GTST3 DÀNH CHO MẸ MÓN QUÀ TÌNH YÊU


TẠP CHÍ THƯ VIỆN - THƯ MỤC SÁCH 2025-2026

Ấn nhẹ vào đây để vào Phần mềm Vietbiblilo

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

Thành viên trực tuyến

0 khách và 2 thành viên
  • Nguyễn Thị Thu Hồi
  • Kiều Thị Thanh
  • Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • GIỚI THIỆU WEBSITE THƯ VIỆN TIỂU HỌC MAI CHÂU

    <

    Bản tin thư viện

    < Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z7626801057980_fd0c1665d01f119a6177b5a6ed8d179d.jpg Z7626801055219_1b176b5d91d86d0485ef6b788add7019.jpg Z7626951539691_cbd248c94d4ef70bcef855b388e38fd0.jpg Z7626801057980_fd0c1665d01f119a6177b5a6ed8d179d.jpg Z7626801057980_fd0c1665d01f119a6177b5a6ed8d179d.jpg Z7626801063324_d6302aa66ecdf10f5898fae046cbfeb9.jpg Z7626801045928_2ed2e1ff27c3adb4514b2e3d00588e1a.jpg Genhz7516031377579_b4ce3fdf5f33caaef11b0bd82a98d71d.jpg Genhz7516031330052_9ec35e8b90513ea7451772b56cc6dd9d.jpg Genhz7516033933207_7765c0ef473106600b24b9dd1d8b88fa.jpg Genhz7516033869466_35d598fa8211cb37a7586a77e007b6df.jpg Z7488794422426_50b5bf3b0fa38578782fadefe2fb3c75.jpg Z7488794408671_015096a72117735c5feb6b9fc9febd66.jpg Z7488794418960_b9c0a6d2b9dea0aaa1c8fe1465254dbe.jpg Z7488794418960_b9c0a6d2b9dea0aaa1c8fe1465254dbe.jpg Z7488794422426_50b5bf3b0fa38578782fadefe2fb3c75.jpg Z7488794422426_50b5bf3b0fa38578782fadefe2fb3c75.jpg Z7495156155512_c836636b71fb8044f21bfc41ef4bbc3f.jpg Z7495156160330_c038ea753684bdf8ae7f10dc02b6c3a3.jpg

    Ý NGHĨA VỀ ĐỌC SÁCH


    Chào mừng 116 năm ngày quốc tế Phụ nữ 8/3/2026

    💕💕💕💕 💕💕Thư viện không phải là nơi để ghé qua trong vội vã, mà là nơi yên bình ta chọn dừng chân giữa bộn bề cuộc sống. Nơi đây, mỗi cuốn sách đều như một mảnh ghép của thời gian, gói ghém những tri thức và câu chuyện của biết bao thế hệ💕💕💕💕

    STN

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn: Internet
    Người gửi: Phạm Thị Hảo (trang riêng)
    Ngày gửi: 05h:27' 13-12-2024
    Dung lượng: 1.7 MB
    Số lượt tải: 0
    Số lượt thích: 0 người
    Tái bản lần thứ 16

    BIỂU GHI BIÊN MỤC TRƯỚC XUẤT BẢN ĐƯỢC THỰC HIỆN BỞI THƯ VIỆN KHTH TP.HCM

    Người cổ Việt Nam/ Trần Bạch Đằng chủ biên; Đinh Văn Liên, Bùi Chí Hoàng biên
    soạn; họa sĩ Nguyễn Trung Tín. - Tái bản lần thứ 16. - T.P.Hồ Chí Minh : Trẻ, 2012.
    96tr. ; 20cm - (Lịch sử Việt Nam bằng tranh) ; T.1).
    1. Người Việt Nam - Sách tranh. 2. Việt Nam - Lịch sử - Sách tranh. I. Trần Bạch Đằng.
    II. Đinh Văn Liên. III. Bùi Chí Hoàng. IV. Ts: Lịch sử Việt Nam bằng tranh.
    1. Vietnamese - Picture books. 2. Vietnam - History - Picture books.
    989.7 -- dc 22
    N576

    LỜI GIỚI THIỆU
    Công trình Lịch sử Việt Nam bằng tranh ra đời nhằm mục đích giới
    thiệu lịch sử nước nhà một cách ngắn gọn, sinh động, có hệ thống qua
    nhiều truyện kể súc tích và bằng những tranh vẽ minh họa.
    Bộ sách tranh nhiều tập này cố gắng phản ánh con người và đất
    nước Việt Nam theo đúng tiến trình lịch sử với không gian, văn hóa,
    y phục, tính cách phù hợp với từng thời kỳ, giai đoạn lịch sử.
    Bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh dự kiến sẽ thực hiện xuyên suốt
    từ người cổ Việt Nam qua các thời đại đồ đá, đồ đồng đến thời Hùng
    Vương dựng nước; trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc đến thời kỳ
    độc lập tự chủ của Đinh, Lê, Lý, Trần, Lê, Nguyễn và cuối cùng là
    hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ cứu nước vừa qua.
    Bộ sách được chia thành nhiều tập. Mỗi tập viết về một thời kỳ
    hay một nhân vật, một vấn đề tiêu biểu của thời kỳ đó. Mỗi tập có cấu
    trúc độc lập riêng nhưng hài hòa trong một tổng thể chung là Lịch sử
    Việt Nam. Trong quá trình biên soạn, các tác giả còn chú ý thể hiện
    các đặc điểm văn hóa, lễ hội, phong tục tập quán tiêu biểu của từng
    thời kỳ lịch sử.
    Công trình này là một nỗ lực chung của các họa sĩ, các cán bộ
    nghiên cứu của Viện Khoa học Xã hội tại TP. Hồ Chí Minh và Nhà
    xuất bản Trẻ TP. Hồ Chí Minh.
    Đây là bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh đầu tiên của nước ta được
    thực hiện với mục đích và yêu cầu như trên, nên trong quá trình biên
    soạn chắc không tránh khỏi những sơ suất. Ban biên soạn và Nhà xuất
    bản Trẻ rất mong được sự góp ý của bạn đọc gần xa.
    Thành phố Hồ Chí Minh
    TRẦN BẠCH ĐẰNG

