Vũ Trung

- 0 / 0
Nguồn:
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 08h:52' 16-03-2024
Dung lượng: 670.5 KB
Số lượt tải: 3
Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
Ngày gửi: 08h:52' 16-03-2024
Dung lượng: 670.5 KB
Số lượt tải: 3
Số lượt thích:
0 người
Thông tin ebook
Tên sách: Vũ Trung Tùy Bút
Tác giả: Phạm Đình Hổ
Bản dịch: Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Mục lục
LỜI NÓI ĐẦU
LỜI GIỚI THIỆU
TỰ THUẬT
TẢ CHÍ HẦU
CẢNH CHÙA SƠN TÂY
THAY ĐỔI ĐỊA DANH
HOA THẢO
HỌC THUẬT
LỐI CHỮ VIẾT
CÁCH UỐNG CHÈ
XÉT VỀ ĐỊA MẠCH VÀ NHÂN VẬT
ĐÊM RẰM THÁNG TÁM
BÀN VỀ ÂM NHẠC
BÀN VỀ LỄ
LỄ ĐỘI MŨ
HÔN LỄ
THỪA TỰ
LỄ TẾ GIAO
TẠP KÝ
PHONG TỤC
NÓN ĐỘI
ÁO MẶC
NGUYỄN NGHIÊU MINH
ĐƯỜNG SĨ HOẠN
ĐÀN
CÁ VOI
MẤY NĂM ĐƯỢC MÙA
TRỘM CẮP
MẸO LỪA
MỘNG VÀ SỐ
THÁC OAN
KHOA CỬ
CUỘC BÌNH VĂN TRONG NHÀ GIÁM (1)
PHÉP THI NGHIÊM MẬT
ĐIỀM QUÁI GỞ
NGUYỄN KÍNH
VIỆC THI CỬ
Y HỌC TRUNG HOA
XỨ HẢI DƯƠNG
TÊN HUYỆN ĐƯỜNG AN
TÊN LÀNG CHÂU KHÊ
ĐOÀN THƯỢNG
PHẠM TỬ HƯ
PHẠM NGŨ LÃO
PHẠM CƯ SĨ
LÀNG HẠ BÌ
ĐỖ UÔNG
NHỮ CÔNG TUNG
LÝ ĐẠO TÁI
VÕ THÁI PHI
ĐỀN THỜ LÀNG TUẤN KIỆT
CÁI THÓI KIÊNG NGÀY TRÙNG TANG, TRÙNG PHỤC
KHÁCH ĐỂ CỦA
CỔ TÍCH
VIỆC TẾ TỰ
ĐỀN ĐẾ THÍCH
THẦN HỔ
THẦN TRẺ CON
MIẾU BÀ CHÚA NGỰA
ĐỀN THỜ CAO TƯỚNG CÔNG
PHẠM TRẤN, ĐỖ UÔNG
BÙI THẾ VINH
VÕ CÔNG THẠNH
VĂN THỂ
PHÉP THI
THỂ VĂN KINH NGHĨA
THỂ VĂN TỨ LỤC
THỂ THƠ
THỂ VĂN SÁCH
VIỆC TAI DỊ
NHÀ HỌ NGUYỄN Ở TIÊN ĐIỀN
ĐIỀM CÂY ĐA
VIỆC TẾ TỰ
LỄ TANG
LỄ NHÀ MIẾU
THẦN LỄ
BÁI LỄ
QUAN CHỨC
LỄ TANG
TẾ LỄ
BÁI LỄ
TRUYỆN VUA LÊ LỢI
LỄ SÁCH PHONG
CƯ TANG
MỘ CHÍ
TRỢ TẾ
THẦN HỒ ĐỘNG ĐÌNH
THAY ĐỔI
LỜI NÓI ĐẦU
Nước ta hiện nay đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mở
cửa tiếp xúc rộng rãi với thế giới. Phải có bản lĩnh tiếp thu tinh hoa văn hóa
của thế giới để làm phong phú cho nền văn hóa của dân tộc mình. Nhưng
muốn thế nhất thiết phải củng cố cái gốc của văn hóa dân tộc, bồi dưỡng tinh
hoa văn hóa dân tộc cho các thế hệ, nhất là thế hệ trẻ để cho họ ý thức được
những giá trị tinh thần đẹp đẽ của dân tộc mình, như vậy khi tiếp xúc với nền
văn hóa các nước, họ biết chủ động tiếp thu những cái hay, cái đẹp của
người, và dị ứng lại với những cái xấu, cái độc hại. Xuất phát từ nhận thức
này, Hội nghiên cứu và Giảng dạy Văn học Thành phố Hồ Chí Minh quyết
định tổ chức biên soạn tử sách VĂN HỌC VIỆT NAM, NHỮNG TÁC
PHẨM TIÊU BIỂU.
Tủ sách sẽ cung cấp cho đông đảo bạn đọc, trước hết là bạn đọc trẻ, cho
thanh niên, học sinh, sinh viên ở các trường phổ thông và đại học những tác
phẩm ưu tú của văn học dân tộc, từ văn học dân gian đến văn học viết, từ
văn học cổ đến văn học cận, hiện đại... Thông qua tủ sách này bạn đọc sẽ
cảm nhận được vẻ đẹp của tâm hồn con người Việt Nam, sức sống và cá tính
của dân tộc Việt Nam, cùng với cái hay, cái đẹp của tiếng Việt và văn
chương Việt Nam.
Để phản ánh cho đúng những thành tựu của văn học dân tộc, trong tủ sách có
tập là một tác phẩm được in trọn vẹn, có tập là tuyển của một tác giả, hoặc
một phong trào, một thể loại...
Chúng tôi cố gắng cung cấp cho bạn đọc những văn bản được in lần đầu tiên
đối với bộ phận văn học quốc ngữ, còn những văn bản thuộc phạm vi văn
học Hán Nôm thì ngoài việc in bản dịch, hoặc bản phiên âm chúng tôi cho in
kèm theo văn bản chữ Hán hoặc chữ Nôm để cho các bạn có thể đối chiếu
khi cần thiết.
Xin trân trọng giới thiệu tủ sách với đông đảo bạn đọc.
GS. Hoàng Như Mai
Chủ tịch Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học
Thành phố Hồ Chí Minh
LỜI GIỚI THIỆU
Một trong những tác giả nổi tiếng về thể loại truyện ký ở nước ta nửa cuối
thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 là Phạm Đình Hổ. Ông trước tác khá nhiều, trong đó,
Vũ trung tùy bút là bức tranh toàn cảnh sinh động về xã hội đời Lê-Trịnh, là
tài liệu tốt cho những ai muốn nghiên cứu, tìm hiểu phong tục, tập quán, sinh
hoạt của con người thời này.
Phạm Đình Hổ sinh năm 1768, tự Tùng Niên và Bỉnh Trực, hiệu là Đông Dã
Tiều, còn có biệt hiệu là Hy Kiều Phủ, người đời thường gọi là Cụ Tế Đan
Loan (1). Ông quê ở xã Đan Loan, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng,
trấn Hải Dương, nay là thôn Đan Loan, xã Nhân Quyền, huyện Cẩm Bình,
tỉnh Hải Dương (2). Nhà ở phường Hà Khẩu (3), huyện Thọ Xương, phủ
Hoài Đức, thuộc thành Thăng Long (nay thuộc khu vực phường Hàng Buồm,
quận Hoàn Kiếm, Hà Nội).
Ông xuất thân từ gia đình khoa bảng. Cha đậu cử nhân làm chức Hiến sát
dưới triều Lê Cảnh Hưng (1740), nhưng mất sớm lúc ông mới 10 tuổi, gia
đình trở nên túng bấn. Anh trưởng, anh thứ của ông đều yểu mệnh. Vợ ông
chết sớm liền sau cái chết của con trai lớn, để lại đứa con sau ốm yếu. Mặc
dù chịu nhiều đau thương, bản thân lắm bệnh tật, ông cũng cố gắng đeo đuổi
nghiệp khoa cử. Cuối đời Lê Cảnh Hưng, ông từng theo học ở trường Quốc
Tử Giám. Năm Bính Ngọ (1786) ông chưa kịp đi thi thì nhà Lê mất (1789).
Mãi đến khi Gia Long lên ngôi, mở các khoa thi, ông đi thi nhiều lần nhưng
chỉ đậu đến tú tài. Sau bị bệnh, không thể tiếp tục nghiệp khoa cử được, ông
dành thì giờ viết sách. Ông am tường và nghiên cứu rất nhiều lĩnh vực. Vừa
chuyên chí học hành, vừa trước tác, ông có nhiều công trình sưu tầm, nghiên
cứu có giá trị. Nhờ vậy, năm Minh Mệnh thứ nhất (1820), ông được vua vời
vào triều cho nhậm chức Hành tẩu bộ Hộ, rồi được bổ vào chức hàn lâm viện
hành tẩu. Chẳng bao lâu, ông xin từ chức về nhà. Năm Minh Mệnh thứ bảy
(1826), ông lại được triệu về triều làm chức Hàn lâm viện thừa chỉ kiêm
Quốc tử giám tế tửu. Được vài năm ông cáo bệnh về quê, lại được vua triệu
và ban chức Thị giảng học sĩ. Năm 1839, ông mất, thọ 71 tuổi. Trong suốt
quãng đời mình, ông sống cuộc sống nhà nghiên cứu, nhà văn nhiều hơn làm
quan. Ông để lại nhiều tác phẩm với khá nhiều thể loại.
Về sưu tầm, nghiên cứu, ông có: Lê triều hội điển, Bang giao điển lệ, Cảnh
Hưng tân ty sách phong sứ quán thư giản chư tập, An Nam chí, Ô châu lục,
Ai Lao sứ trình, Đại Man quốc địa đồ, Càn khôn nhất lãm, Hi kinh trắc lãi,
Khánh An Đan Loan Phạm gia thế phổ, Đan Loan Phạm thị chi hệ thế phổ...
Về sáng tác, ông có: Vũ trung tùy bút, Nhật dụng thường đàm, Đông Dã học
ngôn thi tập, Bạn tiếp tồn phụng, Tang thương ngẫu lục (viết chung với
Nguyễn Án)...
Một trong những đặc điểm của nền văn học chữ Hán nước ta từ thế kỷ 18 –
đầu thế kỳ 19 là sự phát triển của thể ký. Ở thể loại này, người viết ghi lại
những điều tai nghe, mắt thấy bằng nghệ thuật mô tả sinh động… Ngoài
những nguyên nhân khách quan của văn học, yêu cầu phát triển thể loại ký
(chủ yếu là tạp ký và ký sự), hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ cũng là động cơ
quan trọng thôi thúc những người có lòng yêu nước, thương dân sáng tác.
Phạm Đình Hổ là một điển hình. Dù phải sống trong gia cảnh nghèo túng,
đau thương, nhưng từ nhỏ ông đã xác định mục đích của kẻ làm trai là: “Lập
thân hành đạo”. Hơn nữa, trong thời đại ông sống, luân thường đạo lý bị coi
thường, trật tự xã hội bị đảo lộn, biết bao cảnh ngang trái xảy ra từ vua chúa
đến quan lại… Bị áp lực của kẻ cầm quyền, những quan hệ trong xã hội đều
nghiệt ngã…
Vũ trung tùy bút (Tùy bút viết trong những ngày mưa) của Phạm Đình Hổ ra
đời trong hoàn cảnh ấy. Tập trung trong 91 đề mục, tác giả ghi lại những
điều tai nghe, mắt thấy trong thực tế hàng ngày, không theo một trật tự nào.
