguyên
hình đĩa, hình bầu dục hay hình hạnh nhân.
27
Cư dân văn hóa Hòa Bình đã biết làm nông nghiệp do việc họ bắt
đầu định cư lâu dài thay vì du canh du cư như trước đây. Như vậy,
trên cơ sở kinh tế hái lượm phát triển, người Hòa Bình đã thực hiện
một bước nhảy vọt là biết đến nông nghiệp trồng rau củ, tiền thân
của nông nghiệp trồng lúa.
Bằng phương pháp phân
tích bào tử phấn hoa, các
nhà khoa học đã tìm hoa
họ rau đậu trong một số
hang Hòa Bình.
HIỆN VẬT THUỘC VĂN
HÓA HÒA BÌNH
1. Rìu ghè cạnh
2. Rìu mài lưỡi
28
Người Hòa Bình bước đầu đã có những hoạt động nghệ thuật sơ
khai, đơn giản. Họ biết khắc hình thú vật, mặt người, cây lá lên vách
đá nơi cư trú, trên xương hay trên những viên đá cuội. Họ còn dùng
thổ hoàng để vẽ hay bôi trên thân mình. Người ta cũng tìm thấy đồ
trang sức, thường là vỏ ốc biển được mài thủng lưng, xâu dây đeo
như các vòng đeo cổ, tay, chân của con người ngày nay.
1. Vỏ trai ốc
2. Hòn thổ hoàng
Hình mặt thú khắc trên vách đá
hang Đồng Nội (khoảng 10.000
năm trước Công nguyên).
29
Thời ấy, người Hòa Bình đã có tín ngưỡng. Mỗi một thị tộc đều thờ
một vật tổ riêng mà họ xem là rất thiêng liêng, là cội nguồn xuất phát
của thị tộc, có quyền lực tối hậu tạo họa phước an nguy cho cả thị tộc
mà họ phải thờ phụng dâng lễ thường xuyên. Nơi cúng vật tổ thường
ở sâu trong các đáy hang. Vật tổ có thể là loài động vật ăn cỏ như
hươu nai... có thể là loài chim lạ, cây quý hay những tảng đá dị hình.
Hang Đồng Nội (xã Đồng
Tâm, huyện Lạc Thủy, tỉnh
Hòa Bình) nơi có nhiều
di tích thuộc thời
đại đồ đá mới.
30
Sau người cổ Hòa Bình và phát triển với trình độ cao hơn, trên đất
nước ta đã có nhiều bộ lạc cư trú trong nhiều vùng tự nhiên khác nhau.
Ở miền núi có người cổ Bắc Sơn, được phát hiện đầu tiên ở các tỉnh
Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên. Người cổ sống cách đây từ một
vạn đến khoảng 8 nghìn năm, vào giai đoạn đầu của thời đại đá mới.
Tuy công cụ của họ vẫn là đá cuội nhưng tiến bộ
hơn người cổ Hòa Bình vì họ đã biết mài đá. Người
Bắc Sơn lấy một hòn cuội ghè đẽo chung quanh rồi
sau đó một đầu thành lưỡi sắc bén. Kỹ thuật mài đá
đánh dấu một bước tiến quan trọng trong cuộc sống
lao động của người Việt cổ. Rìu mài của Văn hóa Bắc
Sơn có ý nghĩa rất lớn trong việc săn bắt cũng như
chặt cây phá rừng, phát triển nghề nông lên một bước.
31
Một thành tựu quan trọng nữa là người cổ Bắc Sơn lần đầu tiên
đã biết làm gốm. Đồ gốm Bắc Sơn thường có miệng loe và đáy tròn.
Độ nung của đồ gốm chưa cao. Người cổ Bắc Sơn đã biết nhào đất
sét lẫn cát để nung nên đồ gốm, không rạn nứt nhưng còn rất thô. Họ
Bắc Sơn tuy đã biết làm đồ gốm nhưng có lẽ chưa dùng nhiều. Họ
vẫn dùng ống tre, vỏ bầu để đựng nước và nấu ăn.
HIỆN VẬT THUỘC VĂN HÓA BẮC SƠN
1. Bàn mài
4. Đá có vết lõm đôi
2. Rìu mài lưỡi
5. Mảnh gốm
3. Chày nghiền
6. Vỏ sò
32
Trang sức của cư dân văn hóa Bắc Sơn phong phú và đa dạng hơn
của cư dân văn hóa Hòa Bình. Ngoài những vỏ ốc biển xuyên lỗ giữa
để đeo, họ còn làm đồ trang sức bằng đá phiến có lỗ đeo và những hạt
chuỗi bằng đất nung hình trụ hay hình thoi, giữa có xuyên lỗ. Đồ trang
sức có ý nghĩa quan trọng các buổi lễ tế thần, tế trời đất của người cổ.
33
Cư dân văn hóa Bắc Sơn sống thành từng nhóm gồm những người
có quan hệ huyết thống tức là anh em bà con với nhau. Đó là những thị
tộc, bộ lạc mẫu hệ. Lúc này vai trò người phụ nữ vẫn quan trọng. Con
cái sinh ra chỉ biết có
mẹ. Đứng đầu những
thị tộc, bộ lạc là những
phụ nữ lớn tuổi, khỏe
mạnh, có nhiều kinh
nghiệm.