    BẠN ĐỌC THÂN MẾN!
    Chúng ta đang bước vào những trang đầu tiên của lịch sử
    đất nước Việt Nam thân yêu. Hàng ngàn năm đã trôi qua, bụi
    thời gian đã đóng dày từng lớp, từng lớp. Hẳn không ít bạn
    trong chúng ta đã tự hỏi: Vào lúc nào trong thời khởi thủy xa
    xăm kia, con người trên mảnh đất Việt Nam đã hình thành và
    phát triển để trở thành con người như chúng ta bây giờ như
    thế nào? Những người cổ Việt Nam ấy, tiền thân của tổ tiên
    chúng ta thuộc giống người nào và đã xuất hiện ở đâu trên cả
    ba miền đất nước tươi đẹp này? Họ sống và lao động ra sao?...
    Các nhà Khảo cổ học, Nhân chủng học, các nhà Nghiên cứu
    lịch sử... qua các công trình nghiên cứu, phát hiện trên các di
    tích lịch sử còn lại sẽ cố gắng đáp ứng các câu hỏi của bạn
    trong tập “Người cổ Việt Nam” này. Đây là tập mở đầu cho
    bộ Lịch sử Việt Nam bằng tranh. Tuy hơi khô khan nhưng chứa
    đựng nhiều tư liệu quí báu không chỉ giúp các bạn nâng cao
    trình độ hiểu biết mà còn tạo điều kiện cho bạn học tốt môn
    lịch sử ở nhà trường.
    Nào, bây giờ mời các bạn làm một cuộc hành trình đi về quá
    khứ hàng ngàn, hàng vạn năm để làm quen với những người
    tối cổ là tổ tiên đã khai sinh ra các dân tộc Việt Nam và đất
    nước Việt Nam ngày nay.
    Chúc các bạn một cuộc hành trình lý thú vào lịch sử hào
    hùng và vinh quang của dân tộc.
    NHÀ XUẤT BẢN TRẺ

    4

    Loài người từ đâu sinh ra? Đây là một câu hỏi lớn
    được đặt ra cho mọi thời đại và với mọi lớp người.
    Từ thời cổ đại cho đến ngày nay, nhiều huyền thoại
    và nhiều giả thuyết của các nhà khoa học lý giải khác
    nhau về vấn đề này.
    Với huyền thoại Ai Cập thì thần Hanuma đã dùng
    đất sét tạo thành con người trên bàn xoay đồ gốm. Con
    người đầu tiên này được thần Hanuma trao cho một linh
    hồn và bắt đầu sinh sôi nảy nở ở khắp bốn phương cho
    đến ngày nay.

    5

    Kinh thánh của đạo Thiên Chúa bảo Đức Chúa trời
    đã dùng đất sét để nặn thành người đàn ông và lấy
    xương sườn của người đàn ông để tạo ra người đàn
    bà. Từ khi nghe theo lời dụ dỗ của rắn thần ăn trái
    cấm, biết tình yêu vợ chồng, họ đã rời khỏi vườn địa
    đàng và tạo ra thế giới loài người muôn hình muôn
    vẻ cho đến ngày nay.

    6

    Theo sách Trang Tử của nước Trung Hoa
    thời cổ thì có loài sâu rễ tre sinh ra loài báo,
    báo sinh ra ngựa và ngựa sinh ra người.

    7

    Huyền thoại Trung Hoa lại cho rằng bà Nữ Oa đã
    dùng bùn vàng nặn ra con người và thổi vào đó sự
    sống. Từ đó con người bắt đầu sinh con đẻ cái, nhiều
    dần cho đến ngày nay.

    8

    Có học giả cổ Hy Lạp cho rằng con người sinh ra từ
    loài cá. Loài cá ở dưới biển thở bằng mang, bơi bằng vây,
    lên bờ biến đổi mang thành phổi, các vây trở thành bốn
    chân như cá sấu. Rồi trải qua hàng triệu năm, loài người
    bò sát đó bắt đầu đứng thẳng, đuôi dần dần rụng đi, hai
    chân trước trở thành hai tay để hái trái và sử dụng công cụ.

    9

    Còn các nhà khoa học đã nghiên cứu trên nhiều lãnh vực: địa chất,
    khảo cổ, sinh học..., trong đó nổi bật là Charles Darwin với Thuyết
    tiến hóa* đã xác định tổ tiên loài người là từ một loài vượn người
    xuất hiện cách nay từ 3 tới 4 triệu năm. Do những biến đổi trên bề
    mặt trái đất lúc đó: nhiệt độ lạnh dần, rừng cây thu hẹp lại... trong khi
    các động vật khác kể cả loài khỉ họ hàng, có loài bị tiêu diệt, có loài
    bỏ đi nơi khác, thì loài vượn tổ tiên của loài người đã ở lại, rời ngọn
    cây cao xuống đất, tập đi bằng hai chân để hai tay tìm kiếm thức ăn.
    Đó là điều khiến loài vượn này khác với giống khỉ thông thường tuy
    hình dạng bên ngoài còn hoàn toàn giống khỉ**.
    * Xem sơ đồ Thuyết tiến hóa ở cuối sách
    ** Người ta đã phát hiện ra di cốt của con người đầu tiên ở Nam Châu Phi
    năm 1925, được gọi tên là Vượn cổ phương Nam (Australopithecus).