Bằng thủ pháp mô tả rất sinh động, tỉ mỉ, chân thành, bằng tấm lòng của một
người ưu thời mẫn thế, Phạm Đình Hổ đã vẽ lại thật sống động lối sống sa
đọa của bọn vua chúa, nạn hà hiếp dân lành của bọn quan lại, cảnh khốn
cùng của dân chúng, cảnh gian lận hay thành kiến nặng nề trong thi cử đến
những tục lệ của người dân… Mặc dù còn hạn chế ở một số điểm, nhưng Vũ
trung tùy bút mang một giá trị nhất định về mặt sử học, văn hóa và xã hội
học, là tài liệu đáng giá cho những ai muốn nghiên cứu xã hội nước ta cuối
đời Lê.
Thực vậy, dưới ngòi bút của ông, việc phản ánh trung thành bộ mặt xã hội
đương thời, nhất là thói ăn chơi xa hoa, trụy lạc của bọn vua chúa được nói
đến trước tiên. Sinh ra trong gia đình nhà nho, bản thân từng làm quan phục
vụ triều đình, nhưng Phạm Đình Hổ không khỏi bất mãn trước lối sống trái
đạo của bọn thống trị, trước thái độ coi dân như cỏ rác. Ông kể việc “Trịnh
Sâm thích chơi đèn đuốc, thường ngự ở các ly cung bên Tây hồ, núi Tử
Trầm, núi Dũng Thúy. Việc xây dựng đình đài cứ liên miên. Mỗi tháng ba
bốn lần, Vương ra cung Thụy Liên trên bờ Tây hồ, binh lính dàn hầu vòng
quanh bốn mặt hồ, các nội thần thì đều bịt khăn, mặc áo đàn bà, bày bách
hóa chung quanh bờ hồ để bán (…). Buổi ấy, bao nhiêu loài trân cầm dị thú,
cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian, chúa đều sức thu lấy,
không thiếu một thứ gì (…). Bọn hoạn quan cung cấm lại thường nhờ gió bẻ
măng, ra ngoài dọ dẫm. Họ dò xem nhà nào có chậu hoa cây cảnh, chim tốt,
khướu hay, thì biên ngay chữ “phụng thủ”. Đêm đến, các cậu trèo qua tường
thành lẻn ra, sai tay chân đem lính tới lấy phăng đi rồi buộc cho tội đem dấu
vật cung phụng để dọa lấy tiến” (Chuyện cũ trong phủ chúa). Bọn quan lại
tại chức cũng ăn chơi và dung dưỡng cho con cháu chúng làn càn. Nguyễn
Khản làm quan chức Tri phiên liêu khiêm Quản nhất hùng cơ, tước Kiều
nhạc hầu mê hát xướng, lúc tang cha mà không lúc nào trong nhà bỏ tiếng tơ,
tiếng trúc, gặp lúc con hát đang có tang cũng bắt hát suốt ngày. Bọn con
cháu đều bắt chước chơi bời thành quen (Nhà họ Nguyễn ở Tiên Điền).
Ở đất kinh thành mà nhan nhản “những kẻ đầy tớ nhà quan, du đãng cờ bạc,
gây chuyện đánh nhau, cãi nhau, cùng là những kẻ vô lại trộm cắp, nhiều
lắm không kể xiết được” (Lục hải). Những kẻ cáo quan về hưu cũng không
quên thói gian tham, chuyên làm đơn từ xui kẻ kiện cáo, gây thói điêu ngoa
(Áo mặc).
“Phụ mẫu” của dân đã thế thì người dân tránh sao được cảnh đời gian nan,
cơ cực. Cuộc sống vốn khó khăn, người dân còn bị tròng lên cổ những tệ nạn
phục dịch cho quan. Kẻ nào đỗ khoa Đông các khi vinh quy dân bản tổng
phải đến phục dịch. “Còn đến như làm nhà tư thất, phục dịch việc gì cũng đổ
lên đầu dân cả thì dân làng tổng làm sao chịu được” (Việc thi cử). “Bà Võ
Thái phí theo hầu chúa Trịnh là Hi tổ Nhân vương (Trịnh Cương) dung
dưỡng cho bọn con cháu họ hàng làm càn, bắt dân đi phu, lấy đá làm từ
đường” (Võ Thái phi). Không chịu được sự bóc lột hà khắc, nhân dân vùng
ấy nổi lên đốt phá nhà từ đường, chống lại triều đình. Sống thời nhiễu loạn,
“người dân còn sống sót phải đi bóc vỏ cây, bắt chuột đồng mà ăn. Mỗi một
mẫu ruộng chỉ bán được một cái bánh nướng”, có người bị chết đói. Thê
thảm nhất là có nơi người ta làm cả thịt người! (Võ Thái phi).
Trong hoàn cảnh đen tối ấy, những sĩ tử nào ôm mộng thi đỗ làm quan để
cứu khổ cho dân, thì thật là hiếm hoi. Bởi vì “Những kẻ chỉ học lỏm được
mấy câu mép, nào có quan thiết gì đến đạo tu, tề, trị, bình, thế mà đã ngang
nhiên tự đắc” (Học thuật). Mục đích của họ chỉ đủ “để vinh thân phì da và
làm cho họ hàng được nhờ mà thôi, chứ có ích chúa lợi dân gì cho người đời
nhờ cậy đâu! Huống chi học thuật đã bất chính, đến khi ứng dụng ra đời thì
chỉ làm hại cho thiên hạ, đáng để cho người ta trách mắng”.
Nhưng để được đề danh bảng hổ cũng còn là vấn đề vô cùng khó khăn. Bởi
việc thi cử trong giai đoạn này không còn được triều đình xem trọng. Tình
trạng những kẻ quyền thế gian lận, đút lót quan chấm thi, gửi gắm con em để
được thi đỗ rất phổ biến (Khoa cử). Do chính thể ngày càng đồi bại nên hiện
tượng thi giúp, làm bài sẵn, tìm cách biết đề trước ngày càng nhiều. Tệ hại
nhất là thành kiến nặng nề của các quan giám khảo đối với những bài nào có
“khẩu khí của Ngô Thì Sĩ” vì họ ganh ghét tài hay chữ nổi tiếng của ông và
“sẵn sàng bới móc, đánh hỏng đi”.
Những hiện tượng tiêu cực còn xảy ra do những hạn chế của chế độ thi cử
đương thời. Có kẻ vinh quy “chỉ dòm lấy con gái nhà giàu mà bỏ vợ tao
khang; hoặc cịu tiếng luồn lỏi đi vay lãi mà ký liều văn khế nên đã có cái
tiếng ông Nghè đeo nợ, bà Nghè mua chồng không kể xiết được” (Việc thi
cử). Có kẻ mê danh đem con gái cho phường lừa đảo mà cứ tưởng là quan
trạng, quan thám tương lai, chừng biết ra mình bị lừa thì ngỡ ngàng, đau đớn
(Mẹo lừa).
Tác giả cũng hết sức phản đối những đồi phong bại tục còn tồn tại trong
cuộc sống người dân. Là một nhà nho chính thống, nên những suy nghĩ của
ông dực trên những chuẩn mực của thời đại phong kiến, của tư tưởng nho
giáo cổ xưa để đánh giá, phê phán những hiện tượng sai lệch đương thời.
Ông tỏ thái độ bất mãn trước những thủ tục vô lý, bất nhân trong các lễ cưới,
lễ tang. Do sĩ diện mà chủ nhân tổ chức linh đình để sau đó phải bán cả
ruộng nương, mang đeo nợ nần. Tục lệ này lâu dần thành lệ làng, người dân
bị hạch sách phải thực hiện hủ tục khi có lễ tang, ngày kỵ hay lễ cưới. Ông
cũng kịch liệt phản đối chuyện dân làng mê tín thờ cả hổ, trẻ con và mụ đàn
bà dâm ô làm thần…
Sự đi xuống của phong tục do nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những
nguyên nhân quan trọng là do vua chúa quan lại không làm gương tốt cho
dân. Chính vua chúa quan lại cùng họ hàng ngoại thích ngang nhiên biến đổi
cho lệch lạc những nền nếp tốt đẹp có sẵn từ bao đời. Từ nếp ăn, nếp mặc
đến cách cư xử, giao tế lễ độ… đều bị bóp méo mỗi ngày một khác. “Nếu có
người không chịu thay đổi, thì lại hùa nhau chê cười, thậm chí muốn hãm hại
và xô đổ đi” (Phong tục).
Do nền tảng xã hội bị băng hoại nên quan hệ giữa con người cũng suy đồi:
kẻ dưới xem thường người trên, kẻ vô lại lấy vợ, lấy luôn cả con gái của vợ
(Tệ tục)…
Tuy nhiên, nỗi đắng cay, bất mãn với cảnh đời đầy nhiễu nhương lức bấy giờ
cũng không làm Phạm Đình Hổ quên đi niềm thú vị của lối trồng hoa, cách
uống chè nhà nghề, hay sự thưởng thức văn học nghệ thuật qua những buổi
bình văn thơ trong nhà giám… Những đoạn miêu tả tỉ mỉ, thú vị ấy gây cho
người đọc một cảm giác thích thú về những kiểu cách sinh hoạt mang đậm
tính văn hóa của người xưa. Tác giả không chỉ đưa chúng ta đến những cảnh
đẹp thiên nhiên, thưởng lãm những danh thắng của đất nước, mà còn cho
biết ngọn nguồn, lịch sử của những nơi ấy. Mỗi nét bút ghi lại thắng cảnh
hay nét đặc thù của một số địa phương đều thắm đượm lòng tự hào dân tộc,
tự hào về một đất nước ngàn năm văn hiến, trước những con người tài giỏi
được hun đúc từ tinh hoa của tổ quốc. Ông tự hào đặt đất nước mình ngang
tầm với nước lớn Trung Hoa với niềm tự hào của người con nước Việt.
Nhìn chung, qua Vũ trung tùy bút, người đọc nhất là những ai muốn nghiên
cứu văn hóa, văn học, lịch sử, địa lý, phong tục Việt Nam giai đoạn cuối đời
Lê sẽ thu thập được những điều bổ ích và thú vị, đặc biệt những điều mà
trong lích sử không thấy ghi chép, sẽ gây cho người đọc sự ngạc nhiên, thích
thú. Vũ trung tùy bút mang một văn phong sinh động, rõ ràng, tự nhiên, chi
tiết tỉ mỉ, cụ thể tạo thành một lối văn như lối ghi chép nhật ký hay sổ tay, có
sức hấp dẫn nhất định khó quên.
Lần đầu tiên, Vũ trung tùy bút được Nguyễn Hữu Tiến dịch ra tiếng Việt.
Cho đến nay, bản dịch này được xem là tốt nhất. Nguyễn Hữu Tiến biệt hiệu
Đông Châu, một học giả nghiên cứu lịch sử và văn học dân tộc có uy tín.
