NHỮNG NGÀY TẾT TA


TẠP CHÍ THƯ VIỆN 2025-2026

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Sách mang trong mình sứ mệnh đưa độc giả đi du lịch khắp muôn nơi mà không cần di chuyển một bước.” – Jumpa Lahiri

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Bài hát Trang sách em yêu


    Bản tin thư viện

    < Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z7427905612002_9e0abcb2025d715b725d8f6419a1ecd0.jpg Z7427905615184_0aa70673ae8b39fc6b6f34b4c6ad4ef2.jpg Z7427905618184_32a701ebb60894d690d1568237b71a8d.jpg Z7427905623656_562b514c3bf2d92c3dc62bb3d3a231d5.jpg Z7427905605040_aef60c178a60f4022647eea9cc82a784.jpg Z7427905628062_25ef73b0d8c648eece3dc4b78982c882.jpg Z7427905631997_6c37185ce800dfd8291687bf71c2014b.jpg Z7410066772617_3822b51cdee110fc57ef821483e9d307.jpg Z7410066784938_3a9a4c4e5d658cd5d6632f075b8e097d.jpg Z7410066786596_80da2adf01d0df168233f538b1db22fc.jpg Z7382833702596_f28f648a58a9101031fc2523c48f33b6.jpg Z7382833680559_4b81b1682a7ac8d5e9e78e2100e0749a.jpg Z7382833706264_8134c1277aedde9be8354c9d2977df47.jpg Z7382833696286_466a8c2ab213e7c884e972d88e8500a1.jpg Z7382833694322_b3088e121328fb39e6a916b2a6a17633.jpg Z7382833685175_03676035d85901dc7adada9d5d00535b.jpg Z7382833684944_fab3f2d879501d815ada350d3bb0a4b9.jpg Z7360692252431_d94ead2e74dd9d1a3d93c87445228dc5.jpg Z7360692292424_9b95d5328dd0008eb5f3986df5ca7239.jpg

    Một thư viện tốt là trái tim của nhà trường – nơi nuôi dưỡng trí tuệ và tâm hồn học sinh

    THƯ VIỆN TIỂU HỌC MAI CHÂU MỞ RA CÁNH CỬA DIỆU KỲ

    Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    KỂ CHUYỆN TẾT NGUYÊN ĐÁN


    Truyện cổ nước Nam

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    (Tài liệu chưa được thẩm định)
    Nguồn:
    Người gửi: Kiều Thị Thanh
    Ngày gửi: 17h:34' 15-11-2025
    Dung lượng: 1.9 MB
    Số lượt tải: 4
    Số lượt thích: 0 người
    Tên sách : TRUYỆN CỔ NƯỚC NAM (Q2)
    MUÔNG CHIM
    Tác giả : ÔN NHƯ NGUYỄN VĂN NGỌC
    Nhà xuất bản : THĂNG LONG
    Năm xuất bản : 1934
    -----------------------Nguồn sách : tusachtiengviet.com
    Đánh máy : bongmoloko, thuantran46, ThaiThaiCJ, Thuong Nguyen,
    little_lion, kd1995, huong.nguyenthu, Khongtennao, laithuylinh, bhp
    Kiểm tra chính tả : Phạm Bách, Trần Trung Hiếu,
    Nguyễn Thị Linh Chi, Trần Khang
    Biên tập chữ Hán – Nôm : Đỗ Văn Huy
    Biên tập ebook : Thư Võ
    Ngày hoàn thành : 30/12/2018

    Ebook này được thực hiện theo dự án phi lợi nhuận « SỐ HÓA 1000
    QUYỂN SÁCH VIỆT MỘT THỜI VANG BÓNG » của diễn đàn
    TVE-4U.ORG
    Cảm ơn tác giả ÔN NHƯ NGUYỄN VĂN NGỌC và nhà xuất bản
    THĂNG LONG đã chia sẻ với bạn đọc những kiến thức quý giá.

    MỤC LỤC
    MÀO ĐẦU
    1) CON LƯƠN VÀ CON CÁ RÔ
    2) CON CÔNG VÀ CON QUẠ
    3) CON GIUN KHÔN NGOAN
    4) VOI NGỰA ĐUA NHAU
    5) CON GIÁN VÀ CON NHỆN
    6) CON CÓC LÀ CẬU ÔNG TRỜI
    7) CON GÀ, CON LỢN VÀ CON CHÓ
    8) CON CHÈO BẺO
    9) CON TÔM VÀNG
    10) TẠI SAO DƠI ĂN MUỖI
    11) CON THỎ VÀ CON CHÓ
    12) LỪA THI TÀI VỚI NGỰA
    13) TU HÚ GỌI CÔ
    14) CHÀO MÀO ĂN TRỘM ĐÀO
    15) CHÀO MÀO VÀ CÚ
    16) CON CHANH-CHANH VÀ CON CHẢ-CHẢ
    17) KHƯỚU DẠY HỌC
    18) RÙA-RÙA DẠY KHÔN
    19) CHÓ RỪNG VÀ CỌP
    20) PHÙ DU VÀ ĐOM ĐÓM
    21) HÉT ĂN GIUN
    22) KIẾN, ONG CHỌI VỚI CÓC