    KHỈ NGUYÊN THỦY   PROPLIOPITHECUS   DRIOPITHECUS
    Trang 10, 11, 12 và 13 được vẽ lại theo hình vẽ của R. Daligherơ
    trong tạp chí “Tin tức UNESCO” tháng 8, 9 năm 1972.
    10

    Tiến hóa thêm một bước, người vượn đã chuyển từ ăn rau quả
    sang biết ăn thịt, thường xuyên đi bằng hai chân và sử dụng công cụ
    đá. Những hòn đá được ghè đẽo thô sơ để chặt, đập các thứ hái lượm
    hoặc săn bắt được ấy chính là những công cụ lao động đầu tiên và
    cũng là những vũ khí đầu tiên do con người chế tạo. Người tiền sử
    thời này còn có tên là Người khéo léo (Homo Habilis).

    RAMAPITHECUS  AUSTRALOPITHECUS    HOMO HOBILIS
    (NGƯỜI KHÉO LÉO)

    11

    Từ hai triệu năm tới mười vạn năm cách nay là Người đứng thẳng
    (Homo Erectus) gần giống con người hiện nay và đặc biệt đã biết
    dùng lửa. Có thể họ đã tìm ra lửa từ những đám cháy rừng rồi tìm
    cách giữ để sưởi ấm, nấu chín thức ăn, xua đuổi thú dữ... Việc tìm ra
    lửa đánh dấu một bước quan trọng trong quá trình tiến hóa từ vượn
    thành người. Không một loài vật nào, kể cả loài khỉ, biết dùng lửa.

    HOMO ERECTUS
    (NGƯỜI ĐỨNG THẲNG)

    12

    HOMO NEANDERTHALENSIS
    (NGƯỜI NEANDERTHAL)

    Cuộc sống ngày càng phát triển, lao động tập thể ngày càng phức
    tạp đòi hỏi người cổ phải có những cử chỉ điệu bộ để giao tiếp với
    nhau. Cho đến khi điệu bộ không diễn tả nỗi suy nghĩ của trí óc thì
    tiếng nói ra đời. Tiếng nói chứng tỏ con người lúc này đã thực sự là
    Người. Các nhà bác họ gọi người cổ đại này là người Neanderthal*.
    Ngoài tiếng nói người Neanderthal còn biết chôn người chết. Sau
    cùng là Người Khôn ngoan hiện đại (Homo Sapiens Sapiens), cách
    nay khoảng ba vạn năm, hoàn toàn giống người hiện nay.

    HOMO SAPIENS
    NGƯỜI KHÔN NGOAN TÂN CỔ

    HOMO SAPIENS SAPIENS
    NGƯỜI KHÔN NGOAN HIỆN ĐẠI

    * Do đào được xương người cổ thời kỳ này ở vùng Neanderthal trong thung
    lũng chi nhánh sông Rhein (Đức).

    13

    Các địa điểm tìm thấy người cổ ở Đông Nam Á
    1.  Các di chỉ ở Hà Tây-Hòa Bình
    2.  Các di chỉ ở Thanh Hóa
    3.  Các di chỉ ở Bắc Sơn
    4.  Mái đá Ngườm
    5.  Thẩm Khương
    6.  Sạp Việt
    7.  Các di chỉ ở Nghệ An-Hà Tĩnh
    8.  Các di chỉ ở Quảng BìnhQuảng Trị-Thừa Thiên Huế
    9.  Tam Hang
    10.  Tam Pông
    11.  Tam Hang Anh
    12.  Tham Prahom
    13.  Khăm Muội
    14.  Laang Spean
    15.  Tham Pra
    16.  Spirit cave
    17.  Hang Banyan Valley
    18.  Chieng Mai
    19.  Sai Yok
    20.  Milong Kroe
    21.  Hang Ongb

    22.  Cap Buri
    23.  Rat Buri
    24.  Các di chỉ ở Bancao
    25.  Krabi
    26.  Padah Lin
    27.  Tin Ain
    28.  Gua Kepah
    29.  Gua Debu
    30.  Gua Kajang
    31.  Gua Kerbau
    32.  Gua Musang
    33.  Goi Ba'it
    34.  Gua Madu
    35.  Gua Cha
    36.  Kata Tangkat
    37.  Tolong
    38.  Gua Kechit
    39.  Bukit Chimamari
    40.  Các di chỉ Medan
    41.  Hang Niah
    42.  Hang Tabon

    Đất nước Việt Nam của chúng ta cũng nằm trong sự tiến hóa
    chung ấy, không những thế, các nhà khoa học cho rằng Việt Nam có
    thể là một trong những vùng lãnh thổ quê hương của loài người. Việt
    Nam nằm giữa Java và Bắc Kinh là hai nơi đã phát hiện được những
    giống người vượn cổ và những di tích văn hóa thuộc Thời đại sơ kỳ
    đồ đá cũ*. Đó là thời đại cổ xưa nhất khi mà loài người vừa bước ra
    từ thế giới động vật. Người ta còn phát hiện di tích văn hóa của thời
    đại này ở các nước láng giềng như Miến Điện (Myanmar), Thái Lan
    và Mã Lai (Malaysia).
    * Xem sơ đồ phân kỳ theo khảo cổ học cuối sách.