Bản dịch này đã được đăng trên tạp chí Nam Phong số 121 tháng 9 năm
1927. Sau đó, Vũ trung tùy bút đước nhà xuất bản Văn học – Hà Nội tái bản
hai lần nữa (lần thứ nhất, năm 1960, Hoàng Hữu Yên giới thiệu, lần thứ hai,
năm 1972, Trương Chính giới thiệu và chú thích). Trong lần hiệu đính bản
dịch này, chúng tôi dùng Vũ trung tùy bút bản chữ Hán do Pháp quốc Viễn
đông Học viện xuất bản, Đài loan học sinh thư cục ấn hành. Trong đó, Vũ
trung tùy bút là tập hai, sách thứ năm trong hàng loạt tác phẩm chữ Hán của
Việt Nam được ấn hành với tựa đề Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san
do Trần Khánh Hạo, Trịnh A Tài, Trần Nghĩa chủ biên. Nhà xuất bản chọn
ba bản sau đáng tin cậy nhất được cất giữ tại Việt nghiên cứu Hán Nôm (Hà
Nội). Trong đó, có hai bản ký hiệu A1297, A2312 được sao chép từ thời Tự
Đức, viết theo lối chữ thảo. Bản A2312 chỉ còn 15 tiểu mục, nên chỉ để tham
khảo. So với hai bản kia, bản VHV1466 đầy đủ hơn, được dùng làm bản
chính của tập sách này. Bản này được mô tả như sau:
Ở giữa trang bìa của bản này có đề chữ ”Vũ trung tùy bút quyển thượng”,
chung quanh bìa có đóng khung; tiếp phía dưới bên trái có ghi “Trần Lưu
Thiển phụng sao”; phía trên bên phải đề “Hoàng triều Bảo Đại tân tỵ quý
đông (năm 1941)”. Trang đầu ghi “Vũ trung tùy bút quyển thượng, Hải
Dương, Đan Loan, Phạm Tùng Niên”. Quyển này không có bài tựa. Phần
chính văn khoảng nửa sách có tám hàng, mỗi hàng từ 26 chữ đến 30 chữ
kho6gn đều nhau. Ở trên là thứ tự tên sách, ở giữa là tiêu đề “Cố sự danh”,
bên dưới ghi số trang. Sách này chia ra hai quyển thượng và hạ, không có
mục lục.
Dựa vào những đặc điểm trên, chúng tôi tạm gọi là bản gốc.
So bản dịch của Nguyễn Hữu Tiến với bản gốc, chúng tôi nhận thấy có, một
vài tên người, tên đất đọc theo âm thuần Việt hay những câu thơ chữ Nôm
không được viết chính xác trong bản gốc. Ví dụ trong Tự thuật, bản dịch ghi
rõ: “Lúc bấy giờ, đấng tiên đại phu ta làm Hiến sát tỉnh Nam mới về” (trang
17). Bản gốc là (…) (Tiên đại phu tòng Nam tỉnh hồi = Cha ta từ tỉnh Nam
mới về) (trang 9). Ở đoạn khác bản dịch ghi: “Phía tây xối nước là nhà khách
năm gian (trang 19), bản gốc là (…) (Tây Thừa tiếp lưu = tây Thừa tiếp xối
nước) (trang 10). Trong Phạm Trấn, Đỗ Uông, bản dịch ghi: “Lúc đến cầu
Phú Cốc có thi nhau làm thơ “Cô lan bán hàng cầu Cốc”, còn bản gốc chỉ là
(…) (Chí Phú Cốc kiều đổ thi = đến cầu Phú Cốc làm bài thơ) (trang 93).
Trong Xét về địa mạch và nhân vật, bản dịch ghi là Tô Hiến Thành (trang
47), còn bản gốc là Tô Trung Hiến (trang 26)… Còn có trường hợp như
trong bản gốc, tên đất, tên chức quan, tên người đọc theo âm Hán Việt không
được viết như tên riêng. Ví dụ trong Bàn về âm nhạc, bản dịch ghi “Đến cuối
đời Tống, Ngụy rợ Thị Khương lấn đất Trung Nguyên, thanh âm của Trung
Hoa chỉ còn ở phía Giang Tả (trang 53), nhưng chữ Giang Tả trong bản gốc
chỉ in thường (trang 30). Cũng giống như vậy, trong bản dịch ghi sách Nhạc
chí, Nhạc thư (trang 55), nhưng trong bản gốc kho6gn viết thành tên sách,
chỉ viết thường (trang 30). Trong Hôn lễ, bản dịch ghi: “Đến khi xem tờ
chiếu năm Minh Đức nhà Mạc, mới biết trước là chữ “lan nhai”, sau dùng
lầm thành “lan giai” (trang 67), bản gốc ghi là (…) (Thủy tri lan hoàn cựu vi
lan nhai = mới biết lan hoàn trước là lan nhai) (trang 39). V.v… Cá biệt có
những năm, tháng, nhà xuất bản ghi khác với bản dịch. Ví dụ năm sinh của
Phạm Đình Hổ là 1768, còn bản gốc lại ghi năm 1766. Sau khi tham khảo và
tra cứu lại, chúng tôi theo bản dịch.
So với bản gốc, bản dịch của Nguyễn Hữu Tiến cũng có vài chỗ thiếu và
không chính xác, thường là những đoạn miêu tả, vị trí và địa danh. Ví dụ
trong Cảnh chùa Sơn Tây, bản gốc ghi (…) (Tiền đường tả hữu phụng Chiên
Đàn Phật = phía trái và phải gian tiền đường có thờ Phật Chiên Đàn), nhưng
trong bản dịch không có danh hiệu Phật Chiên Đàn (trang 26). Đôi khi có
chỗ phiên âm không đúng. Trong Thay đổi địa danh, bản gốc viết là (…)
(Lương Giang cải vi Đoan Nguyên = Lương Giang đổi thành Đoan Nguyên)
(trấng). Còn bản dịch là “Lương Giang đổi thành Thụy Nguyên) (trang 31).
Trong Lối chữ viết, bản gốc viết (…) (Thủ pháp Tống nhân, thuyết cụ An
Nam kỷ lược = Theo lối viết của người Tống như đã nói trong sách An Nam
kỷ lược) (trang 20). Còn bản dịch là: “… ở trong sách An Nam kíp lược”
(trang 39). Trong Thay đổi địa danh, bản gốc viết (…) (Nhất minh xưng:
“Đống ngạch phường, Diên Hựu tự chung, Diên Hựu nhị niên chú, tín hoạn
Tống Trân thi kim nhất lượng” = Bài minh viết: “Chuông chùa Diên Hựu ở
phường Đống Ngạch được viết vào năm thứ hai, người tín đồ làn quan tên
Tống Trân cúng một lạng vàng”) (trang 15). Còn bản dịch là “Đông Ngạc
phường, Diên Hỗ tự chung, Diên Hựu nhi niên chú, tín hoạn Tôn Trần thi
kim nhất lạng” (trang 29). Có đoạn dịch còn thiếu sót. Trong Cách uống chè,
bản gốc là (…) (Địa sản lệ chi, Phù Lâu thôn, Quách Lâm khê phả xưng u
thắng = Thổ sản có quả vải ở ngòi Lâm Khê, thôn Phù Lâu, nơi được xem là
tĩnh mịch, đẹp đẽ) (trang 23). Còn bản dịch là: “Thổ sản có thứ vải quả, rau
dưa làng xóm rừng khe, cũng nhiều chỗ tĩnh mịch, đẹp đẽ” (trang 44). Có
chỗ thiếu hẳn một đoạn dài. Trong Điềm quái gở, bản dịch thiếu cả một đoạn
đầu (…) (Tây nhân Nhâm tuất Xuân An sơn thạch thán, hữu hoàng ngưu sản
nam tử, sổ nhật bạo trưởng như thập nhị, tam tuế nhi, hạm hạ xuất tì, thực
bội thường nhân, duy bất năng ngôn hành nhỉ. Hoặc khủng kỳ vi yêu, mật sát
nhi ế chi. Tật dịch đại tác, tài nguyệt dư, ấp nhân tử giả số bách. Hữu cử hộ
chẩm tịch nhi đồng tận giả, nhân đa viễn thoán nhi ty chi vân = Năm Nhâm
Tuất, phía tây núi than đá Xuân An có một con bò sinh ra một đứa con trai,
chỉ mới vài ngày mà lớn bằng trẻ 12, 13 tuổi, lại có râu. Có người sợ cho đó
là yêu quái, lén giết rồi chôn đi. Sau bệnh dịch tràn lan, chỉ mới hơn một
tháng mà dân ấp ấy chết cả trăm người. Người bệnh ngổn ngang ngoài
đường chờ chết. Nhiều người phải dời đi xa để tránh dịch bệnh) (bản gốc
trang 61, bản dịch trang 100). Những chỗ thiếu sót này chúng tôi đã bổ xung
lại cho đầy đủ dựa theo bản gốc, ngoài ra còn giải thích, chú thích thêm một
số từ cho dễ hiểu, tiện việc sử dụng và tra cứu.
ĐÀM ÁNH LOAN
_______
(1) Có người cho rằng ông chính là Chiêu Hổ, người xướng họa văn thơ với
nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Vấn đề này chưa được minh xác.
(2) Trương Chính chú thích là Hải Hưng.
(3) Căn cứ vào bài Chuyện cũ trong phủ chúa và Mấy năm được mùa thì nhà
ông ở phường Hà Khẩu. Nhưng trong bài "Hành tại diện đối" trong Châu
Phong tạp thảo của chính tác giả lại nói ở phường Thái Cực. (Tạp chí Hán
Nôm, số 4. 1996)
TỰ THUẬT
Ta sinh năm Mậu Tý (1768) niên hiệu Cảnh Hưng. Lúc bấy giờ tiên đại phu
ta là Hiến sát tỉnh Hà Nam mới về. Bà tiên cung nhân (1) hoài thai ta, vẫn ăn
uống đi lại như thường, đến bảy tám tháng chưa biết là có thai. Năm ta lên
sáu tuổi, đấng tiên đại phu ta mới thăng làm Tuần phủ Sơn tây, bổng lộc đã
dư dụ, song những cách chơi ấy, đa, hoa, chim ta không để bụng ham mê. Bà
bảo mẫu họ Hoàng thường hỏi ta: “Về sau có muốn làm gì không?” ta nói:
“Làm người con trai phải lập thân hành đạo, đó là phận sự rồi, không phải
nói nữa. Sau này trưởng thành mà được lấy văn thơ nổi tiếng ở đời để cho
người ta biết là con cháu nhà nọ nhà kia, chí tôi chỉ muốn như thế thôi”. Bà
bảo mẫu nghe ta nói thế, lại mách cho đấng Tiên đại phu và bà cung nhân ta
biết, các vị đều ban khen cả. Thấm thoắt hơn hai mươi năm trời mà lời dạy
bảo của cha mẹ vẫn văng vẳng bên tai. Nay đến bước đường cùng lận đận,
còn biết đội gạo vì ai (2) chỉ than thở cùng trời xanh, chứ biết gửi lòng mình
vào đâu!