    23) DÊ ĐI KIẾM ĂN VỚI CỌP
    24) DIỀU VỚI GÀ
    25) CẠC CẠC KẸC KẸC
    26) LÝ TRƯỞNG DIỀU HÂU
    27) CON DƠI
    28) TRÂU NHÀ VÀ TRÂU RỪNG
    29) CON VOI VỚI CON TRÂU
    30) CHUỘT VÀ MÈO
    31) THẰN LẰN MỒNG NĂM
    32) THẰN LẰN TRỘM CHÂN
    33) CÔNG VÀ GÀ
    34) CON CÔNG VÀ LÀNG CHIM
    35) CÓC THI TÀI VỚI VOI
    36) THUỒNG LUỒNG TỊ VỚI RÙA
    37) RÙA CHƠI VỚI HẠC
    38) VÀNG ANH
    39) CUỐC KÊU TRĂNG
    40) LÀM KIẾP CON GÌ
    41) ĐEO NHẠC CHO MÈO
    42) CỌP KHÔNG SỢ DÊ
    43) CỌP CŨNG KHÔNG SỢ NGỰA
    44) TÌNH VỢ CHỒNG NGHĨA ANH EM
    45) QUẠ BẮC CẦU
    46) SÁO VÀ CÒ
    47) CON CHÓ VÀNG VÀ CON CHÓ ĐEN

    48) MỌT VÀ TÒ VÒ
    49) CHÈO BẺO VÀ ÁC LÀ
    50) TRÂU CÀY TRÂU CỘT
    51) TRÂU BÉO, TRÂU GẦY
    52) TẠI SAO CON TRÂU KHÔNG BIẾT NÓI
    53) GÀ, VỊT VÀ CHIM KHÁCH
    54) THẰN LẰN VỚI RẾT
    55) QUẠ ẤU HỌC
    56) TU HÚ VÀ CHIỀN CHIỆN
    57) TU HÚ VÀ QUẠ
    58) CON BỒ CÂU VÀ CON SÁO
    59) CHÂU CHẤU KIỆN VOI
    60) CÁ RÔ ĐI THI
    61) LÀNG CHIM KÊU LÝ TRƯỞNG
    62) LÝ TRƯỞNG KHƯỚU
    63) RÙA ĐỘI BIA
    64) CON RẮN VÀ NGƯỜI NUÔI RẮN
    65) LONG VƯƠNG VÀ CON ẾCH
    66) CON CÒ TRẮNG
    67) CHÓ BA CẲNG
    68) CỐC VÀ CÁ
    69) ĐA ĐA VÀ CÒ
    70) CÁ VỚI NGAO
    71) CHIỀN CHIỆN VÀ CHOI CHOI
    72) CHIM SẺ VÀ CHIM XANH

    73) CHÀO MÀO MUỐN LẤY CHIM XANH
    74) CHÓ PHẢI ĐÒN OAN
    75) QUẠ ĂN TRỘM NGÔ
    76) GÀ ÔNG ĐỒ VÀ GÀ ÔNG NGHÈ
    77) HAI VỢ CHỒNG CON CHIỀN CHIỆN VÀ ÔNG SƯ
    78) CÁ CHÉP HÓA RỒNG
    79) CON RẮN VỚI CON HỔ
    80) TẶC KÈ VÀ NÒNG NỌC
    81) CON NHỆN BÁO TIN
    82) CON NHỆN VÀ CON RUỒI
    83) RUỒI, NHẶNG VỚI NHỆN
    84) VOI, CỌP THI TÀI
    85) CHẪU CHÀNG CÓ CHÍ HỌC HÀNH
    86) GÀ RỪNG
    87) CHÂU CHẤU VỚI CÀO CÀO
    88) CHÂU CHẤU ĐÁ VOI
    89) CHÍCH CHÒE VÀ VÀNG ANH
    90) CON THỎ, CON CHÓ VÀ CON MÈO
    91) CON RUỒI VÀ CON RỆP
    92) CON CUA VÀ CON CÁY
    93) TU HÚ VÀ CHIM SẺ
    94) MÈO MẮC LỪA CHUỘT
    95) DIỀU VỚI CẮT VÀ QUẠ
    96) DIỀU, QUẠ TRANH NHAU
    97) KIẾN VỚI CÁ

    98) ONG VẼ
    99) CON LỢN ĂN NO LẠI NẰM
    100) CHẼO CỜ VÀ VẸT
    101) MUỖI, CHẤY VÀ ĐOM ĐÓM
    102) TRANH BAY TRƯỚC, SAU
    103) CON LE VÀ CON VỊT
    104) CON CỐC VÀ CON ÉN
    105) CON CHÓ CÓ NGHĨA
    106) CON TRÂU GHEN VỚI CON CHÓ
    107) ĐỆ NHẤT CÔNG THẦN
    108) VỊT ĐI XIN CHÂN
    109) CON CUỐC VÀ CON QUẠ
    110) GÀ MÁI GÁY
    111) GÀ MÁI VỚI GÀ CON
    112) CON CHÓ VÀ MẶT TRĂNG
    113) CÒ VÀ BỒ CÂU
    114) TRỜI CHIA CỦA
    115) CHIM CHÌA VÔI
    116) ỐC LO CHO ỐC
    117) CON MÈO
    118) KIẾN MỌC CÁNH
    119) CÓC ĐI THI
    120) CÓC BÔI VÔI
    121) CON CÓC VÀ CON CHUỘT
    122) SÁO MỎ VÀNG