    14

    1. Rìu tay tìm thấy ở Núi Đọ (Thanh Hóa)

    Núi Đọ (xã Thiệu Khánh, huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa) là
    địa điểm đầu tiên thuộc thời đại sơ kỳ đồ đá cũ đã được phát hiện ở
    Việt Nam. Núi Đọ cách thị xã Thanh Hóa 9km thuộc xã Thiệu Khánh,
    huyện Thiệu Hóa, tỉnh Thanh Hóa. Đây là một trái núi cổ, lớn, đỉnh
    cao 158m, có độ dốc thoải, đá bazan cổ màu xám - vàng nhạt, nằm
    trên hữu ngạn sông Chu và cách bờ sông bởi một dải đất hẹp. Trên
    sườn núi, cách chân núi 20-30m, có những tảng đá gốc lộ ra.
    15

    4. Hiện vật tìm thấy ở núi Đọ
    (Thanh Hóa)

    2. Công cụ ghè đẽo
    3. Mảnh tước

    Trên sườn núi Đọ, các nhà khảo cổ học đã thu lượm được hàng
    nghìn sản phẩm đá có bàn tay gia công của người cổ hay còn gọi là
    người nguyên thủy. Song, các hiện vật này hình loại còn đơn giản,
    chế tạo còn thô sơ, bao gồm mảnh tước, hạch đá, công cụ chặt thô
    sơ, nạo, rìu tay...
    16

    Một phát hiện quí báu khác là trong các hang Thẩm Khuyên và
    Thẩm Hai ở xã Tân Văn, huyện Bình Gia, tỉnh Lạng Sơn, đã tìm
    thấy những chiếc răng người nằm trong lớp trầm tích màu đỏ, chứa
    xương cốt các loài động vật thuộc trung kỳ thời cách tân*. Răng vừa
    có đặc điểm của răng người, vừa có đặc điểm của răng vượn, trong
    nhiều kích thước gần gũi với răng người vượn Bắc Kinh. Đó là dấu
    vết đầu tiên về người vượn ở Việt Nam, niên đại ước đoán là từ 25
    đến 30 vạn năm.
    * Thời đại địa chất thuốc thời kỳ
    đá cũ cách nay từ 700.000 đến
    300.000 năm.

    NHỮNG ĐỊA ĐIỂM TÌM THẤY DẤU VẾT
    XƯA NHẤT CỦA NGƯỜI
    NGUYÊN THỦY Ở VIỆT NAM

    17

    Trong di chỉ* còn có những răng và xương của quần thể động vật
    đã sống đồng thời với người vượn. Trong đó có những loài vẫn sống
    đến ngày nay như hổ, báo sao, lợn rừng, khỉ, nhím... và những loài
    đã bị tiêu diệt như gấu tre to lớn, voi răng kiếm và vượn khổng lồ.
    * Cách gọi những chỗ mà các nhà khảo cổ phát hiện và đào được dấu vết cư
    trú của người cổ.

    18

    BẢN ĐỒ VIỆT NAM

    CÁC DI TÍCH KHẢO CỔ
    Đá cũ sơ kỳ
    Hang có hóa thạch người
    Văn hóa Sơn Vi
    Văn hóa Hòa Bình
    Văn hóa Bắc Sơn
    Văn hóa Hạ Long
    Văn hóa Bàu Tró
    Văn hóa Hoa Lộc
    Văn hóa Phùng Nguyên
    Văn hòa Đồng Đậu
    Văn hóa Gò Mun
    Văn hóa Đông Sơn
    Văn hóa Sa Huỳnh
    Giai đoạn Bến Đò
    Giai đoạn trước Đông Sơn
    Giai đoạn trước Sa Huỳnh

    THỜI ĐẠI ĐÁ CŨ

    1. Hạch đá (Cẩm Tiên).
    2. Rìu (Đồng Nai).
    3. Công cụ hình rìu (Bình Lộc - Đồng Nai).
    4. Công cụ chặt nạo (Vườn Dũ - Sông Bé).

    Ở miền Nam nước ta, tại Hang Gòn (huyện Long Thành, tỉnh Đồng
    Nai) và Dầu Giây (Đồng Nai) và Vườn Dũ (xã Tân Mỹ, huyện Tân
    Uyên, tỉnh Bình Dương) các nhà khoa học cũng đã tìm thấy một số đồ
    đá đẽo bằng đá bazan như rìu tay, công cụ đá ba mặt, công cụ nhiều
    mặt, mũi nhọn, nạo, nhiều hòn đá ném... Những phát hiện này góp
    phần khẳng định sự có mặt của người cổ thuộc sơ kỳ thời đại đồ đá
    cũ trên vùng đất đỏ miền Đông Nam bộ. Như vậy, trên toàn cõi nước
    ta, từ Bắc vào Nam, vào thời đại đồ đá cũ cách nay hàng vạn năm đã
    có người cổ sinh sống.
    19

    Người cổ trên các địa điểm tìm thấy ở nước ta đã ở vào giai đoạn
    Người vượn đi thẳng, khá phát triển. Người vượn này sống thành
    từng bầy 20-30 người gọi là bầy người nguyên thủy. Các thành viên
    trong bầy đều bình đẳng, họ lao động chung với nhau và chia nhau
    thức ăn tìm được.