Đấng tiên đại phu ta trải qua Hiến sát Nam Định, Tuần phủ Sơn tây, trong
trắp vẫn thường có cái mũ với cái khăn, ta thường lúc đùa bỡn cứ hay lấy ra
đội, mà thích nhất là cái mũ trãi quan (3). Dẫu cấm không cho chơi nghịch
cũng không thể được. Có người đem những sách truyện Nôm và những trò
chơi thanh sắc, nghề cờ bạc, rủ rê chơi đùa, thì ta bịt tai lại không muốn
nghe. Ta đã học vỡ được ít kinh sử, thế mà chữ Nôm ta không biết hết, câu
ca, bản đàn thoảng qua ngoài tai rồi lại lờ mờ không hiểu gì cả. Năm Giáp
Thìn (1784) (4) ta mắc bệnh có nguy cơ đến tính mệnh; khỏi dậy, anh trưởng
ta mới dạy ta đánh cờ tướng, ta học đánh vài năm, nhưng hễ đánh với ai là
thua. Năm ngoài hai mươi tuổi, cùng với các bè bạn chơi cờ, lúc bấy giờ mới
hiểu được cái thế công thủ trong cuộc cờ, nhưng lại không muốn để trí vào
nữa. Còn như những trò chơi cờ bạc, phán thán (5) thì ta vốn không thích,
đôi lúc đùa, thử tập chơi, nhưng ít lâu cũng chẳng hiểu cái thuật nó ra như
thế nào. Đó cũng bới tư chất mình, trời cho cũng có phần mờ tối, không thể
cưỡng mà học được các nghề chơi. Có điều, sau khi lưu lạc rồi, lại mắc phải
cái bệnh nghiện chè Tàu. Khay chén thiếu thốn, tiền không đủ mua chè, mà
vận nghiện. Nghiện quá, các thứ chè tùng quyế thơm tho, thứ nào cũng muốn
mua nếm qua cả. Đã nhiều lần muốn chừa cho hẳn mà không chừa được.
Còn nhớ khi bà cung nhân ta hãy còn, người thường lấy những điều cờ bạc
chè rượu làm răn, mà nay ta đã ngoài ba mươi tuổi, bốn đều răn ấy (6) đã
phạm mất ba. Đêm thanh vắng, suy xét, hối hận vô chừng. ta vẫn mong cố
gắng sửa đổi, để khỏi phụ lời tiên huấn.
Ta khi mới lên chín tuổi, đã học sách hán thư, được bốn năm thì đấng tiên
đại phu ta mất. Trong mấy năm cư tang, gối đất nằm rơm, học hành buổi đực
buổi cái, đến khi mãn tang rồi mới thôi không học sử nữa mà học đến kinh.
Các sách cổ, thơ cổ, ta thường ham xem lắm, không lúc nào rời tay. Năm
Nhâm Dần (1792), anh trưởng ta ra đi đua đòi ở chốn kinh đô (Thăng Long),
anh hai ta ra trọ ở đất Hạ Hồng (Ninh Giang), chỉ có ta ở lại nhà để hầu hạ.
Bà cung nhân ta thì ở trong nội tẩm (7), một mình ta ở ngoài trung đường
(8), ngảnh mặt về hướng tây, vốn là chính tẩm (8) của đấng tiên đại phu ta ở
trước. Phía tây xối nước (9) là nhà khách năm gian, trước mặt trông xuống
cái ao vuông. Trong ao thả hồng liên và bạch liên, chung quanh bờ trồng
thanh liễu và cam quít. Cách nhà khách năm sáu bước, lại chắn ngang một
dặng rào trúc, từ phía nam nhà trung đương đến bờ ao phía tây; phía bắc thì
dựng một cái bình phong che khuất đi. Phía đông ao giáp sân nhà khách, có
trồng năm ba cây hoa nhài, hoa hồng, hoa ngâu, hoa mẫu đơn. Trông xa ra
ngoài cánh đồng, cách hàng rào tre, thấp thoáng một cái quán trơ trọi. Mỗi
lần ăn cơm sáng xong, ta ra nhà khách, trong đó chồng chất mấy giá sách,
tùy ý muốn xem quyển nào thì xem. Mặt trời đã xế, trẻ mục đồng đuổi trâu
về qua rào, vừa đi vừa hát, có đứa thì cuốn lá làm kèn mà thổi ti toe, ta đang
ngủ ngày, sực tỉnh dậy, nghe tiếng hát xa, chẳng khác gì tiếng ca thuyền chài
ánh ỏi ở đầu bến Nhược Gia (10). Tối đến, lúc mặt trăng mới mọc, đi tản bộ
quanh bờ ao, ngâm nga mấy câu Đường thi cũng thú, hoặc tựa gốc dừa, cành
hoa phất phơ trước mặt, ngồi bẻ bông tước lá thử chơi. Khi lẩn thẩn trở về
nhà khách thì bóng nguyệt hương hoa vẫn còn phảng phất trên án thư, tràng
kỷ. Ta thức đến gà gáy mới đi ngủ. Cuối mùa đông năm ấy, anh thứ ta từ
phương xa trở về, lại cùng ta sớm tối được non một năm nữa. Nay anh hai ta
đã mất rồi, cảnh gia đình thì tiêu điều, ta thì lưu lạc giang hồ, đoái nhìn non
sông mờ mịt, khôn cầm giọt lệ (11).
_______
(1) Đại phu là cha, cung nhân là mẹ. Thêm chữ “tiên” để chỉ người đã quá
cố.
(2) Theo sách Gia ngữ của Khổng Tử, ngày xưa ông Tử Lộ thuật cuộc đời
mình cho Khổng Tử nghe, có nói: “Ngày ngày tôi phải đi ra ngoài trăm dặm
đội gạo về nuôi mẹ…” Ý nói: phụng thờ.
(3) Trãi quan là thứ mũ của người chấp hành pháp lệnh đội; ở đây là mũ của
thân sinh tác giả khi giữ chức Hiến sát.
(4) Năm này, Phạm Đình Hổ 16 tuổi.
(5) Một lối đánh bạc của người Trung Quốc, giống như lối đánh lú của ta.
(6) Người ta thường răn bốn điều (tứ giới): tửu (rượu), sắc (gái), yên (thuốc
phiện), đổ (đánh bạc) chứ không ai cấm uống chè tàu hoặc cấm đánh cờ. tác
giả đã phạm ba điều là uống rượu, uống chè và đánh cờ, chỉ không đánh bạc.
(7) Nội tẩm: lớp nhà trong.
(8) Trung đường: lớp nhà giữa.
(9) Xối nước: máng nước giữa hai mái nhà.
(10) Nhược Gia là tên một cái ngòi ở phía nam thành Thiệu Hưng, tỉnh Chiết
Giang, Trung Quốc, các bài thơ cổ đều hay nhắc đến. Ở đây tác giả nhớ đến
câu thơ của Lý Bạch trong bài Thái liên khúc (Khúc hát hái sen): Nhược Gia
khê bàng thái liên nữ (Có cô con gái hái sen bên ngòi Nhược Gia).
(11) Những câu nói này chứng tỏ Vũ trung tùy bút được viết sau khi nhà Lê
mất và Tây Sơn lên cầm quyền, Phạm Đình Hổ đi dạy học ở các vùng nông
thôn.
CHUYỆN CŨ TRONG PHỦ CHÚA TRỊNH
Khoảng năm Giáp Ngọ, Ất Mùi (1774 – 1775) trong nước vô sự, Thịnh
Vương (Trịnh Sâm) (1) thích chơi đèn đuốc, thường ngự ở các ly cung bên
Tây hồ, núi Tử Trầm, núi Dũng Thúy. Việc xây dựng đình đài cứ liên miên.
Mỗi tháng ba bốn lần, Vương ra cung Thụy Liên bên bờ Tây hồ, binh lính
dàn hầu vòng quanh bốn mặt hồ, các nội thần thì đều bịt khăn, mặc áo đàn
bà, bày bách hóa chung quanh bờ hồ để bán.
Thuyền ngự đi đến đâu thì các quan hô tụng đại thần tùy ý ghé vào bờ mua
bán các thứ như ở cửa hàng trong chợ. Cũng có lúc cho bọn nhạc công ngồi
trên gác chuông chùa Trấn Quốc, hay dưới bóng cây bến đá nào đó, hòa vài
khúc nhạc.
Buổi ấy, bao nhiêu loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây
cảnh ở chốn dân gian, chúa đều sức thu lấy, không thiếu một thứ gì. Có khi
lấy cả cây đa to, cành lá rườm rà, từ bên bắc chở qua sông đem về. Nó giống
như một cây cổ thụ mọc trên đầu non hốc đá, rễ dài đến vài trượng, phải một
cơ binh mới khiêng nổ, lại bốn người đi kèm, cầm gươm đánh thanh la đốc
thúc quân lính khiêng cho đều tay. Trong phủ, tùy chỗ, điểm xuyến bày vẽ ra
hình núi non bộ trông giống như bến bể đầu non. Mỗi đêm khi đêm thanh
cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót vang khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào
như trận mưa sa gió táp, vỡ tổ tan đàn, kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường.
Bọn hoạn quan cung giám lại thường nhờ gió bẻ măng, ra ngoài dọa dẫm.
Họ dò xem nhà nào có chậu hoa cây cảnh, chim tốt, khướu hay, thì biên ngay
hai chữ “phụng thủ” (2). Đêm đến, các cậu trèo qua tường thành lẻn ra, sai
tay chân đem lính tới lấy phăng đi rồi buộc cho tội đem dấu vật cung phụng
để dọa lấy tiền. Hòn đá hoặc cây cối gì lớn quá, thậm chí phá nhà hủy tường
để đem ra. Các nhà giàu bị họ vu cho là giấu vật cung phụng, thường bỏ của
ra kêu van chí chết, có khi phải đập núi non bộ hoặc phá cây cảnh để tránh
khỏi tai vạ. Nhà ta ở phường Hà Khẩu (3), huyện Thọ Xương, trước nhà tiền
đường cũng trồng hai cây lựu trăng, lựu đỏ, lúc ra quả trông rất đẹp, bà cung
nhân ta sai chặt đi cũng vì cớ ấy.
_______
(1) Còn gọi là Tịnh đô vương, làm Chúa từ năm 1767 đến năm 1782 đời
Cảnh Hưng, Lê Hiển Tông.
(2) Phụng Thủ tức là lấy để dâng chúa.
(3) Phường Hà Khẩu là khu Hàng Buồm, Hà Nội bây giờ.
LỤC HẢI (*)
Kinh thành Thăng Long chia ra 36 phường, mỗi phường đặt một người
phường trưởng. Lại đặt ra phủ Phụng Thiên có quan Phủ doãn, quan Thiếu
doãn kiêm coi cả việc tuần phủ và việc liêm sát, đốc xuất hai huyện Thọ
Xương và Quảng Đức, mỗi huyện có quan Huyện úy cai trị. Toàn thành thì
cử một quan trọng thần sung chức Đề lĩnh tứ thành quân vụ, phân ra chánh
phó hai dinh, chuyên coi việc cấm phòng, xét hỏi. Song đất kinh thành đông
đúc, nhà cửa ở liền nhau, thường có hỏa hoạn, lại nhiều những kẻ đầy tớ nhà
quan, du đãng cờ bạc, gây chuyện đánh nhau, cùng là những kẻ vô lại trộm
cắp, nhiều lắm không thể kể xiết được, chẳng khác gì lục hải khi xưa.
Đời Trịnh An Vương (1), Nguyễn Công Hãng làm thượng thư cầm quyền
chính, mới chia hai huyện ra làm tám khu, mỗi khu đặt một người trưởng
khu và một người phó khu; lại chia ra năm nhà là một tị, hai tị là một lư, mỗi
lư cũng có một lư trưởng, bốn lư là một đoàn, một đoàn đặt một quản giám,
hai quản điểm, dưới quyền người khu trưởng và trực thuộc quan Đề lĩnh. Đó
là phỏng cái ý cổ nhân bảo trợ phù trì lẫn nhau. Phàm những việc phòng hỏa
phò...