    123) KY CÓP CHO CỌP NÓ ĂN
    124) TẠI SAO CỌP ĂN THỊT NGƯỜI
    125) TÔM CÁ KẾT BẠN
    126) TRÊ CÓC
    127) CỌP, HƯƠU, NHÍM VÀ SƯ TỬ
    128) CHUỘT BẠCH VÀ HAI VỢ CHỒNG CHUỘT CHÙ

    ÔN NHƯ
    NGUYỄN VĂN NGỌC

    TRUYỆN CỔ NƯỚC NAM
    In lần thứ II
    Chương trình Việt văn 1957 của B. Q. G. G. D.
    LỚP ĐỆ THẤT – ĐỆ LỤC
    TẬP II : MUÔNG CHIM
    THĂNG LONG

    MÀO ĐẦU
    Quyển này là quyển thứ hai trong bộ « Truyện cổ nước nam » mà
    chúng tôi cho xuất bản. Trong quyển này, sưu tập riêng những truyện về
    các giống « Muông chim ».
    Kể theo phương diện ý tưởng và văn thể, thì những truyện viết đây
    thay đổi nhiều lối, đại để như sau này :
    a) Những truyện do ở các câu ngạn ngữ, phong dao xuất sản ra, hay
    trái lại, những truyện mà sự thúc-kết đã đúc thành câu ngạn ngữ, phongdao.
    b) Những truyện có thể coi như có tính-cách giải nghĩa về khoa học,
    nhưng khoa học cổ-lỗ bất ngoại-hồ một câu hỏi « Tại sao ? ».
    c) Những truyện hoang đường thuộc về thuyết « Luân hồi », người
    hóa ra vật, vật hóa người.
    d) Những truyện xưa nay tập-tục nghiệm ra cho rằng thế và thuộc
    về tôn giáo hay sự mê tín.
    e) Những truyện tương đối với cái lối gọi là ngụ ngôn của Âu-tây,
    lấy câu kết luận làm câu luân lý để dạy người…
    Mỗi lối này đáng lẽ có thể chép rời ra từng mục một. Hoặc còn có
    thể thu cả những truyện chuyên về một giống vật nào cho đi liên tiếp với
    nhau để làm một cái sử riêng cho giống vật ấy.
    Việc đó, và cả việc nghiên-cứu, phê-bình quyển truyện hay từng
    truyện một, xin để sau này, khi chúng tôi soạn được trọn bộ và có đủ thời
    giờ, thì chúng tôi sẽ lưu tâm đến.
    Hiện nay, chúng tôi chỉ mới có cái công góp nhặt, và càng nhặt
    được nhiều bao nhiêu, chúng tôi càng lấy làm hay bấy nhiêu. Cho nên
    không đợi lựa chọn gì, trong sách chúng tôi cho tập họp cả các truyện
    lại và sắp đặt gián đoạn mỗi lối một ít, khiến cho người đọc có thể đọc
    luôn hết truyện này đến truyện khác mà không đến nỗi chán nản.

    Chúng tôi dám mong rằng khi xem quyển truyện, độc giả hoặc thấy
    chỗ nào có điều sai lầm hay bỏ sót, chỉ giáo cho chúng tôi sửa chữa lại
    hay bổ cứu vào, thì chúng tôi được lấy làm hân hạnh lắm.
    Hà-nội, ngày 22 tháng 5
    Năm Giáp-Tuất (3-7-1934)
    Ô. Nh. – NG.V.NG.

    1) CON LƯƠN VÀ CON CÁ RÔ
    Xưa con lươn và con cá rô là một đôi bạn thân, thường năng đi lại
    với nhau. Một hôm, rô đi kiếm ăn, qua chỗ lươn ở, thấy lươn đương nằm
    chơi trong lờ.
    Rô hỏi rằng : « Bác thư thả nằm chơi đấy ư ? »
    Lươn nói : « Tôi mới dựng được cái nhà nghỉ mát. Mời bác hãy ghé
    vào chơi ».
    Rô sợ không vào. Lươn rằng :
    - Nhà tôi gió mát, trăng trong,
    1

    Thềm cao, sân rộng, sổ song bốn bề.
    Xin bác đừng chê !
    Cá rô vẫn rụt rè đứng ở ngoài trông vào. Lươn lại rằng :
    - Nhà tôi cao rộng bốn bề,
    Bác vào nhà nghỉ không hề can chi.
    Xin chớ ngại gì !
    Rô bấy giờ bùi tai, chui vào trong lờ. Một chốc lươn vươn mình
    chui ra, rủ rô cũng mau mau ra để cùng ngao du sông bể. Nhưng rô đã
    mắc lờ, không làm thế nào mà ra được nữa. Lươn bảo rằng :
    - Mình em như cá vào lờ,
    Khi vào thì dễ, bây giờ khó ra.
    Xin cố chui qua.
    Nghe thấy lươn hát, rô nằm trong lờ, rô khóc mãi thế nào đến hai
    mắt đỏ ngầu lên. Lươn thấy rô khóc, lươn bật phì cười. Rô càng khóc
    bao nhiêu, thì lươn càng cười bấy nhiêu, cười mãi thế nào đến hai mắt
    híp lại. Bởi thế mà từ đấy mắt rô lúc nào cũng đỏ ngầu mà mắt lươn bao
    giờ cũng ti hí.