Hang Đồng Ky - nơi có nhiều di tích
thời đại đồ đá mới.
34
Hình khắc trong hang Đồng Ky.
Khoảng 5.000 - 8.000 năm trước
Công nguyên.
Người ta cho rằng vào thời kỳ này
cư dân văn hóa Bắc Sơn đã biết đến
số đếm. Trong một số hang động Bắc
Sơn, trên những phiến đá nhỏ, người
cổ đã khắc lên những đường rẽ quạt,
đường tròn hay vuông, hình chữ nhật
gần nhau. Trên những vật bằng đất
sét hay bằng đá phiến đã có những
đoạn thẳng song song làm thành từng
nhóm.
35
Trong thời gian này, bên cạnh văn hóa Bắc Sơn ở vùng đồi núi,
còn có văn hóa Quỳnh Văn phân bố ở vùng ven biển, mà người ta
đã tìm thấy dấu tích trên các đồi vỏ điệp ở Quỳnh Văn thuộc huyện
Quỳnh Lưu, Nghệ An. Với họ điệp, sò, ốc, ngao, hàu là những nguồn
thức ăn quan trọng. Khác hẳn với cư dân văn hóa Bắc Sơn, rìu đá
của họ không làm bằng cuội và không có vết mài. Họ dùng đá thạch
anh, đá gốc, ghè đẽo trên cả hai mặt, rìu có đốc dày, lưỡi và hai rìa
cạnh được ghè mỏng.
36
Cư dân văn hóa Quỳnh Văn còn biết mài xương thú thành các mũi
dùi, những chiếc đục. Họ còn làm các loại nồi gốm đáy nhọn, trong và
ngoài đều có vết chải, được nặn bằng tay. Đặc biệt, người cổ Quỳnh
Văn đã biết nấu chín thức ăn. Trong các nơi cư trú của họ, người ta
tìm thấy bếp với những đám tro than và các hòn đá ám khói. Trong
tro than, thường lẫn lộn xương thú, xương cá và càng cua.
37
Dấu tích mộ cổ ở di tích cồn Sò Điệp
(Đa Bút - Thanh Hóa).
Khoảng 2000 - 3000 năm trước Công
nguyên.
Tục chôn người chết của người Quỳnh Văn khá đặc biệt. Người
ta đào những huyệt mộ tròn thẳng từ trên xuống dưới, xuyên qua
các lớp vỏ điệp. Người chết được chôn vào mộ với tư thế ngồi xổm,
hai chân co lại, hai tay duỗi hai bên, đầu tựa vào thành huyệt. Có lẽ
người chết đã được cột lại trước khi chôn và thường chôn ở ngay nơi
cư trú. Trong các mộ còn có chôn theo đồ trang sức và công cụ lao
động. Tục chôn này thể hiện quan niệm gắn bó với người chết, vừa
sợ người chết về hại đến gia đình, bộ lạc.
38
Bên cạnh hoạt động kinh tế chủ yếu là bắt điệp, sò, ốc ở bờ biển
và vùng nước lợ, người cổ Quỳnh Văn còn sinh sống bằng nghề
đánh cá biển. Trong các đồi vỏ sò điệp, người ta còn tìm thấy các
đốt xương sống và vây của các loài cá biển khá lớn. Muốn đánh
được loài cá biển như vậy, người cổ Quỳnh Văn phải có thuyền
ra biển. Như vậy, có thể nói, bên cạnh việc hái lượm săn bắt,
nghề đánh cá biển đã phát triển trong các cư dân cổ ở vùng
biển Quỳnh Văn.
39
Cuối Thời đại đá mới, cách nay khoảng 6-5 năm phần lớn cư dân
cổ trên đất nước ta đều đã bước đến giai đoạn nông nghiệp trồng lúa.
Đây là một cuộc cách mạng thật sự, làm thay đổi lớn lao đời sống
của các cư dân nguyên thủy. Họ đã định cư lâu dài, đã biết tổ chức
sản xuất tuy còn rất sơ khai, từng bước học hỏi kinh nghiệm để chế
ngự thiên nhiên, chủ động thực phẩm cho cộng đồng.
40
HIỆN VẬT THUỘC VĂN HÓA HẠ LONG
(Quảng Ninh)
1. Rìu mui rùa
2. Rìu có vai và vai xuôi
3. Bôn
4. Cuốc
Ở vùng biển Quảng Ninh - Hải Phòng và trên một số đảo trong
vịnh Hạ Long còn phát hiện được những di tích về cư dân cổ Hạ Long.
Công cụ đá của người Hạ Long là rìu, bôn và đục. Bôn gần giống rìu
nhưng lưỡi được mài vát một bên và có cán lắp như kiểu cán cuốc.
Loại công cụ đá tiêu biểu cho văn hóa Hạ Long là loại bôn có vai
có nấc với phần chuôi thu nhỏ có thể cắm hay buộc vào cán để lao
động. Người Hạ Long để biết kết hợp các kỹ thuật mài, cưa và khoan
đá một cách khéo léo để chế tác các công cụ và đồ trang sức rất đẹp.