Tên sách: Vũ Trung Tùy Bút
Tác giả: Phạm Đình Hổ
Bản dịch: Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến
Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com
Mục lục
LỜI NÓI ĐẦU
LỜI GIỚI THIỆU
TỰ THUẬT
TẢ CHÍ HẦU
CẢNH CHÙA SƠN TÂY
THAY ĐỔI ĐỊA DANH
HOA THẢO
HỌC THUẬT
LỐI CHỮ VIẾT
CÁCH UỐNG CHÈ
XÉT VỀ ĐỊA MẠCH VÀ NHÂN VẬT
ĐÊM RẰM THÁNG TÁM
BÀN VỀ ÂM NHẠC
BÀN VỀ LỄ
LỄ ĐỘI MŨ
HÔN LỄ
THỪA TỰ
LỄ TẾ GIAO
TẠP KÝ
PHONG TỤC
NÓN ĐỘI
ÁO MẶC
NGUYỄN NGHIÊU MINH
ĐƯỜNG SĨ HOẠN
ĐÀN
CÁ VOI
MẤY NĂM ĐƯỢC MÙA
TRỘM CẮP
MẸO LỪA
MỘNG VÀ SỐ
THÁC OAN
KHOA CỬ
CUỘC BÌNH VĂN TRONG NHÀ GIÁM (1)
PHÉP THI NGHIÊM MẬT
ĐIỀM QUÁI GỞ
NGUYỄN KÍNH
VIỆC THI CỬ
Y HỌC TRUNG HOA
XỨ HẢI DƯƠNG
TÊN HUYỆN ĐƯỜNG AN
TÊN LÀNG CHÂU KHÊ
ĐOÀN THƯỢNG
PHẠM TỬ HƯ
PHẠM NGŨ LÃO
PHẠM CƯ SĨ
LÀNG HẠ BÌ
ĐỖ UÔNG
NHỮ CÔNG TUNG
LÝ ĐẠO TÁI
VÕ THÁI PHI
ĐỀN THỜ LÀNG TUẤN KIỆT
CÁI THÓI KIÊNG NGÀY TRÙNG TANG, TRÙNG PHỤC
KHÁCH ĐỂ CỦA
CỔ TÍCH
VIỆC TẾ TỰ
ĐỀN ĐẾ THÍCH
THẦN HỔ
THẦN TRẺ CON
MIẾU BÀ CHÚA NGỰA
ĐỀN THỜ CAO TƯỚNG CÔNG
PHẠM TRẤN, ĐỖ UÔNG
BÙI THẾ VINH
VÕ CÔNG THẠNH
VĂN THỂ
PHÉP THI
THỂ VĂN KINH NGHĨA
THỂ VĂN TỨ LỤC
THỂ THƠ
THỂ VĂN SÁCH
VIỆC TAI DỊ
NHÀ HỌ NGUYỄN Ở TIÊN ĐIỀN
ĐIỀM CÂY ĐA
VIỆC TẾ TỰ
LỄ TANG
LỄ NHÀ MIẾU
THẦN LỄ
BÁI LỄ
QUAN CHỨC
LỄ TANG
TẾ LỄ
BÁI LỄ
TRUYỆN VUA LÊ LỢI
LỄ SÁCH PHONG
CƯ TANG
MỘ CHÍ
TRỢ TẾ
THẦN HỒ ĐỘNG ĐÌNH
THAY ĐỔI
LỜI NÓI ĐẦU
Nước ta hiện nay đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mở
cửa tiếp xúc rộng rãi với thế giới. Phải có bản lĩnh tiếp thu tinh hoa văn hóa
của thế giới để làm phong phú cho nền văn hóa của dân tộc mình. Nhưng
muốn thế nhất thiết phải củng cố cái gốc của văn hóa dân tộc, bồi dưỡng tinh
hoa văn hóa dân tộc cho các thế hệ, nhất là thế hệ trẻ để cho họ ý thức được
những giá trị tinh thần đẹp đẽ của dân tộc mình, như vậy khi tiếp xúc với nền
văn hóa các nước, họ biết chủ động tiếp thu những cái hay, cái đẹp của
người, và dị ứng lại với những cái xấu, cái độc hại. Xuất phát từ nhận thức
này, Hội nghiên cứu và Giảng dạy Văn học Thành phố Hồ Chí Minh quyết
định tổ chức biên soạn tử sách VĂN HỌC VIỆT NAM, NHỮNG TÁC
PHẨM TIÊU BIỂU.
Tủ sách sẽ cung cấp cho đông đảo bạn đọc, trước hết là bạn đọc trẻ, cho
thanh niên, học sinh, sinh viên ở các trường phổ thông và đại học những tác
phẩm ưu tú của văn học dân tộc, từ văn học dân gian đến văn học viết, từ
văn học cổ đến văn học cận, hiện đại... Thông qua tủ sách này bạn đọc sẽ
cảm nhận được vẻ đẹp của tâm hồn con người Việt Nam, sức sống và cá tính
của dân tộc Việt Nam, cùng với cái hay, cái đẹp của tiếng Việt và văn
chương Việt Nam.
Để phản ánh cho đúng những thành tựu của văn học dân tộc, trong tủ sách có
tập là một tác phẩm được in trọn vẹn, có tập là tuyển của một tác giả, hoặc
một phong trào, một thể loại...
Chúng tôi cố gắng cung cấp cho bạn đọc những văn bản được in lần đầu tiên
đối với bộ phận văn học quốc ngữ, còn những văn bản thuộc phạm vi văn
học Hán Nôm thì ngoài việc in bản dịch, hoặc bản phiên âm chúng tôi cho in
kèm theo văn bản chữ Hán hoặc chữ Nôm để cho các bạn có thể đối chiếu
khi cần thiết.
Xin trân trọng giới thiệu tủ sách với đông đảo bạn đọc.
GS. Hoàng Như Mai
Chủ tịch Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học
Thành phố Hồ Chí Minh
LỜI GIỚI THIỆU
Một trong những tác giả nổi tiếng về thể loại truyện ký ở nước ta nửa cuối
thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 là Phạm Đình Hổ. Ông trước tác khá nhiều, trong đó,
Vũ trung tùy bút là bức tranh toàn cảnh sinh động về xã hội đời Lê-Trịnh, là
tài liệu tốt cho những ai muốn nghiên cứu, tìm hiểu phong tục, tập quán, sinh
hoạt của con người thời này.
Phạm Đình Hổ sinh năm 1768, tự Tùng Niên và Bỉnh Trực, hiệu là Đông Dã
Tiều, còn có biệt hiệu là Hy Kiều Phủ, người đời thường gọi là Cụ Tế Đan
Loan (1). Ông quê ở xã Đan Loan, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng,
trấn Hải Dương, nay là thôn Đan Loan, xã Nhân Quyền, huyện Cẩm Bình,
tỉnh Hải Dương (2). Nhà ở phường Hà Khẩu (3), huyện Thọ Xương, phủ
Hoài Đức, thuộc thành Thăng Long (nay thuộc khu vực phường Hàng Buồm,
quận Hoàn Kiếm, Hà Nội).
Ông xuất thân từ gia đình khoa bảng. Cha đậu cử nhân làm chức Hiến sát
dưới triều Lê Cảnh Hưng (1740), nhưng mất sớm lúc ông mới 10 tuổi, gia
đình trở nên túng bấn. Anh trưởng, anh thứ của ông đều yểu mệnh. Vợ ông
chết sớm liền sau cái chết của con trai lớn, để lại đứa con sau ốm yếu. Mặc
dù chịu nhiều đau thương, bản thân lắm bệnh tật, ông cũng cố gắng đeo đuổi
nghiệp khoa cử. Cuối đời Lê Cảnh Hưng, ông từng theo học ở trường Quốc
Tử Giám. Năm Bính Ngọ (1786) ông chưa kịp đi thi thì nhà Lê mất (1789).
Mãi đến khi Gia Long lên ngôi, mở các khoa thi, ông đi thi nhiều lần nhưng
chỉ đậu đến tú tài. Sau bị bệnh, không thể tiếp tục nghiệp khoa cử được, ông
dành thì giờ viết sách. Ông am tường và nghiên cứu rất nhiều lĩnh vực. Vừa
chuyên chí học hành, vừa trước tác, ông có nhiều công trình sưu tầm, nghiên
cứu có giá trị. Nhờ vậy, năm Minh Mệnh thứ nhất (1820), ông được vua vời
vào triều cho nhậm chức Hành tẩu bộ Hộ, rồi được bổ vào chức hàn lâm viện
hành tẩu. Chẳng bao lâu, ông xin từ chức về nhà. Năm Minh Mệnh thứ bảy
(1826), ông lại được triệu về triều làm chức Hàn lâm viện thừa chỉ kiêm
Quốc tử giám tế tửu. Được vài năm ông cáo bệnh về quê, lại được vua triệu
và ban chức Thị giảng học sĩ. Năm 1839, ông mất, thọ 71 tuổi. Trong suốt
quãng đời mình, ông sống cuộc sống nhà nghiên cứu, nhà văn nhiều hơn làm
quan. Ông để lại nhiều tác phẩm với khá nhiều thể loại.
Về sưu tầm, nghiên cứu, ông có: Lê triều hội điển, Bang giao điển lệ, Cảnh
Hưng tân ty sách phong sứ quán thư giản chư tập, An Nam chí, Ô châu lục,
Ai Lao sứ trình, Đại Man quốc địa đồ, Càn khôn nhất lãm, Hi kinh trắc lãi,
Khánh An Đan Loan Phạm gia thế phổ, Đan Loan Phạm thị chi hệ thế phổ...
Về sáng tác, ông có: Vũ trung tùy bút, Nhật dụng thường đàm, Đông Dã học
ngôn thi tập, Bạn tiếp tồn phụng, Tang thương ngẫu lục (viết chung với
Nguyễn Án)...
Một trong những đặc điểm của nền văn học chữ Hán nước ta từ thế kỷ 18 –
đầu thế kỳ 19 là sự phát triển của thể ký. Ở thể loại này, người viết ghi lại
những điều tai nghe, mắt thấy bằng nghệ thuật mô tả sinh động… Ngoài
những nguyên nhân khách quan của văn học, yêu cầu phát triển thể loại ký
(chủ yếu là tạp ký và ký sự), hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ cũng là động cơ
quan trọng thôi thúc những người có lòng yêu nước, thương dân sáng tác.
Phạm Đình Hổ là một điển hình. Dù phải sống trong gia cảnh nghèo túng,
đau thương, nhưng từ nhỏ ông đã xác định mục đích của kẻ làm trai là: “Lập
thân hành đạo”. Hơn nữa, trong thời đại ông sống, luân thường đạo lý bị coi
thường, trật tự xã hội bị đảo lộn, biết bao cảnh ngang trái xảy ra từ vua chúa
đến quan lại… Bị áp lực của kẻ cầm quyền, những quan hệ trong xã hội đều
nghiệt ngã…
Vũ trung tùy bút (Tùy bút viết trong những ngày mưa) của Phạm Đình Hổ ra
đời trong hoàn cảnh ấy. Tập trung trong 91 đề mục, tác giả ghi lại những
điều tai nghe, mắt thấy trong thực tế hàng ngày, không theo một trật tự nào.