    20

    Công việc hàng ngày của người vượn là săn bắt và hái lượm. Việc
    săn bắt thường do đàn ông đảm nhiệm. Họ săn cả những loài thú lớn
    như voi răng kiếm, gấu tre, hổ, báo, vượn khổng lồ... Để săn được
    những thú lớn như thế họ phải đi thành nhóm, phối hợp chặt chẽ vì
    công cụ lúc đó chỉ mới là gỗ, tre và đá đẽo nhọn. Chính vì vậy, công
    việc săn bắn khá chật vật, những thứ săn bắt được thường rất ít ỏi và
    không đủ sống.
    21

    Nguồn thứ ăn có từ việc
    hái lượm các sản vật tự nhiên
    như hoa trái, búp non, rễ, lá,
    sâu bọ, trai ốc... dồi dào hơn.
    Việc này thường do phụ nữ
    đảm nhiệm. Họ hái lượm về
    cho các gia đình trong bầy
    ăn, số còn thừa cất để dành
    cho những ngày thời tiết xấu
    hay những lúc thức ăn khan
    hiếm.

    22

    Cũng vì thế, vai trò người mẹ lúc này là quan trọng. Người mẹ
    sinh con, hái lượm nuôi dưỡng cả gia đình và bầy tộc, nuôi dưỡng
    con cái bảo tồn nòi giống, quán xuyến công việc trong gia đình và
    trong bầy. Dòng họ lúc này được tính theo huyết thống người mẹ nên
    gọi là chế độ mẫu hệ. Còn người đàn ông, do việc săn bắt theo đuổi
    con mồi trong thời gian dài cuốn hút khiến họ ít chú ý đến công việc
    khác trong bầy.
    23

    Trải qua nhiều bước tiến hóa gian nan và lâu dài, Người vượn đứng
    thẳng mới trở thành Người khôn ngoan hay Người hiện đại (Homo
    Sapiens) như ngày nay. Ở hang Thẩm Ồm (xã Châu Thuận, huyện Quỳ
    Châu, tỉnh Nghệ An) đã tìm thấy răng vừa mang đặc điểm của người
    vượn cổ vừa có đặc điểm của người hiện đại. Còn ở hang Hùm (xã
    Tân Lập, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái) lại tìm được răng người có
    nhiều đặc điểm hiện tại. Ở hang Kéo Lèng (xã Tô Hiệu, huyện Bình
    Gia, tỉnh Lạng Sơn), hang Thung Lang (phường Nam Sơn, thị xã Tam
    Điệp, tỉnh Ninh Bình) cũng phát hiện răng và xương của người hiện
    đại có niên đại từ 30 đến 29 ngàn năm. Vậy người hiện đại xuất hiện
    rất sớm ở Việt Nam, có thể có niên đại từ 5 đến 4 vạn năm về trước.

    Hang Hùm - nơi tìm được di tích thuộc
    thời đại đồ đá cũ cách nay khoảng
    200.000 năm

    24

    Răng người vượn ở hang Hùm

    Thời đại hậu kỳ đá cũ ở Việt Nam các nhà khảo cổ gọi là văn hóa
    Sơn Vi*. Các bộ lạc chủ nhân văn hóa Sơn Vi đã cư trú trên địa bàn
    rất rộng ở miền Bắc nước ta. Dấu vết của văn hóa Sơn Vi đã tìm thấy
    từ Lào Cai, Yên Bái ở phía bắc đến Nghệ An, Hà Tĩnh ở phía nam,
    từ Sơn La ở phía tây đến vùng sông Lục Nam ở phía đông. Thời này
    mật độ dân cư đã nhiều hơn trước, có những bộ lạc sống ở ngoài
    trời Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Bắc Ninh, Bắc Giang cũng như trong các
    hang động núi đá vôi (Sơn La, Lai Châu). Họ dùng đá cuội để chế
    tác công cụ. Công cụ tiêu biểu của Sơn Vi là những hòn cuội được
    ghè đẽo ở rìa cạnh.
    * Các nhà khoa học thường lấy tên địa điểm phát

    hiện di tích đầu tiên tiêu biểu cho văn hóa khảo cổ
    thời kỳ nào đó để đặt tên cho nền văn hóa đó. Ví
    dụ: Văn hóa Sơn Vi thuộc thời địa hậu kỳ đá cũ ở
    Việt Nam, phát hiện đầu tiên vào năm 1958 ở xã
    Sơn Vi huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Những giai
    đoạn sau là văn hóa Hòa Bình, văn hóa Bắc Sơn,
    văn hóa Quỳnh Văn...

    25

    Cư dân văn hóa Sơn Vi sinh sống cách nay hơn một vạn năm. Họ
    vẫn là những bộ lạc săn bắt và hái lượm. Trong các hang của họ có
    xương răng của các loài trâu bò rừng, lợn rừng, hoẵng, nhím, dúi,
    khỉ... là dấu vết hoạt động săn bắt của họ. Ngoài ra người ta còn tìm
    thấy có xương cá và mai rùa. Họ còn có tục chôn người chết ngay
    tại nơi cư trú.

    Công cụ đá thuộc văn hóa Sơn Vi

    26

    Chày và bàn nghiền
    thuộc văn hóa
    Hòa Bình

    Tiếp theo cư dân văn hóa Sơn Vi và phát triển lên một bước là cư
    dân văn hóa Hòa Bình. Các bộ lạc Hòa Bình phân bố rộng rãi ở vùng
    núi Tây Bắc, trong các tỉnh Sơn La, Lai Châu; ở vùng núi đá vôi thành
    phố Hà Nội (phần đất Hà Tây cũ), Hòa Bình, Hà Nam, Nam Định,
    Ninh Bình, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Vình, Quảng Trị,
    Thừa Thiên Huế. Người Hòa Bình cũng thường sống trong hang động
    và mái đá. Công cụ tiêu biểu của văn hóa Hòa Bình là rìu ngắn, chày
    nghiền... làm bằng đá cuội, ghè đẽo một mặt, một mặt giữ nguyên
    hình đĩa, hình bầu dục hay hình hạnh nhân.
    27

    Cư dân văn hóa Hòa Bình đã biết làm nông nghiệp do việc họ bắt
    đầu định cư lâu dài thay vì du canh du cư như trước đây. Như vậy,
    trên cơ sở kinh tế hái lượm phát triển, người Hòa Bình đã thực hiện
    một bước nhảy vọt là biết đến nông nghiệp trồng rau củ, tiền thân
    của nông nghiệp trồng lúa.
    Bằng phương pháp phân
    tích bào tử phấn hoa, các
    nhà khoa học đã tìm hoa
    họ rau đậu trong một số
    hang Hòa Bình.