    2

    2) CON CÔNG VÀ CON QUẠ
    Xưa con công với con quạ, hai con làm bạn với nhau thân lắm, vì
    hai con cùng xấu cả. Một hôm hai con ngồi nói chuyện với nhau.
    Quạ bảo công rằng  : «  Ta thử xem các giống chim trên rừng, trên
    núi, giống nào cũng đẹp. Này như : con phượng hoàng, cái mình nó quý
    giá biết bao, đến nỗi người ta thường khen : « Một cái lông con phượng
    hoàng bằng cả một làng chim chích  ». Lại như con hạc, cái hình, cái
    dạng, cái chân, cái tóc nó thanh tao biết thế nào, để cho người ta phải
    nói : « Hạc đứng chầu Vua ; Nghìn năm tóc bạc, tuổi rùa cũng xinh ».
    Còn như anh em ta đây ! than ôi ! thân hình thật không còn giống nào
    xấu bằng nữa ! »
    Công nói : « Phận xấu đành vậy, chớ biết làm sao bây giờ ? »
    Quạ nghĩ một lúc rồi bàn rằng  : «  Xấu mà làm ra đẹp, cũng được
    chớ gì ! Bây giờ hai đứa ta thử tô điểm vẽ vời lẫn cho nhau xem có đẹp
    hay không ? »
    Công bằng lòng. Quạ bèn tô điểm, vẽ vời cho công trước. Quả nhiên
    cái mình, cái đuôi công lóng lánh thành có bao nhiêu sắc đẹp, đẹp hơn
    những giống chim khác nhiều. Đến lượt công đang ngồi tô điểm, vẽ vời
    cho quạ, thì chợt nghe tiếng ríu rít biết bao nhiêu chim con ở phía đông
    bay lại.
    Quạ liền hỏi : « Chúng mày đi đâu mà kéo đàn, kéo lũ như thế ? »
    Đàn chim nói  : «  Chúng tôi nghe đồn ở dưới phương nam có nơi
    nhiều gạo, nhiều gà, lại có cả mấy cái thây ma nữa. Chúng tôi rủ nhau đi
    kiếm ăn đây. Anh làm gì đấy ?… Hay ta đi một thể ».
    Quạ nghe nói, trong lòng háo hức muốn đi theo đàn chim kia ngay
    lập tức. Quạ mới nói với công rằng : « Bây giờ mà tôi ngồi đợi để anh tô
    điểm vẽ vời cho đẹp, thì chưa biết đến bao giờ mới xong. Thôi, hay sẵn

    cả đĩa mực đây, anh cứ cầm thế mà đổ lên mình tôi để tôi đi theo bọn kia,
    kẻo lỡ mất một dịp may kiếm ăn tốt ».
    Công thấy quạ bảo thế, chiều ý làm theo, cầm cả đĩa mực dốc vào
    mình quạ. Thành bao nhiêu lông cánh quạ toàn một màu đen như mực.
    Quạ bay đi kiếm ăn không còn nghĩ gì đến xấu với đẹp nữa. Nhưng
    đến lúc gà, gạo, thây ma phè phỡn, trở về thấy con cò trắng muốt bay
    qua, nó trông nó cười, quạ ngắm lại mình đen thủi đen thui gớm chết, thì
    lấy làm thẹn, vội bay lẫn đi nơi khác.
    Thành tự đó hễ thấy cò đâu, thì quạ cứ kêu : « Quạ cấu hổ ! Quạ xấu
    hổ ! ». Nên chi mới có câu hát rằng :
    « Quạ đã biết mình quạ đen,
    Quạ đâu còn dám mon men tới cò ».

    3) CON GIUN KHÔN NGOAN
    3

    Xưa có người bắt một con giun nhỏ làm mồi để câu cá. Khi bị
    chìm xuống nước, con giun thấy một con cá muốn đến đớp, mới bảo cá
    rằng  : «  Tôi với anh cùng là một loài ở một đất, nước với nhau. Nay
    người nó bắt tôi làm mồi để nhử anh. Phỏng anh ăn thịt tôi, tôi chết, mà
    anh móc vào lưỡi câu, thì anh có sống được chăng ? »
    Cá nghe nói không ăn giun, bỏ đi nơi khác. Người kia ngồi câu thấy
    mãi không được con cá nào, nghĩ bụng con giun ấy không làm mồi được,
    bèn lấy ra quăng đi mà kiếm cái mồi khác. Thành ra con giun khỏi chết.
    Bởi truyện này sau ta mới có câu hát rằng :
    « Khôn ngoan ai được như giun,
    Cá khôn mắc mẹo, người khôn mắc lừa ! »

    4) VOI NGỰA ĐUA NHAU
    Xưa con ngựa thấy con voi chậm chạp có ý khinh lờn. Ngựa đòi thi
    tài với voi xem ai chạy giỏi. Lúc thi chạy đường thẳng, thì voi chạy
    không kém gì ngựa mấy, nhưng lúc thi chạy đường quanh, thì ngựa chạy
    nhanh hơn voi nhiều. Voi thua. Ngựa lên mặt.
    Hôm sau, voi thách ngựa thi chạy đường quanh, nhưng phải chạy
    sang tận hòn núi xa xa đằng trước mặt. Ngựa cho là không vào đâu, chắc
    ăn đứt voi cả mười phần. Nhưng chạy được một chốc, thấy có con sông,
    dòng nước chắn ngang, ngựa phải đứng dừng lại chưa biết nghĩ thế nào,
    thì đã thấy voi chạy tới nơi, voi lội xuống sông mà sang được núi bên
    kia. Ngựa đành phải chịu thua, và từ đấy không dám khinh voi nữa. Bởi
    vậy mà người ta mới có câu thường hát rằng :
    « Ngựa lau chau, ngựa đến bến giang,
    Voi đủng đỉnh, voi sang qua đò ».