Bằng thủ pháp mô tả rất sinh động, tỉ mỉ, chân thành, bằng tấm lòng của một
người ưu thời mẫn thế, Phạm Đình Hổ đã vẽ lại thật sống động lối sống sa
đọa của bọn vua chúa, nạn hà hiếp dân lành của bọn quan lại, cảnh khốn
cùng của dân chúng, cảnh gian lận hay thành kiến nặng nề trong thi cử đến
những tục lệ của người dân… Mặc dù còn hạn chế ở một số điểm, nhưng Vũ
trung tùy bút mang một giá trị nhất định về mặt sử học, văn hóa và xã hội
học, là tài liệu đáng giá cho những ai muốn nghiên cứu xã hội nước ta cuối
đời Lê.
Thực vậy, dưới ngòi bút của ông, việc phản ánh trung thành bộ mặt xã hội
đương thời, nhất là thói ăn chơi xa hoa, trụy lạc của bọn vua chúa được nói
đến trước tiên. Sinh ra trong gia đình nhà nho, bản thân từng làm quan phục
vụ triều đình, nhưng Phạm Đình Hổ không khỏi bất mãn trước lối sống trái
đạo của bọn thống trị, trước thái độ coi dân như cỏ rác. Ông kể việc “Trịnh
Sâm thích chơi đèn đuốc, thường ngự ở các ly cung bên Tây hồ, núi Tử
Trầm, núi Dũng Thúy. Việc xây dựng đình đài cứ liên miên. Mỗi tháng ba
bốn lần, Vương ra cung Thụy Liên trên bờ Tây hồ, binh lính dàn hầu vòng
quanh bốn mặt hồ, các nội thần thì đều bịt khăn, mặc áo đàn bà, bày bách
hóa chung quanh bờ hồ để bán (…). Buổi ấy, bao nhiêu loài trân cầm dị thú,
cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian, chúa đều sức thu lấy,
không thiếu một thứ gì (…). Bọn hoạn quan cung cấm lại thường nhờ gió bẻ
măng, ra ngoài dọ dẫm. Họ dò xem nhà nào có chậu hoa cây cảnh, chim tốt,
khướu hay, thì biên ngay chữ “phụng thủ”. Đêm đến, các cậu trèo qua tường
thành lẻn ra, sai tay chân đem lính tới lấy phăng đi rồi buộc cho tội đem dấu
vật cung phụng để dọa lấy tiến” (Chuyện cũ trong phủ chúa). Bọn quan lại
tại chức cũng ăn chơi và dung dưỡng cho con cháu chúng làn càn. Nguyễn
Khản làm quan chức Tri phiên liêu khiêm Quản nhất hùng cơ, tước Kiều
nhạc hầu mê hát xướng, lúc tang cha mà không lúc nào trong nhà bỏ tiếng tơ,
tiếng trúc, gặp lúc con hát đang có tang cũng bắt hát suốt ngày. Bọn con
cháu đều bắt chước chơi bời thành quen (Nhà họ Nguyễn ở Tiên Điền).
Ở đất kinh thành mà nhan nhản “những kẻ đầy tớ nhà quan, du đãng cờ bạc,
gây chuyện đánh nhau, cãi nhau, cùng là những kẻ vô lại trộm cắp, nhiều
lắm không kể xiết được” (Lục hải). Những kẻ cáo quan về hưu cũng không
quên thói gian tham, chuyên làm đơn từ xui kẻ kiện cáo, gây thói điêu ngoa
(Áo mặc).
“Phụ mẫu” của dân đã thế thì người dân tránh sao được cảnh đời gian nan,
cơ cực. Cuộc sống vốn khó khăn, người dân còn bị tròng lên cổ những tệ nạn
phục dịch cho quan. Kẻ nào đỗ khoa Đông các khi vinh quy dân bản tổng
phải đến phục dịch. “Còn đến như làm nhà tư thất, phục dịch việc gì cũng đổ
lên đầu dân cả thì dân làng tổng làm sao chịu được” (Việc thi cử). “Bà Võ
Thái phí theo hầu chúa Trịnh là Hi tổ Nhân vương (Trịnh Cương) dung
dưỡng cho bọn con cháu họ hàng làm càn, bắt dân đi phu, lấy đá làm từ
đường” (Võ Thái phi). Không chịu được sự bóc lột hà khắc, nhân dân vùng
ấy nổi lên đốt phá nhà từ đường, chống lại triều đình. Sống thời nhiễu loạn,
“người dân còn sống sót phải đi bóc vỏ cây, bắt chuột đồng mà ăn. Mỗi một
mẫu ruộng chỉ bán được một cái bánh nướng”, có người bị chết đói. Thê
thảm nhất là có nơi người ta làm cả thịt người! (Võ Thái phi).
Trong hoàn cảnh đen tối ấy, những sĩ tử nào ôm mộng thi đỗ làm quan để
cứu khổ cho dân, thì thật là hiếm hoi. Bởi vì “Những kẻ chỉ học lỏm được
mấy câu mép, nào có quan thiết gì đến đạo tu, tề, trị, bình, thế mà đã ngang
nhiên tự đắc” (Học thuật). Mục đích của họ chỉ đủ “để vinh thân phì da và
làm cho họ hàng được nhờ mà thôi, chứ có ích chúa lợi dân gì cho người đời
nhờ cậy đâu! Huống chi học thuật đã bất chính, đến khi ứng dụng ra đời thì
chỉ làm hại cho thiên hạ, đáng để cho người ta trách mắng”.
Nhưng để được đề danh bảng hổ cũng còn là vấn đề vô cùng khó khăn. Bởi
việc thi cử trong giai đoạn này không còn được triều đình xem trọng. Tình
trạng những kẻ quyền thế gian lận, đút lót quan chấm thi, gửi gắm con em để
được thi đỗ rất phổ biến (Khoa cử). Do chính thể ngày càng đồi bại nên hiện
tượng thi giúp, làm bài sẵn, tìm cách biết đề trước ngày càng nhiều. Tệ hại
nhất là thành kiến nặng nề của các quan giám khảo đối với những bài nào có
“khẩu khí của Ngô Thì Sĩ” vì họ ganh ghét tài hay chữ nổi tiếng của ông và
“sẵn sàng bới móc, đánh hỏng đi”.
Những hiện tượng tiêu cực còn xảy ra do những hạn chế của chế độ thi cử
đương thời. Có kẻ vinh quy “chỉ dòm lấy con gái nhà giàu mà bỏ vợ tao
khang; hoặc cịu tiếng luồn lỏi đi vay lãi mà ký liều văn khế nên đã có cái
tiếng ông Nghè đeo nợ, bà Nghè mua chồng không kể xiết được” (Việc thi
cử). Có kẻ mê danh đem con gái cho phường lừa đảo mà cứ tưởng là quan
trạng, quan thám tương lai, chừng biết ra mình bị lừa thì ngỡ ngàng, đau đớn
(Mẹo lừa).
Tác giả cũng hết sức phản đối những đồi phong bại tục còn tồn tại trong
cuộc sống người dân. Là một nhà nho chính thống, nên những suy nghĩ của
ông dực trên những chuẩn mực của thời đại phong kiến, của tư tưởng nho
giáo cổ xưa để đánh giá, phê phán những hiện tượng sai lệch đương thời.
Ông tỏ thái độ bất mãn trước những thủ tục vô lý, bất nhân trong các lễ cưới,
lễ tang. Do sĩ diện mà chủ nhân tổ chức linh đình để sau đó phải bán cả
ruộng nương, mang đeo nợ nần. Tục lệ này lâu dần thành lệ làng, người dân
bị hạch sách phải thực hiện hủ tục khi có lễ tang, ngày kỵ hay lễ cưới. Ông
cũng kịch liệt phản đối chuyện dân làng mê tín thờ cả hổ, trẻ con và mụ đàn
bà dâm ô làm thần…
Sự đi xuống của phong tục do nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những
nguyên nhân quan trọng là do vua chúa quan lại không làm gương tốt cho
dân. Chính vua chúa quan lại cùng họ hàng ngoại thích ngang nhiên biến đổi
cho lệch lạc những nền nếp tốt đẹp có sẵn từ bao đời. Từ nếp ăn, nếp mặc
đến cách cư xử, giao tế lễ độ… đều bị bóp méo mỗi ngày một khác. “Nếu có
người không chịu thay đổi, thì lại hùa nhau chê cười, thậm chí muốn hãm hại
và xô đổ đi” (Phong tục).
Do nền tảng xã hội bị băng hoại nên quan hệ giữa con người cũng suy đồi:
kẻ dưới xem thường người trên, kẻ vô lại lấy vợ, lấy luôn cả con gái của vợ
(Tệ tục)…
Tuy nhiên, nỗi đắng cay, bất mãn với cảnh đời đầy nhiễu nhương lức bấy giờ
cũng không làm Phạm Đình Hổ quên đi niềm thú vị của lối trồng hoa, cách
uống chè nhà nghề, hay sự thưởng thức văn học nghệ thuật qua những buổi
bình văn thơ trong nhà giám… Những đoạn miêu tả tỉ mỉ, thú vị ấy gây cho
người đọc một cảm giác thích thú về những kiểu cách sinh hoạt mang đậm
tính văn hóa của người xưa. Tác giả không chỉ đưa chúng ta đến những cảnh
đẹp thiên nhiên, thưởng lãm những danh thắng của đất nước, mà còn cho
biết ngọn nguồn, lịch sử của những nơi ấy. Mỗi nét bút ghi lại thắng cảnh
hay nét đặc thù của một số địa phương đều thắm đượm lòng tự hào dân tộc,
tự hào về một đất nước ngàn năm văn hiến, trước những con người tài giỏi
được hun đúc từ tinh hoa của tổ quốc. Ông tự hào đặt đất nước mình ngang
tầm với nước lớn Trung Hoa với niềm tự hào của người con nước Việt.
Nhìn chung, qua Vũ trung tùy bút, người đọc nhất là những ai muốn nghiên
cứu văn hóa, văn học, lịch sử, địa lý, phong tục Việt Nam giai đoạn cuối đời
Lê sẽ thu thập được những điều bổ ích và thú vị, đặc biệt những điều mà
trong lích sử không thấy ghi chép, sẽ gây cho người đọc sự ngạc nhiên, thích
thú. Vũ trung tùy bút mang một văn phong sinh động, rõ ràng, tự nhiên, chi
tiết tỉ mỉ, cụ thể tạo thành một lối văn như lối ghi chép nhật ký hay sổ tay, có
sức hấp dẫn nhất định khó quên.
Lần đầu tiên, Vũ trung tùy bút được Nguyễn Hữu Tiến dịch ra tiếng Việt.
Cho đến nay, bản dịch này được xem là tốt nhất. Nguyễn Hữu Tiến biệt hiệu
Đông Châu, một học giả nghiên cứu lịch sử và văn học dân tộc có uy tín.