    HIỆN VẬT THUỘC VĂN
    HÓA HÒA BÌNH
    1. Rìu ghè cạnh
    2. Rìu mài lưỡi

    28

    Người Hòa Bình bước đầu đã có những hoạt động nghệ thuật sơ
    khai, đơn giản. Họ biết khắc hình thú vật, mặt người, cây lá lên vách
    đá nơi cư trú, trên xương hay trên những viên đá cuội. Họ còn dùng
    thổ hoàng để vẽ hay bôi trên thân mình. Người ta cũng tìm thấy đồ
    trang sức, thường là vỏ ốc biển được mài thủng lưng, xâu dây đeo
    như các vòng đeo cổ, tay, chân của con người ngày nay.

    1. Vỏ trai ốc
    2. Hòn thổ hoàng

    Hình mặt thú khắc trên vách đá
    hang Đồng Nội (khoảng 10.000
    năm trước Công nguyên).

    29

    Thời ấy, người Hòa Bình đã có tín ngưỡng. Mỗi một thị tộc đều thờ
    một vật tổ riêng mà họ xem là rất thiêng liêng, là cội nguồn xuất phát
    của thị tộc, có quyền lực tối hậu tạo họa phước an nguy cho cả thị tộc
    mà họ phải thờ phụng dâng lễ thường xuyên. Nơi cúng vật tổ thường
    ở sâu trong các đáy hang. Vật tổ có thể là loài động vật ăn cỏ như
    hươu nai... có thể là loài chim lạ, cây quý hay những tảng đá dị hình.
    Hang Đồng Nội (xã Đồng
    Tâm, huyện Lạc Thủy, tỉnh
    Hòa Bình) nơi có nhiều
    di tích thuộc thời
    đại đồ đá mới.

    30

    Sau người cổ Hòa Bình và phát triển với trình độ cao hơn, trên đất
    nước ta đã có nhiều bộ lạc cư trú trong nhiều vùng tự nhiên khác nhau.
    Ở miền núi có người cổ Bắc Sơn, được phát hiện đầu tiên ở các tỉnh
    Lạng Sơn, Bắc Cạn, Thái Nguyên. Người cổ sống cách đây từ một
    vạn đến khoảng 8 nghìn năm, vào giai đoạn đầu của thời đại đá mới.
    Tuy công cụ của họ vẫn là đá cuội nhưng tiến bộ
    hơn người cổ Hòa Bình vì họ đã biết mài đá. Người
    Bắc Sơn lấy một hòn cuội ghè đẽo chung quanh rồi
    sau đó một đầu thành lưỡi sắc bén. Kỹ thuật mài đá
    đánh dấu một bước tiến quan trọng trong cuộc sống
    lao động của người Việt cổ. Rìu mài của Văn hóa Bắc
    Sơn có ý nghĩa rất lớn trong việc săn bắt cũng như
    chặt cây phá rừng, phát triển nghề nông lên một bước.

    31

    Một thành tựu quan trọng nữa là người cổ Bắc Sơn lần đầu tiên
    đã biết làm gốm. Đồ gốm Bắc Sơn thường có miệng loe và đáy tròn.
    Độ nung của đồ gốm chưa cao. Người cổ Bắc Sơn đã biết nhào đất
    sét lẫn cát để nung nên đồ gốm, không rạn nứt nhưng còn rất thô. Họ
    Bắc Sơn tuy đã biết làm đồ gốm nhưng có lẽ chưa dùng nhiều. Họ
    vẫn dùng ống tre, vỏ bầu để đựng nước và nấu ăn.

    HIỆN VẬT THUỘC VĂN HÓA BẮC SƠN
    1. Bàn mài
    4. Đá có vết lõm đôi
    2. Rìu mài lưỡi
    5. Mảnh gốm
    3. Chày nghiền
    6. Vỏ sò

    32

    Trang sức của cư dân văn hóa Bắc Sơn phong phú và đa dạng hơn
    của cư dân văn hóa Hòa Bình. Ngoài những vỏ ốc biển xuyên lỗ giữa
    để đeo, họ còn làm đồ trang sức bằng đá phiến có lỗ đeo và những hạt
    chuỗi bằng đất nung hình trụ hay hình thoi, giữa có xuyên lỗ. Đồ trang
    sức có ý nghĩa quan trọng các buổi lễ tế thần, tế trời đất của người cổ.

    33

    Cư dân văn hóa Bắc Sơn sống thành từng nhóm gồm những người
    có quan hệ huyết thống tức là anh em bà con với nhau. Đó là những thị
    tộc, bộ lạc mẫu hệ. Lúc này vai trò người phụ nữ vẫn quan trọng. Con
    cái sinh ra chỉ biết có
    mẹ. Đứng đầu những
    thị tộc, bộ lạc là những
    phụ nữ lớn tuổi, khỏe
    mạnh, có nhiều kinh
    nghiệm.

    Hang Đồng Ky - nơi có nhiều di tích
    thời đại đồ đá mới.

    34

    Hình khắc trong hang Đồng Ky.
    Khoảng 5.000 - 8.000 năm trước
    Công nguyên.