    4

    5) CON GIÁN VÀ CON NHỆN
    Ngày xưa con gián và con nhện làm bạn chơi với nhau chí thân. Một
    hôm con nhện phàn nàn với con gián rằng :
    « Tôi ghét người chủ nhà này lắm. Tôi chẳng làm hại gì nó, mà hễ
    nó thấy cái mạng tôi giăng chỗ nào, là nó cứ ra công phá hoại. Cho nên
    tôi mới có câu nguyền rủa rằng :
    - Ta mong cho chủ tan hoang,
    Để ta mắc võng nghênh ngang cả nhà.
    « Tôi, thì tôi yêu chủ nhà này lắm. Tôi chẳng làm hại gì họ, mà họ
    cũng chẳng làm hại gì tôi. Dầu mỡ trong nhà tôi ăn uống tha hồ phong
    lưu, mà chẳng ai phiền đến tôi cả… Cho nên tôi thường có câu chúc
    nguyện rằng :
    - Ta mong cho chủ ta giàu,
    Để ta ăn mỡ, ăn dầu no say ».
    Nhện nghe nói lấy làm giận gián. Hôm khác, gián, nhện gặp nhau
    chuyện trò lúc lâu, nhện hỏi gián rằng : « Thế nào, độ này dầu mỡ no say
    thích chứ ! Tôi tưởng cái thân anh cũng khổ, chỉ rong chơi rồi nhờ vào
    chủ nhà mà ăn mà uống, chớ có tài nghề gì ? »
    Gián đáp lại : « Thì tôi vẫn biết, tôi không có cái nghề gì cả. Còn
    như anh, anh thật có tài nghề, có khôn ngoan, anh cứ nạo ruột anh ra mà
    xe tơ và giăng cái mạng tinh khéo còn ai bằng. Cái mạng này bị phá, anh
    giăng luôn ngay được cái mạng khác ! Chỉ hiềm rằng nhà chủ họ không
    biết công khó nhọc cho anh, họ lại cứ phá anh luôn, làm cho anh lắm lúc
    không còn chỗ mà ở, không có miếng mà ăn. Chẳng trách anh cầu cho
    cửa nhà họ tan hoang là phải. Nhưng khốn tôi chẳng thấy họ tan hoang tí
    nào, tôi chỉ thấy càng ngày, họ lại càng giàu sang như câu tôi chúc vậy.
    Mà cái trò họ lịch sự hơn bao nhiêu, thì họ lái phá công nghiệp của anh
    hơn bấy nhiêu ».

    Nhện nghe gián nói, lại càng tức giận gián hơn trước nhiều ! Cách
    đó ít lâu, nhà chủ giàu sang lịch sự, mua được một con khướu nuôi để nó
    hót chơi. Phải tính con khướu thích ăn gián, mà chủ cứ sai đầy tớ quơ
    mạng nhện xong, lại đi bắt gián làm đồ ăn cho khướu.
    Khi đó, cả họ nhà gián bị bắt gần hết, chỉ còn con gián kia cứ phải
    lẩn lút chúi ở dưới hang dưới cống không dám nho nhoe bò lên trên mặt
    đất hay mò mẫm ở nơi gậm chạn, đáy nồi nữa.
    Một hôm, nhện bắt gặp gián đang tìm đường trốn tránh, nhện liền
    giữ lại hỏi : « Ấy kìa chào bác ! Thế nào, độ này bác xem cái thân gián
    bác đã khốn khổ hơn cái thân nhện của tôi đây chửa ? Tôi tuy bị nhà chủ
    nó phá cái mạng, nhưng không bị nó tìm mà giết chết bao giờ, nhất là
    chết ở trong cái miệng của một giống chỉ có nghề tài hót mà thôi. Bác
    chúc nó cho nhiều nữa vào, bác cũng được cái tài nghề chúc đấy !… »
    Nghe nói xấu hổ, gián tụt ngay xuống miệng cống, không còn nói
    năng gì được nữa. Thành tự bấy giờ gián, nhện giận nhau, tuyệt giao hẳn
    và coi nhau đã như hằn thù vậy.