Bản dịch này đã được đăng trên tạp chí Nam Phong số 121 tháng 9 năm
1927. Sau đó, Vũ trung tùy bút đước nhà xuất bản Văn học – Hà Nội tái bản
hai lần nữa (lần thứ nhất, năm 1960, Hoàng Hữu Yên giới thiệu, lần thứ hai,
năm 1972, Trương Chính giới thiệu và chú thích). Trong lần hiệu đính bản
dịch này, chúng tôi dùng Vũ trung tùy bút bản chữ Hán do Pháp quốc Viễn
đông Học viện xuất bản, Đài loan học sinh thư cục ấn hành. Trong đó, Vũ
trung tùy bút là tập hai, sách thứ năm trong hàng loạt tác phẩm chữ Hán của
Việt Nam được ấn hành với tựa đề Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san
do Trần Khánh Hạo, Trịnh A Tài, Trần Nghĩa chủ biên. Nhà xuất bản chọn
ba bản sau đáng tin cậy nhất được cất giữ tại Việt nghiên cứu Hán Nôm (Hà
Nội). Trong đó, có hai bản ký hiệu A1297, A2312 được sao chép từ thời Tự
Đức, viết theo lối chữ thảo. Bản A2312 chỉ còn 15 tiểu mục, nên chỉ để tham
khảo. So với hai bản kia, bản VHV1466 đầy đủ hơn, được dùng làm bản
chính của tập sách này. Bản này được mô tả như sau:
Ở giữa trang bìa của bản này có đề chữ ”Vũ trung tùy bút quyển thượng”,
chung quanh bìa có đóng khung; tiếp phía dưới bên trái có ghi “Trần Lưu
Thiển phụng sao”; phía trên bên phải đề “Hoàng triều Bảo Đại tân tỵ quý
đông (năm 1941)”. Trang đầu ghi “Vũ trung tùy bút quyển thượng, Hải
Dương, Đan Loan, Phạm Tùng Niên”. Quyển này không có bài tựa. Phần
chính văn khoảng nửa sách có tám hàng, mỗi hàng từ 26 chữ đến 30 chữ
kho6gn đều nhau. Ở trên là thứ tự tên sách, ở giữa là tiêu đề “Cố sự danh”,
bên dưới ghi số trang. Sách này chia ra hai quyển thượng và hạ, không có
mục lục.
Dựa vào những đặc điểm trên, chúng tôi tạm gọi là bản gốc.
So bản dịch của Nguyễn Hữu Tiến với bản gốc, chúng tôi nhận thấy có, một
vài tên người, tên đất đọc theo âm thuần Việt hay những câu thơ chữ Nôm
không được viết chính xác trong bản gốc. Ví dụ trong Tự thuật, bản dịch ghi
rõ: “Lúc bấy giờ, đấng tiên đại phu ta làm Hiến sát tỉnh Nam mới về” (trang
17). Bản gốc là (…) (Tiên đại phu tòng Nam tỉnh hồi = Cha ta từ tỉnh Nam
mới về) (trang 9). Ở đoạn khác bản dịch ghi: “Phía tây xối nước là nhà khách
năm gian (trang 19), bản gốc là (…) (Tây Thừa tiếp lưu = tây Thừa tiếp xối
nước) (trang 10). Trong Phạm Trấn, Đỗ Uông, bản dịch ghi: “Lúc đến cầu
Phú Cốc có thi nhau làm thơ “Cô lan bán hàng cầu Cốc”, còn bản gốc chỉ là
(…) (Chí Phú Cốc kiều đổ thi = đến cầu Phú Cốc làm bài thơ) (trang 93).
Trong Xét về địa mạch và nhân vật, bản dịch ghi là Tô Hiến Thành (trang
47), còn bản gốc là Tô Trung Hiến (trang 26)… Còn có trường hợp như
trong bản gốc, tên đất, tên chức quan, tên người đọc theo âm Hán Việt không
được viết như tên riêng. Ví dụ trong Bàn về âm nhạc, bản dịch ghi “Đến cuối
đời Tống, Ngụy rợ Thị Khương lấn đất Trung Nguyên, thanh âm của Trung
Hoa chỉ còn ở phía Giang Tả (trang 53), nhưng chữ Giang Tả trong bản gốc
chỉ in thường (trang 30). Cũng giống như vậy, trong bản dịch ghi sách Nhạc
chí, Nhạc thư (trang 55), nhưng trong bản gốc kho6gn viết thành tên sách,
chỉ viết thường (trang 30). Trong Hôn lễ, bản dịch ghi: “Đến khi xem tờ
chiếu năm Minh Đức nhà Mạc, mới biết trước là chữ “lan nhai”, sau dùng
lầm thành “lan giai” (trang 67), bản gốc ghi là (…) (Thủy tri lan hoàn cựu vi
lan nhai = mới biết lan hoàn trước là lan nhai) (trang 39). V.v… Cá biệt có
những năm, tháng, nhà xuất bản ghi khác với bản dịch. Ví dụ năm sinh của
Phạm Đình Hổ là 1768, còn bản gốc lại ghi năm 1766. Sau khi tham khảo và
tra cứu lại, chúng tôi theo bản dịch.
So với bản gốc, bản dịch của Nguyễn Hữu Tiến cũng có vài chỗ thiếu và
không chính xác, thường là những đoạn miêu tả, vị trí và địa danh. Ví dụ
trong Cảnh chùa Sơn Tây, bản gốc ghi (…) (Tiền đường tả hữu phụng Chiên
Đàn Phật = phía trái và phải gian tiền đường có thờ Phật Chiên Đàn), nhưng
trong bản dịch không có danh hiệu Phật Chiên Đàn (trang 26). Đôi khi có
chỗ phiên âm không đúng. Trong Thay đổi địa danh, bản gốc viết là (…)
(Lương Giang cải vi Đoan Nguyên = Lương Giang đổi thành Đoan Nguyên)
(trấng). Còn bản dịch là “Lương Giang đổi thành Thụy Nguyên) (trang 31).
Trong Lối chữ viết, bản gốc viết (…) (Thủ pháp Tống nhân, thuyết cụ An
Nam kỷ lược = Theo lối viết của người Tống như đã nói trong sách An Nam
kỷ lược) (trang 20). Còn bản dịch là: “… ở trong sách An Nam kíp lược”
(trang 39). Trong Thay đổi địa danh, bản gốc viết (…) (Nhất minh xưng:
“Đống ngạch phường, Diên Hựu tự chung, Diên Hựu nhị niên chú, tín hoạn
Tống Trân thi kim nhất lượng” = Bài minh viết: “Chuông chùa Diên Hựu ở
phường Đống Ngạch được viết vào năm thứ hai, người tín đồ làn quan tên
Tống Trân cúng một lạng vàng”) (trang 15). Còn bản dịch là “Đông Ngạc
phường, Diên Hỗ tự chung, Diên Hựu nhi niên chú, tín hoạn Tôn Trần thi
kim nhất lạng” (trang 29). Có đoạn dịch còn thiếu sót. Trong Cách uống chè,
bản gốc là (…) (Địa sản lệ chi, Phù Lâu thôn, Quách Lâm khê phả xưng u
thắng = Thổ sản có quả vải ở ngòi Lâm Khê, thôn Phù Lâu, nơi được xem là
tĩnh mịch, đẹp đẽ) (trang 23). Còn bản dịch là: “Thổ sản có thứ vải quả, rau
dưa làng xóm rừng khe, cũng nhiều chỗ tĩnh mịch, đẹp đẽ” (trang 44). Có
chỗ thiếu hẳn một đoạn dài. Trong Điềm quái gở, bản dịch thiếu cả một đoạn
đầu (…) (Tây nhân Nhâm tuất Xuân An sơn thạch thán, hữu hoàng ngưu sản
nam tử, sổ nhật bạo trưởng như thập nhị, tam tuế nhi, hạm hạ xuất tì, thực
bội thường nhân, duy bất năng ngôn hành nhỉ. Hoặc khủng kỳ vi yêu, mật sát
nhi ế chi. Tật dịch đại tác, tài nguyệt dư, ấp nhân tử giả số bách. Hữu cử hộ
chẩm tịch nhi đồng tận giả, nhân đa viễn thoán nhi ty chi vân = Năm Nhâm
Tuất, phía tây núi than đá Xuân An có một con bò sinh ra một đứa con trai,
chỉ mới vài ngày mà lớn bằng trẻ 12, 13 tuổi, lại có râu. Có người sợ cho đó
là yêu quái, lén giết rồi chôn đi. Sau bệnh dịch tràn lan, chỉ mới hơn một
tháng mà dân ấp ấy chết cả trăm người. Người bệnh ngổn ngang ngoài
đường chờ chết. Nhiều người phải dời đi xa để tránh dịch bệnh) (bản gốc
trang 61, bản dịch trang 100). Những chỗ thiếu sót này chúng tôi đã bổ xung
lại cho đầy đủ dựa theo bản gốc, ngoài ra còn giải thích, chú thích thêm một
số từ cho dễ hiểu, tiện việc sử dụng và tra cứu.
ĐÀM ÁNH LOAN
_______
(1) Có người cho rằng ông chính là Chiêu Hổ, người xướng họa văn thơ với
nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Vấn đề này chưa được minh xác.
(2) Trương Chính chú thích là Hải Hưng.
(3) Căn cứ vào bài Chuyện cũ trong phủ chúa và Mấy năm được mùa thì nhà
ông ở phường Hà Khẩu. Nhưng trong bài "Hành tại diện đối" trong Châu
Phong tạp thảo của chính tác giả lại nói ở phường Thái Cực. (Tạp chí Hán
Nôm, số 4. 1996)
TỰ THUẬT
Ta sinh năm Mậu Tý (1768) niên hiệu Cảnh Hưng. Lúc bấy giờ tiên đại phu
ta là Hiến sát tỉnh Hà Nam mới về. Bà tiên cung nhân (1) hoài thai ta, vẫn ăn
uống đi lại như thường, đến bảy tám tháng chưa biết là có thai. Năm ta lên
sáu tuổi, đấng tiên đại phu ta mới thăng làm Tuần phủ Sơn tây, bổng lộc đã
dư dụ, song những cách chơi ấy, đa, hoa, chim ta không để bụng ham mê. Bà
bảo mẫu họ Hoàng thường hỏi ta: “Về sau có muốn làm gì không?” ta nói:
“Làm người con trai phải lập thân hành đạo, đó là phận sự rồi, không phải
nói nữa. Sau này trưởng thành mà được lấy văn thơ nổi tiếng ở đời để cho
người ta biết là con cháu nhà nọ nhà kia, chí tôi chỉ muốn như thế thôi”. Bà
bảo mẫu nghe ta nói thế, lại mách cho đấng Tiên đại phu và bà cung nhân ta
biết, các vị đều ban khen cả. Thấm thoắt hơn hai mươi năm trời mà lời dạy
bảo của cha mẹ vẫn văng vẳng bên tai. Nay đến bước đường cùng lận đận,
còn biết đội gạo vì ai (2) chỉ than thở cùng trời xanh, chứ biết gửi lòng mình
vào đâu!