    Người ta cho rằng vào thời kỳ này
    cư dân văn hóa Bắc Sơn đã biết đến
    số đếm. Trong một số hang động Bắc
    Sơn, trên những phiến đá nhỏ, người
    cổ đã khắc lên những đường rẽ quạt,
    đường tròn hay vuông, hình chữ nhật
    gần nhau. Trên những vật bằng đất
    sét hay bằng đá phiến đã có những
    đoạn thẳng song song làm thành từng
    nhóm.

    35

    Trong thời gian này, bên cạnh văn hóa Bắc Sơn ở vùng đồi núi,
    còn có văn hóa Quỳnh Văn phân bố ở vùng ven biển, mà người ta
    đã tìm thấy dấu tích trên các đồi vỏ điệp ở Quỳnh Văn thuộc huyện
    Quỳnh Lưu, Nghệ An. Với họ điệp, sò, ốc, ngao, hàu là những nguồn
    thức ăn quan trọng. Khác hẳn với cư dân văn hóa Bắc Sơn, rìu đá
    của họ không làm bằng cuội và không có vết mài. Họ dùng đá thạch
    anh, đá gốc, ghè đẽo trên cả hai mặt, rìu có đốc dày, lưỡi và hai rìa
    cạnh được ghè mỏng.

    36

    Cư dân văn hóa Quỳnh Văn còn biết mài xương thú thành các mũi
    dùi, những chiếc đục. Họ còn làm các loại nồi gốm đáy nhọn, trong và
    ngoài đều có vết chải, được nặn bằng tay. Đặc biệt, người cổ Quỳnh
    Văn đã biết nấu chín thức ăn. Trong các nơi cư trú của họ, người ta
    tìm thấy bếp với những đám tro than và các hòn đá ám khói. Trong
    tro than, thường lẫn lộn xương thú, xương cá và càng cua.

    37

    Dấu tích mộ cổ ở di tích cồn Sò Điệp
    (Đa Bút - Thanh Hóa).
    Khoảng 2000 - 3000 năm trước Công
    nguyên.

    Tục chôn người chết của người Quỳnh Văn khá đặc biệt. Người
    ta đào những huyệt mộ tròn thẳng từ trên xuống dưới, xuyên qua
    các lớp vỏ điệp. Người chết được chôn vào mộ với tư thế ngồi xổm,
    hai chân co lại, hai tay duỗi hai bên, đầu tựa vào thành huyệt. Có lẽ
    người chết đã được cột lại trước khi chôn và thường chôn ở ngay nơi
    cư trú. Trong các mộ còn có chôn theo đồ trang sức và công cụ lao
    động. Tục chôn này thể hiện quan niệm gắn bó với người chết, vừa
    sợ người chết về hại đến gia đình, bộ lạc.
    38

    Bên cạnh hoạt động kinh tế chủ yếu là bắt điệp, sò, ốc ở bờ biển
    và vùng nước lợ, người cổ Quỳnh Văn còn sinh sống bằng nghề
    đánh cá biển. Trong các đồi vỏ sò điệp, người ta còn tìm thấy các
    đốt xương sống và vây của các loài cá biển khá lớn. Muốn đánh
    được loài cá biển như vậy, người cổ Quỳnh Văn phải có thuyền
    ra biển. Như vậy, có thể nói, bên cạnh việc hái lượm săn bắt,
    nghề đánh cá biển đã phát triển trong các cư dân cổ ở vùng
    biển Quỳnh Văn.

    39

    Cuối Thời đại đá mới, cách nay khoảng 6-5 năm phần lớn cư dân
    cổ trên đất nước ta đều đã bước đến giai đoạn nông nghiệp trồng lúa.
    Đây là một cuộc cách mạng thật sự, làm thay đổi lớn lao đời sống
    của các cư dân nguyên thủy. Họ đã định cư lâu dài, đã biết tổ chức
    sản xuất tuy còn rất sơ khai, từng bước học hỏi kinh nghiệm để chế
    ngự thiên nhiên, chủ động thực phẩm cho cộng đồng.

    40

    HIỆN VẬT THUỘC VĂN HÓA HẠ LONG
    (Quảng Ninh)
    1. Rìu mui rùa
    2. Rìu có vai và vai xuôi
    3. Bôn
    4. Cuốc

    Ở vùng biển Quảng Ninh - Hải Phòng và trên một số đảo trong
    vịnh Hạ Long còn phát hiện được những di tích về cư dân cổ Hạ Long.
    Công cụ đá của người Hạ Long là rìu, bôn và đục. Bôn gần giống rìu
    nhưng lưỡi được mài vát một bên và có cán lắp như kiểu cán cuốc.
    Loại công cụ đá tiêu biểu cho văn hóa Hạ Long là loại bôn có vai
    có nấc với phần chuôi thu nhỏ có thể cắm hay buộc vào cán để lao
    động. Người Hạ Long để biết kết hợp các kỹ thuật mài, cưa và khoan
    đá một cách khéo léo để chế tác các công cụ và đồ trang sức rất đẹp.
    41

    Một tiến bộ nữa là cư dân văn hóa Hạ Long đã biết làm đồ gốm
    bằng bàn xoay. Đồ gốm có nhiều loại hơn phục vụ cho cuộc sống hàng
    ngày như: nồi, niêu, vò, hũ, bát, ấm... Đồ gốm có nhiều hình dạng,
    có loại miệng hơi loe, có loại miệng loe ngang rồi gãy góc, có loại
    miệng loe ra rồi có gờ gấp vào trong, có loại miệng hình nhiều cạnh,
    có chân đế. Hoa văn thì có hoa văn dấu thừng (buộc dây thừng vào bàn
    dập rồi dập lên khi còn ướt), đường song song cắt nhau bằng ô vuông
    hay ô trám, hình tam giác hay đắp đất hình chữ S quanh gờ miệng.