    6) CON CÓC LÀ CẬU ÔNG TRỜI
    Xưa, phải một năm Trời làm hạn hán đã năm sáu tháng không có
    một giọt mưa, bao nhiêu đầm, vũng, ao, chuôm đều cạn sạch. Không có
    nước, các loài cây cũng khô héo rũ rượi  ; không có nước, các loài vật
    cũng nhao nhao như muốn làm loạn vậy.
    Có một con cóc ở trong hang sâu, nghĩ mình ngắn cổ, kêu chẳng
    thấu Trời, nhưng nước không có uống cóc lấy làm tức mình, giận thân,
    bỏ hang định lên tận Trời kêu cho Trời biết mới nghe.
    Đi được một đoạn, cóc gặp con ong vẽ, nó hỏi đi đâu. Cóc bảo  :
    « Trời làm hết nước uống. Tao đi kêu Trời đây ».
    Ong vẽ nói : « Như loài chúng tôi chỉ sống về hoa, về tổ. Bấy lâu
    Trời nắng, đi hái hoa, thì hoa chẳng nở, muốn về tổ, thì nước không có.
    Có phải anh đi kêu Trời, thì anh cho tôi đi theo với ».
    Cóc bằng lòng. Cóc cùng với ong vẽ cùng đi. Đi một đoạn nữa, hai
    con gặp một con gà, nó hỏi : « Hai anh đi đâu ? »
    Cóc, ong đáp : « Trời làm đại hạn. Chúng tao đi kêu Trời đây ».
    Gà nói : « Như loài chúng tôi chỉ sống về bông lúa, hạt ngô, mà Trời
    nắng dữ mất mùa mất màng, muốn ăn không có, hạt nước khô cổ cũng
    chẳng tìm ra. Có phải hai anh đi kêu Trời, thì hai anh cho tôi đi theo
    với ».
    Cóc bằng lòng. Cóc cùng với ong, gà cùng đi. Lại đi một đoạn, ba
    con gặp một con cọp, nó hỏi đi đâu. Ba con đáp : « Trời làm tiêu khổ.
    Chúng tao đi kêu Trời đây ».
    Cọp nói : « Được đấy ! Để tao cùng đi với chúng mày ».
    Trời nắng lâu hay mưa dầm, tao chẳng quản ngại gì. Nhưng tao thấy
    chúng mày khao khát khốn khổ về nước, tao cũng thương tình, để tao đi
    5

    với cho thêm bè, thêm cánh. Một đàn bốn con , đi mãi bao lâu mới đến
    cửa nhà Trời.

    Con cóc dặn ba con kia rằng : « Các anh hãy cứ đợi ngoài này để
    một mình tôi vào trước. Bao giờ tôi kêu anh nào vào thì anh ấy hãy vào,
    tôi không kêu thì thôi ».
    Rồi cóc liền nhảy vào. Cóc thấy Trời đang ngồi đánh tổ tôm

    6

    với

    mấy ông Tiên. Cóc thị võ, giương oai, trợn to hai mắt, phùng to hai má,
    nhảy ngay vào giữa đĩa nọc ngồi chồm hổm.
    Trời thấy vậy giận lắm, thét lên rằng : « Mi lên đây làm gì mà hỗn
    láo dường này ? »
    Cóc chẳng nói chẳng rằng, lại càng giương mắt to thêm. Trời liền
    cho gọi lính ra đánh cóc. Cóc không hề sợ, ra lệnh cho ong vẽ. Ong vẽ
    7

    bay vào cắn , bao nhiêu quân lính đau đớn chạy tán loạn cả. Trời càng
    8

    giận, truyền cho Thần Sấm, Thần Sét ra đánh cóc. Cóc ra lệnh cho gà .
    Gà vào gà mổ ; Sấm, Sét hoảng hồn chạy ráo. Trời càng giận, truyền cho
    Thần Thiên Cẩu ra đánh cóc. Cóc vẫn cóc sợ gì, ra lệnh cho cọp. Cọp
    vào cọp cắn, Thiển Cẩu chạy chí chết…
    Trời thấy thế thua không làm gì nổi cóc, phải chịu phép nó và đấu
    dịu với nó rằng : « Thưa cậu ! Thế cậu muốn gì, cậu bảo cho biết ».
    Cóc nói : « Tôi lên đây chẳng có việc gì. Tôi chỉ muốn hỏi sao đã từ
    lâu Trời không mưa để cho mọi loài dưới hạ giới phải chịu khô khan khổ
    sở vì không có nước ? »
    9

    Trời bèn gọi Vũ súy ra hỏi và trách Vũ súy rằng : « Chú giữ việc
    làm mưa, mà sao chú không chịu chăm chút để cho muôn vật dưới hạ
    giới nó khốn khổ, nó dám lên tận đây làm huyên náo như thế này ! »
    Vũ súy quỳ tâu : « Việc là việc chung thiên hạ, không riêng chi một
    phương nào. Thiên hạ bao la rộng rãi, mà chúng tôi chỉ có một mình coi
    10

    không xuể , tất cũng có chỗ sót, xin Trời thẩm xét cho ».
    Cóc nghe tâu, gắt lên rằng : « Thôi, tôi không biết đâu cả. Trời đã
    chịu phép tôi, thì từ nay hễ khi nào thấy tôi kêu, tôi nghiến răng, thì phải
    mưa ngay

    11

    xuống, kẻo tôi lại lên đây làm loạn chớ chẳng tha ».

    Trời bảo : « Vâng, thôi mời cậu cứ về. Từ giờ tôi xin làm theo lời
    cậu không hề dám sai ».

    12

    Bấy giờ cóc mới chịu nhảy ra rủ cả ong vẽ, gà và cọp cùng về. Ngay
    hôm ấy, Trời mưa. Bởi sự tích này mới thành có những câu về con cóc
    rằng :
    « Có cóc khô gì đâu ?
    Cóc sợ gì ai !
    Con cóc là cậu ông Trời,
    Cóc nghiến răng, chuyển động bốn phương Trời ».