Đấng tiên đại phu ta trải qua Hiến sát Nam Định, Tuần phủ Sơn tây, trong
trắp vẫn thường có cái mũ với cái khăn, ta thường lúc đùa bỡn cứ hay lấy ra
đội, mà thích nhất là cái mũ trãi quan (3). Dẫu cấm không cho chơi nghịch
cũng không thể được. Có người đem những sách truyện Nôm và những trò
chơi thanh sắc, nghề cờ bạc, rủ rê chơi đùa, thì ta bịt tai lại không muốn
nghe. Ta đã học vỡ được ít kinh sử, thế mà chữ Nôm ta không biết hết, câu
ca, bản đàn thoảng qua ngoài tai rồi lại lờ mờ không hiểu gì cả. Năm Giáp
Thìn (1784) (4) ta mắc bệnh có nguy cơ đến tính mệnh; khỏi dậy, anh trưởng
ta mới dạy ta đánh cờ tướng, ta học đánh vài năm, nhưng hễ đánh với ai là
thua. Năm ngoài hai mươi tuổi, cùng với các bè bạn chơi cờ, lúc bấy giờ mới
hiểu được cái thế công thủ trong cuộc cờ, nhưng lại không muốn để trí vào
nữa. Còn như những trò chơi cờ bạc, phán thán (5) thì ta vốn không thích,
đôi lúc đùa, thử tập chơi, nhưng ít lâu cũng chẳng hiểu cái thuật nó ra như
thế nào. Đó cũng bới tư chất mình, trời cho cũng có phần mờ tối, không thể
cưỡng mà học được các nghề chơi. Có điều, sau khi lưu lạc rồi, lại mắc phải
cái bệnh nghiện chè Tàu. Khay chén thiếu thốn, tiền không đủ mua chè, mà
vận nghiện. Nghiện quá, các thứ chè tùng quyế thơm tho, thứ nào cũng muốn
mua nếm qua cả. Đã nhiều lần muốn chừa cho hẳn mà không chừa được.
Còn nhớ khi bà cung nhân ta hãy còn, người thường lấy những điều cờ bạc
chè rượu làm răn, mà nay ta đã ngoài ba mươi tuổi, bốn đều răn ấy (6) đã
phạm mất ba. Đêm thanh vắng, suy xét, hối hận vô chừng. ta vẫn mong cố
gắng sửa đổi, để khỏi phụ lời tiên huấn.
Ta khi mới lên chín tuổi, đã học sách hán thư, được bốn năm thì đấng tiên
đại phu ta mất. Trong mấy năm cư tang, gối đất nằm rơm, học hành buổi đực
buổi cái, đến khi mãn tang rồi mới thôi không học sử nữa mà học đến kinh.
Các sách cổ, thơ cổ, ta thường ham xem lắm, không lúc nào rời tay. Năm
Nhâm Dần (1792), anh trưởng ta ra đi đua đòi ở chốn kinh đô (Thăng Long),
anh hai ta ra trọ ở đất Hạ Hồng (Ninh Giang), chỉ có ta ở lại nhà để hầu hạ.
Bà cung nhân ta thì ở trong nội tẩm (7), một mình ta ở ngoài trung đường
(8), ngảnh mặt về hướng tây, vốn là chính tẩm (8) của đấng tiên đại phu ta ở
trước. Phía tây xối nước (9) là nhà khách năm gian, trước mặt trông xuống
cái ao vuông. Trong ao thả hồng liên và bạch liên, chung quanh bờ trồng
thanh liễu và cam quít. Cách nhà khách năm sáu bước, lại chắn ngang một
dặng rào trúc, từ phía nam nhà trung đương đến bờ ao phía tây; phía bắc thì
dựng một cái bình phong che khuất đi. Phía đông ao giáp sân nhà khách, có
trồng năm ba cây hoa nhài, hoa hồng, hoa ngâu, hoa mẫu đơn. Trông xa ra
ngoài cánh đồng, cách hàng rào tre, thấp thoáng một cái quán trơ trọi. Mỗi
lần ăn cơm sáng xong, ta ra nhà khách, trong đó chồng chất mấy giá sách,
tùy ý muốn xem quyển nào thì xem. Mặt trời đã xế, trẻ mục đồng đuổi trâu
về qua rào, vừa đi vừa hát, có đứa thì cuốn lá làm kèn mà thổi ti toe, ta đang
ngủ ngày, sực tỉnh dậy, nghe tiếng hát xa, chẳng khác gì tiếng ca thuyền chài
ánh ỏi ở đầu bến Nhược Gia (10). Tối đến, lúc mặt trăng mới mọc, đi tản bộ
quanh bờ ao, ngâm nga mấy câu Đường thi cũng thú, hoặc tựa gốc dừa, cành
hoa phất phơ trước mặt, ngồi bẻ bông tước lá thử chơi. Khi lẩn thẩn trở về
nhà khách thì bóng nguyệt hương hoa vẫn còn phảng phất trên án thư, tràng
kỷ. Ta thức đến gà gáy mới đi ngủ. Cuối mùa đông năm ấy, anh thứ ta từ
phương xa trở về, lại cùng ta sớm tối được non một năm nữa. Nay anh hai ta
đã mất rồi, cảnh gia đình thì tiêu điều, ta thì lưu lạc giang hồ, đoái nhìn non
sông mờ mịt, khôn cầm giọt lệ (11).
_______
(1) Đại phu là cha, cung nhân là mẹ. Thêm chữ “tiên” để chỉ người đã quá
cố.
(2) Theo sách Gia ngữ của Khổng Tử, ngày xưa ông Tử Lộ thuật cuộc đời
mình cho Khổng Tử nghe, có nói: “Ngày ngày tôi phải đi ra ngoài trăm dặm
đội gạo về nuôi mẹ…” Ý nói: phụng thờ.
(3) Trãi quan là thứ mũ của người chấp hành pháp lệnh đội; ở đây là mũ của
thân sinh tác giả khi giữ chức Hiến sát.
(4) Năm này, Phạm Đình Hổ 16 tuổi.
(5) Một lối đánh bạc của người Trung Quốc, giống như lối đánh lú của ta.
(6) Người ta thường răn bốn điều (tứ giới): tửu (rượu), sắc (gái), yên (thuốc
phiện), đổ (đánh bạc) chứ không ai cấm uống chè tàu hoặc cấm đánh cờ. tác
giả đã phạm ba điều là uống rượu, uống chè và đánh cờ, chỉ không đánh bạc.
(7) Nội tẩm: lớp nhà trong.
(8) Trung đường: lớp nhà giữa.
(9) Xối nước: máng nước giữa hai mái nhà.
(10) Nhược Gia là tên một cái ngòi ở phía nam thành Thiệu Hưng, tỉnh Chiết
Giang, Trung Quốc, các bài thơ cổ đều hay nhắc đến. Ở đây tác giả nhớ đến
câu thơ của Lý Bạch trong bài Thái liên khúc (Khúc hát hái sen): Nhược Gia
khê bàng thái liên nữ (Có cô con gái hái sen bên ngòi Nhược Gia).
(11) Những câu nói này chứng tỏ Vũ trung tùy bút được viết sau khi nhà Lê
mất và Tây Sơn lên cầm quyền, Phạm Đình Hổ đi dạy học ở các vùng nông
thôn.
CHUYỆN CŨ TRONG PHỦ CHÚA TRỊNH
Khoảng năm Giáp Ngọ, Ất Mùi (1774 – 1775) trong nước vô sự, Thịnh
Vương (Trịnh Sâm) (1) thích chơi đèn đuốc, thường ngự ở các ly cung bên
Tây hồ, núi Tử Trầm, núi Dũng Thúy. Việc xây dựng đình đài cứ liên miên.
Mỗi tháng ba bốn lần, Vương ra cung Thụy Liên bên bờ Tây hồ, binh lính
dàn hầu vòng quanh bốn mặt hồ, các nội thần thì đều bịt khăn, mặc áo đàn
bà, bày bách hóa chung quanh bờ hồ để bán.
Thuyền ngự đi đến đâu thì các quan hô tụng đại thần tùy ý ghé vào bờ mua
bán các thứ như ở cửa hàng trong chợ. Cũng có lúc cho bọn nhạc công ngồi
trên gác chuông chùa Trấn Quốc, hay dưới bóng cây bến đá nào đó, hòa vài
khúc nhạc.
Buổi ấy, bao nhiêu loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây
cảnh ở chốn dân gian, chúa đều sức thu lấy, không thiếu một thứ gì. Có khi
lấy cả cây đa to, cành lá rườm rà, từ bên bắc chở qua sông đem về. Nó giống
như một cây cổ thụ mọc trên đầu non hốc đá, rễ dài đến vài trượng, phải một
cơ binh mới khiêng nổ, lại bốn người đi kèm, cầm gươm đánh thanh la đốc
thúc quân lính khiêng cho đều tay. Trong phủ, tùy chỗ, điểm xuyến bày vẽ ra
hình núi non bộ trông giống như bến bể đầu non. Mỗi đêm khi đêm thanh
cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót vang khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào
như trận mưa sa gió táp, vỡ tổ tan đàn, kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường.
Bọn hoạn quan cung giám lại thường nhờ gió bẻ măng, ra ngoài dọa dẫm.
Họ dò xem nhà nào có chậu hoa cây cảnh, chim tốt, khướu hay, thì biên ngay
hai chữ “phụng thủ” (2). Đêm đến, các cậu trèo qua tường thành lẻn ra, sai
tay chân đem lính tới lấy phăng đi rồi buộc cho tội đem dấu vật cung phụng
để dọa lấy tiền. Hòn đá hoặc cây cối gì lớn quá, thậm chí phá nhà hủy tường
để đem ra. Các nhà giàu bị họ vu cho là giấu vật cung phụng, thường bỏ của
ra kêu van chí chết, có khi phải đập núi non bộ hoặc phá cây cảnh để tránh
khỏi tai vạ. Nhà ta ở phường Hà Khẩu (3), huyện Thọ Xương, trước nhà tiền
đường cũng trồng hai cây lựu trăng, lựu đỏ, lúc ra quả trông rất đẹp, bà cung
nhân ta sai chặt đi cũng vì cớ ấy.
_______
(1) Còn gọi là Tịnh đô vương, làm Chúa từ năm 1767 đến năm 1782 đời
Cảnh Hưng, Lê Hiển Tông.
(2) Phụng Thủ tức là lấy để dâng chúa.
(3) Phường Hà Khẩu là khu Hàng Buồm, Hà Nội bây giờ.
LỤC HẢI (*)
Kinh thành Thăng Long chia ra 36 phường, mỗi phường đặt một người
phường trưởng. Lại đặt ra phủ Phụng Thiên có quan Phủ doãn, quan Thiếu
doãn kiêm coi cả việc tuần phủ và việc liêm sát, đốc xuất hai huyện Thọ
Xương và Quảng Đức, mỗi huyện có quan Huyện úy cai trị. Toàn thành thì
cử một quan trọng thần sung chức Đề lĩnh tứ thành quân vụ, phân ra chánh
phó hai dinh, chuyên coi việc cấm phòng, xét hỏi. Song đất kinh thành đông
đúc, nhà cửa ở liền nhau, thường có hỏa hoạn, lại nhiều những kẻ đầy tớ nhà
quan, du đãng cờ bạc, gây chuyện đánh nhau, cùng là những kẻ vô lại trộm
cắp, nhiều lắm không thể kể xiết được, chẳng khác gì lục hải khi xưa.
Đời Trịnh An Vương (1), Nguyễn Công Hãng làm thượng thư cầm quyền
chính, mới chia hai huyện ra làm tám khu, mỗi khu đặt một người trưởng
khu và một người phó khu; lại chia ra năm nhà là một tị, hai tị là một lư, mỗi
lư cũng có một lư trưởng, bốn lư là một đoàn, một đoàn đặt một quản giám,
hai quản điểm, dưới quyền người khu trưởng và trực thuộc quan Đề lĩnh. Đó
là phỏng cái ý cổ nhân bảo trợ phù trì lẫn nhau. Phàm những việc phòng hỏa
phò...
 