41
Một tiến bộ nữa là cư dân văn hóa Hạ Long đã biết làm đồ gốm
bằng bàn xoay. Đồ gốm có nhiều loại hơn phục vụ cho cuộc sống hàng
ngày như: nồi, niêu, vò, hũ, bát, ấm... Đồ gốm có nhiều hình dạng,
có loại miệng hơi loe, có loại miệng loe ngang rồi gãy góc, có loại
miệng loe ra rồi có gờ gấp vào trong, có loại miệng hình nhiều cạnh,
có chân đế. Hoa văn thì có hoa văn dấu thừng (buộc dây thừng vào bàn
dập rồi dập lên khi còn ướt), đường song song cắt nhau bằng ô vuông
hay ô trám, hình tam giác hay đắp đất hình chữ S quanh gờ miệng.
42
Vào cuối Thời đại đá mới, qua các nghiên cứu phát hiện ở Bắc bộ,
Tây Nguyên và Đông Nam bộ cho biết trên khắp đất nước ta, đã tụ
cư nhiều bộ lạc trồng lúa. Thời đó xóm làng đã đông đúc, dân số đã
có sự tăng vọt hơn các thời trước. Sự phân công lao động đã bắt đầu
xuất hiện để thỏa mãn nhu cầu của bộ lạc và trao đổi với bên ngoài.
43
Bước sang Sơ kỳ thời đại đồ đồng, cư dân cổ ở nước ta, trong khi
vẫn đưa kỹ thuật chế tác đá lên đỉnh cao đã thay thế một số công cụ
đá bằng một nguyên liệu mới: đó là đồng. Sự xuất hiện của đồng đã
dần dần làm thay đổi mạnh mẽ đời sống xã hội nguyên thủy. Thời đại
đồ đồng ở nước ta được biết qua di chỉ văn hóa Phùng Nguyên (xã
Kinh Kệ, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ). Các bộ lạc Phùng Nguyên
đã tập trung thành những khu dân cư đông đúc phân bố cả vùng trung
du và một phần đồng bằng Bắc bộ, nhiều nhất là vùng hợp lưu các
con sông Hồng, sông Đà, sông La...
DI CHỈ THUỘC VĂN HÓA PHÙNG NGUYÊN
DI CHỈ PHONG PHÚ RÌU CÓ VAI
DI CHỈ THUỘC VĂN HÓA GÒ MUN
44
HIỆN VẬT TÌM THẤY Ở
PHÙNG NGUYÊN
1. Bàn mài
2. Rìu tứ giác
3. Rìu có vai
4. Mảnh vòng và lõi vòng
5. Màn rỉ đồng
Các bộ lạc Phùng Nguyên, cách nay hơn bốn ngàn năm, đã đưa
kỹ thuật làm đồ đá lên đến một trình độ cao. Hiện vật đã rất phong
phú về loại hình cũng như về số lượng. Công cụ, vũ khí, có đủ các
loại: rìu, bôn, đục, dao, lao, mũi tên, mũi nhọn, mũi khoan, chỉ lưới,
bàn mài, bàn đập gốm, qua... Trong một số nơi cư trú người ta còn
thấy tồn tại những “Công xưởng chế tác đá” chuyên sản xuất công
cụ và đồ trang sức.
45
Thời này, cảm quan về cái đẹp của người cổ đã phát triển thể hiện
qua đồ trang sức, đồ gốm và ngay cả trên các công cụ đá. Những vòng
trang sức, những hạt chuỗi bằng đá nephrit màu xanh như màu men
ngọc hay trắng như ngà được khoan tiện tinh vi, xinh xắn. Đặc biệt,
còn có những tượng gà, tượng bò tuy đơn sơ, ước lệ nhưng chứng tỏ sự
quan sát tinh tế thế giới bên ngoài và khả năng thể hiện của người cổ.
Rìu, đục, vòng trang sức, lõi vòng
bằng đá cách nay khoảng 4000
năm tìm thấy ở Phùng Nguyên.
46
Các bộ lạc Phùng Nguyên
là các cư dân nông nghiệp
trồng lúa. Người ta tìm thấy
gạo cháy, phấn hoa của các
loài lúa nước Oryza trong các
di chỉ cư trú của người thời
này. Một điểm quan trọng là
người Phùng Nguyên biết đến
việc chăn nuôi, ít ra là họ đã
nuôi chó, lợn, trâu, bò, gà.
Do nông nghiệp và chăn nuôi
phát triển, nghề săn bắt vẫn
còn tồn tại nhưng không còn
chiếm vị trí chủ đạo.
Tượng thú tìm thấy ở Phùng Nguyên
47
Các nghề thủ công như đan lát, se chỉ, dệt vải đều đã phát triển.
Cư dân Phùng Nguyên đã biết đan lóng đôi và lóng thúng rất đẹp, rất
giống ngày nay. Họ đã se được các loại thừng to và chỉ nhỏ, nhiều
đọi se chỉ đã được phát hiện trong các di chỉ văn hóa của thời này.
48
 