    7) CON GÀ, CON LỢN VÀ CON CHÓ
    Xưa có một nhà thật giàu có, ruộng nhiều, trâu bò lắm. Phải một
    hôm đến hơn mười con vừa trâu, vừa bò lạc đi đâu mất cả. Sau nhờ bà
    con láng diềng lùng đi tìm mãi mới lại thấy đủ.
    Cảm cái ơn to ấy, hai vợ chồng bàn nhau rằng : « Của ta đã mất lại
    tìm thấy là nhờ lòng tử tế của bà con xóm diềng cả. Vậy giờ ta phải báo
    ơn lại. Nếu bữa nay chưa kịp, thời bữa mai ta phải thịt một con gà, một
    con lợn và một con chó, rồi mời những ai đã giúp việc ta đến cơm rượu
    cho thật no say ».
    Hai vợ chồng bàn xong đi ngủ. Đêm nằm thấy ông Tổ hiện lên báo
    mộng rằng : « Tao nghe chúng mày định một bữa mai giết hại những ba
    con vật. Tao sợ chúng mầy làm điều thất đức. Vậy chúng mày mà giết
    chúng nó, thì phải biết hóa kiếp cho chúng nó, rồi trong nhà mới yên
    lành được ».
    Vợ chồng nghe nói, kêu với ông Tổ rằng : « Chúng con dương gian
    mắt thịt, không biết làm cái gì để hóa kiếp cho chúng nó. Xin cụ dạy
    cho… »
    Ông Tổ bảo rằng : « Hễ khi làm thịt gà thì phải hái lá chanh, khi làm
    thịt lợn thì phải thái củ hành, khi làm thịt chó thì phải giã củ riềng, mà
    cho thêm vào, thì hồn các con ấy mới hóa được ».
    Hai vợ chồng vâng vâng dạ dạ. Mà khi ông Tổ nói, con gà, con lợn,
    con chó, ba con đều nghe thấy tiếng, biết mình không sao tránh khỏi
    chết, cũng đành vậy. Nhưng ba con chỉ sợ chủ nhà quên điều ông Tổ dặn
    các thứ phải gia thêm vào thịt cho mau hóa kiếp, nên lúc mới sáng tinh
    sương, bà con ùa nhau kêu ầm lên :
    Gà thì : « Tục tác lá chanh ».
    Lợn thì ủn ỉn : « Mua hành cho tôi ».

    Chó thì khóc đứng, khóc ngồi  : «  Mẹ ơi, mẹ hỡi, mua tôi đồng
    riềng ».
    Vì truyện này mà tự đó ta ăn gà, phải có lá chanh, ăn lợn phải có
    hành, ăn chó phải có riềng thì ăn mới ngon mà cũng tức là để chóng hóa
    kiếp cho ba con vật rất có ích cho ta vậy.

    8) CON CHÈO BẺO
    Xưa có một người, về mùa tháng mười, lúa đã gần chín, đêm nào
    cũng ra đồng nằm để giữ lúa. Gặp phải một đêm, có hai tên kẻ trộm rủ
    nhau đến cắt trộm lúa. Chúng thấy có người nằm giữ đấy rồi, không biết
    làm thế nào, mới bảo nhau giết chết đi.
    « Than ôi trời cao đất dầy !
    Để cho người ấy bị tay tham tàn ! »
    Ai ngờ, oan hồn thì hồn hiện, hồn người chết ấy lên Thiên Đình kêu
    với Ngọc Hoàng.
    Ngọc Hoàng liền sai quỷ sứ xuống bắt hai tên kẻ trộm lên, rồi phán
    rằng  : «  Hai đứa chúng mày siêng ăn, biếng làm chỉ lo trộm cướp của
    người, rồi lại còn giết người. Như tội ấy thật là to lắm ! Hai tên bây phải
    chết, một tên thì ta bắt làm châu chấu, còn một tên thì ta bắt làm cào
    cào ».
    Xong, Ngọc Hoàng lại phán rằng : « Còn tên giữ lúa chết oan kia,
    thì ta hóa kiếp cho làm con chèo bẻo ».
    Tên kia tâu rằng : « Bây giờ con hóa làm chèo bẻo, thì con phải làm
    những việc gì ? »
    Ngọc Hoàng phán : « Ta cho mày hóa làm chèo bẻo, một là để cho
    mày lại theo được cái nghiệp giữ lúa như xưa, hai là để cho mày có dịp
    báo thù được hai tên kẻ trộm. Bao giờ lúa chín, có châu chấu, cào cào
    đến ăn hại, thì ta cho mày cứ tha hồ tự do bắt nó mà ăn thịt ».
    Bởi sự tích này mà hằng năm cứ vào độ tháng mười gần lúa chín, thì
    có chim chèo bẻo bay lượn khắp mọi cánh đồng mà bắt châu chấu với
    cào cào.