    42

    Vào cuối Thời đại đá mới, qua các nghiên cứu phát hiện ở Bắc bộ,
    Tây Nguyên và Đông Nam bộ cho biết trên khắp đất nước ta, đã tụ
    cư nhiều bộ lạc trồng lúa. Thời đó xóm làng đã đông đúc, dân số đã
    có sự tăng vọt hơn các thời trước. Sự phân công lao động đã bắt đầu
    xuất hiện để thỏa mãn nhu cầu của bộ lạc và trao đổi với bên ngoài.

    43

    Bước sang Sơ kỳ thời đại đồ đồng, cư dân cổ ở nước ta, trong khi
    vẫn đưa kỹ thuật chế tác đá lên đỉnh cao đã thay thế một số công cụ
    đá bằng một nguyên liệu mới: đó là đồng. Sự xuất hiện của đồng đã
    dần dần làm thay đổi mạnh mẽ đời sống xã hội nguyên thủy. Thời đại
    đồ đồng ở nước ta được biết qua di chỉ văn hóa Phùng Nguyên (xã
    Kinh Kệ, huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ). Các bộ lạc Phùng Nguyên
    đã tập trung thành những khu dân cư đông đúc phân bố cả vùng trung
    du và một phần đồng bằng Bắc bộ, nhiều nhất là vùng hợp lưu các
    con sông Hồng, sông Đà, sông La...

    DI CHỈ THUỘC VĂN HÓA PHÙNG NGUYÊN
    DI CHỈ PHONG PHÚ RÌU CÓ VAI
    DI CHỈ THUỘC VĂN HÓA GÒ MUN

    44

    HIỆN VẬT TÌM THẤY Ở
    PHÙNG NGUYÊN
    1. Bàn mài
    2. Rìu tứ giác
    3. Rìu có vai
    4. Mảnh vòng và lõi vòng
    5. Màn rỉ đồng

    Các bộ lạc Phùng Nguyên, cách nay hơn bốn ngàn năm, đã đưa
    kỹ thuật làm đồ đá lên đến một trình độ cao. Hiện vật đã rất phong
    phú về loại hình cũng như về số lượng. Công cụ, vũ khí, có đủ các
    loại: rìu, bôn, đục, dao, lao, mũi tên, mũi nhọn, mũi khoan, chỉ lưới,
    bàn mài, bàn đập gốm, qua... Trong một số nơi cư trú người ta còn
    thấy tồn tại những “Công xưởng chế tác đá” chuyên sản xuất công
    cụ và đồ trang sức.
    45

    Thời này, cảm quan về cái đẹp của người cổ đã phát triển thể hiện
    qua đồ trang sức, đồ gốm và ngay cả trên các công cụ đá. Những vòng
    trang sức, những hạt chuỗi bằng đá nephrit màu xanh như màu men
    ngọc hay trắng như ngà được khoan tiện tinh vi, xinh xắn. Đặc biệt,
    còn có những tượng gà, tượng bò tuy đơn sơ, ước lệ nhưng chứng tỏ sự
    quan sát tinh tế thế giới bên ngoài và khả năng thể hiện của người cổ.

    Rìu, đục, vòng trang sức, lõi vòng
    bằng đá cách nay khoảng 4000
    năm tìm thấy ở Phùng Nguyên.

    46

    Các bộ lạc Phùng Nguyên
    là các cư dân nông nghiệp
    trồng lúa. Người ta tìm thấy
    gạo cháy, phấn hoa của các
    loài lúa nước Oryza trong các
    di chỉ cư trú của người thời
    này. Một điểm quan trọng là
    người Phùng Nguyên biết đến
    việc chăn nuôi, ít ra là họ đã
    nuôi chó, lợn, trâu, bò, gà.
    Do nông nghiệp và chăn nuôi
    phát triển, nghề săn bắt vẫn
    còn tồn tại nhưng không còn
    chiếm vị trí chủ đạo.

    Tượng thú tìm thấy ở Phùng Nguyên

    47

    Các nghề thủ công như đan lát, se chỉ, dệt vải đều đã phát triển.
    Cư dân Phùng Nguyên đã biết đan lóng đôi và lóng thúng rất đẹp, rất
    giống ngày nay. Họ đã se được các loại thừng to và chỉ nhỏ, nhiều
    đọi se chỉ đã được phát hiện trong các di chỉ văn hóa của thời này.

    48
     
    Gửi ý kiến

    THƯ VIỆN TIỂU HỌC MAI CHÂU MỞ RA CÁNH CỬA DIỆU KỲ

    Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    DANH NGÔN VỀ SÁCH

    Một cuốn sách hay trên giá sách là một người bạn, dù quay lưng lại nhưng vẫn là bạn tốt”. Vậy tại sao chúng ta lại quay lưng với người bạn tốt?Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    SỰ TÍCH CÂY NÊU NGÀY TẾT

    GTS THÁNG 3 LÒNG HIẾU THẢO

    XIN ĐỪNG LÀM MẸ KHÓC


    TẬP SAN MỪNG ĐẢNG MỪNG XUÂN

    Một thư viện tốt là trái tim của nhà trường – nơi nuôi dưỡng trí tuệ và tâm hồn học sinh

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC MAI CHÂU TỈNH PHÚ THỌ !

    “Sách mang trong mình sứ mệnh đưa độc giả đi du lịch khắp muôn nơi mà không cần di chuyển một bước.” – Jumpa Lahiri