    13

    9) CON TÔM VÀNG
    Đời xưa có người giàu có, nuôi một con mèo cực đẹp. Ông rất cưng
    yêu con mèo, mà con mèo cũng hết lòng với ông. Một hôm, ông cho gọi
    thợ bạc đến trổ một con tôm bằng vàng để làm đồ chơi. Con tôm vàng
    trổ khéo lắm không khác gì con tôm thiệt. Nên ông lấy làm quí mến,
    ngồi đứng đâu, thường vẫn đem theo. Phải một khi ông đi chơi vắng, bỏ
    quên con tôm vàng ở nhà, lúc trở về tìm, thì con tôm vàng mất đâu, tìm
    sao cũng không thấy.
    Ông bèn gọi con mèo đến mà bảo rằng : « Mày ở nhà, có biết con
    tôm vàng đâu, thì tìm ra cho được. Nếu không tìm thấy, thì tao cứ mày
    tao trị tội ».
    Con mèo thưa rằng : « Tôm vàng của ông ở đâu thì tôi không biết,
    nhưng tôi biết trong nhà có con chuột, tính nó hay gậm, hay tha, để tôi
    thử xin tra nó xem sao ».
    Rồi con mèo đi tìm con chuột gầm gừ hỏi rằng : « Ông chủ tao đánh
    mất con tôm vàng. Mày có tha đi đâu, thì phải đưa trả ngay đây, không
    tao cắn chết ».
    Con chuột run sợ nói rằng  : «  Con tôm vàng, thật tôi không lấy.
    Nhưng tôi biết, hôm qua lúc ông chủ đi vắng, người thợ bạc lẻn vào nhà
    lấy trộm rồi đem đi. Hay bây giờ anh với tôi, ta phải đi lấy tôm vàng về
    cho được ». Mèo nghe nói, vui lòng nhận đi ngay…
    Nhà người thợ bạc ở cách một con sông, mèo chuột phải lội qua mới
    sang đến nơi. Mèo thì ngồi đợi trước cửa, còn chuột chạy vào lục lọi
    khắp mọi nơi. Chuột khoét mau thủng một cái hòm, chui vào tìm bới, thì
    quả nhiên thấy con tôm vàng trong ấy. Chuột vội cắn đem ra cho mèo.
    Mèo lấy làm mừng lắm, ngậm con tôm vàng vào mồm. Hai con lại rủ
    nhau lội qua sông để về nhà. Nhưng đang lúc lội, mèo luống cuống làm
    sao, để cho tôm vàng sẩy rơi xuống nước.

    Mèo lấy làm lo sợ, nói với chuột rằng : « Con tôm vàng ở dưới đáy
    sông rồi ! Hai đứa chúng ta cùng không biết lặn cả. Liệu làm thế nào bây
    giờ đây ? »
    Chuột trách mèo  : «  Công tôi đã tìm thấy được tôm vàng, anh lại
    đem đánh rơi đi. Việc ấy thật là lỗi ở anh, không can gì đến tôi nữa ».
    Giữa lúc hai con đang ngồi than thở bàn bạc với nhau, mèo chợt
    thấy một con cá tự dưới sông nhảy vào bờ. Mèo nhanh chân chạy lại, bắt
    con cá, ngoeo ngoeo nạt nộ rằng  : «  Tao vừa đánh rơi con tôm vàng
    xuống sông. Có phải mày đã ăn mất rồi, thì mày nhả ra trả tao đây.
    Không thì tao cắn, tao nuốt ngay bây giờ ».
    Cá nghe nói, sợ hãi thưa rằng : « Con tôm vàng, lúc nãy tôi quả có
    bắt được ngỡ là tôm thật, tôi đã toan ăn, nhưng đến lúc gậm, thấy nó rắn
    quá, tôi lại nhả ra bỏ. Hiện bây giờ nó còn ở dưới đáy sông ».
    Con mèo vội bảo : « Thế mày phải mau lặn xuống sông lấy đem lên
    đây cho tao, thì tao mới tha mày ».
    Cá uốn mình lặn xuống sông lấy ngay được tôm vàng đem lên trả
    mèo.
    Mèo thấy tôm vàng, chẳng thèm cảm ơn gì cả, đội ngay lên đầu mà
    đi, vừa đi vừa bảo chuột rằng : « Tao ngậm tôm vàng vào mồm, tao lại sợ
    nó sẩy ra như lúc nãy thì chết. Bây giờ tao đội nó trên đầu vững vàng thế
    này, thì thật không còn ngại gì nữa ».
    Mèo nói thế, đã tưởng là khôn lắm. Nào ngờ chưa đi được mấy
    bước, có con quạ lượn trên không, trông thấy tôm vàng nhấp nhánh ở
    dưới tưởng cái gì ăn được, sà ngay xuống đớp, rồi bay lên đậu trên cành
    đa cao chót vót.
    Mèo thấy tôm vàng lại mất, hoảng hốt vừa giận vừa lo, bàn với
    chuột rằng : « Trước tôm vàng rơi xuống nước, ta còn sai cá lặn xuống,
    nó lấy lên được. Bây g
     
    Gửi ý kiến

    DANH NGÔN VỀ SÁCH

    Một cuốn sách hay trên giá sách là một người bạn, dù quay lưng lại nhưng vẫn là bạn tốt”. Vậy tại sao chúng ta lại quay lưng với người bạn tốt?Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    TẾT NGOÀI ĐẢO XA


    SỰ TÍCH CÂY NÊU NGÀY TẾT

    TẬP SAN MỪNG ĐẢNG MỪNG XUÂN

    Một thư viện tốt là trái tim của nhà trường – nơi nuôi dưỡng trí tuệ và tâm hồn học sinh

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC MAI CHÂU TỈNH PHÚ THỌ !

    “Sách mang trong mình sứ mệnh đưa độc giả đi du lịch khắp muôn nơi mà không cần di chuyển một bước.” – Jumpa Lahiri