NHỮNG NGÀY TẾT TA


TẠP CHÍ THƯ VIỆN 2025-2026

HỌC LIỆU ĐIỆN TỬ

Thành viên trực tuyến

1 khách và 0 thành viên

Sách mang trong mình sứ mệnh đưa độc giả đi du lịch khắp muôn nơi mà không cần di chuyển một bước.” – Jumpa Lahiri

Thống kê

  • truy cập   (chi tiết)
    trong hôm nay
  • lượt xem
    trong hôm nay
  • thành viên
  • Bài hát Trang sách em yêu


    Bản tin thư viện

    < Sách như một cánh cổng diệu kỳ đưa ta đến những chân trời của lý tưởng, khát vọng và bình yên. Cuộc đời ta thay đổi theo hai cách: Qua những người ta gặp và qua những cuốn sách ta đọc. Đọc sách là nếp sống, là một nét đẹp văn hóa và là nguồn sống bất diệt. Việc đọc cũng giống như việc học. Có đọc, có học thì mới có nhân. Thói quen đọc sách chỉ được hình thành và duy trì khi chữ tâm và sách hòa quện làm một. Người đọc sách là người biết yêu thương bản thân mình và là người biết trân trọng cuộc sống. Việc đọc một cuốn sách có đem lại cho bạn lợi ích hay không, phụ thuộc vào thái độ và tâm thế của bạn khi đọc.

    Ảnh ngẫu nhiên

    Z7427905612002_9e0abcb2025d715b725d8f6419a1ecd0.jpg Z7427905615184_0aa70673ae8b39fc6b6f34b4c6ad4ef2.jpg Z7427905618184_32a701ebb60894d690d1568237b71a8d.jpg Z7427905623656_562b514c3bf2d92c3dc62bb3d3a231d5.jpg Z7427905605040_aef60c178a60f4022647eea9cc82a784.jpg Z7427905628062_25ef73b0d8c648eece3dc4b78982c882.jpg Z7427905631997_6c37185ce800dfd8291687bf71c2014b.jpg Z7410066772617_3822b51cdee110fc57ef821483e9d307.jpg Z7410066784938_3a9a4c4e5d658cd5d6632f075b8e097d.jpg Z7410066786596_80da2adf01d0df168233f538b1db22fc.jpg Z7382833702596_f28f648a58a9101031fc2523c48f33b6.jpg Z7382833680559_4b81b1682a7ac8d5e9e78e2100e0749a.jpg Z7382833706264_8134c1277aedde9be8354c9d2977df47.jpg Z7382833696286_466a8c2ab213e7c884e972d88e8500a1.jpg Z7382833694322_b3088e121328fb39e6a916b2a6a17633.jpg Z7382833685175_03676035d85901dc7adada9d5d00535b.jpg Z7382833684944_fab3f2d879501d815ada350d3bb0a4b9.jpg Z7360692252431_d94ead2e74dd9d1a3d93c87445228dc5.jpg Z7360692292424_9b95d5328dd0008eb5f3986df5ca7239.jpg

    Một thư viện tốt là trái tim của nhà trường – nơi nuôi dưỡng trí tuệ và tâm hồn học sinh

    THƯ VIỆN TIỂU HỌC MAI CHÂU MỞ RA CÁNH CỬA DIỆU KỲ

    Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    KỂ CHUYỆN TẾT NGUYÊN ĐÁN


    Vũ Trung

    Wait
    • Begin_button
    • Prev_button
    • Play_button
    • Stop_button
    • Next_button
    • End_button
    • 0 / 0
    • Loading_status
    Nhấn vào đây để tải về
    Báo tài liệu có sai sót
    Nhắn tin cho tác giả
    Nguồn:
    Người gửi: Nguyễn Thị Hồng
    Ngày gửi: 08h:52' 16-03-2024
    Dung lượng: 670.5 KB
    Số lượt tải: 3
    Số lượt thích: 0 người
    Thông tin ebook
    Tên sách: Vũ Trung Tùy Bút
    Tác giả: Phạm Đình Hổ
    Bản dịch: Đông Châu Nguyễn Hữu Tiến
    Ebook miễn phí tại : www.Sachvui.Com

    Mục lục
    LỜI NÓI ĐẦU
    LỜI GIỚI THIỆU
    TỰ THUẬT
    TẢ CHÍ HẦU
    CẢNH CHÙA SƠN TÂY
    THAY ĐỔI ĐỊA DANH
    HOA THẢO
    HỌC THUẬT
    LỐI CHỮ VIẾT
    CÁCH UỐNG CHÈ
    XÉT VỀ ĐỊA MẠCH VÀ NHÂN VẬT
    ĐÊM RẰM THÁNG TÁM
    BÀN VỀ ÂM NHẠC
    BÀN VỀ LỄ
    LỄ ĐỘI MŨ
    HÔN LỄ
    THỪA TỰ
    LỄ TẾ GIAO
    TẠP KÝ
    PHONG TỤC
    NÓN ĐỘI
    ÁO MẶC
    NGUYỄN NGHIÊU MINH
    ĐƯỜNG SĨ HOẠN
    ĐÀN
    CÁ VOI
    MẤY NĂM ĐƯỢC MÙA
    TRỘM CẮP
    MẸO LỪA
    MỘNG VÀ SỐ
    THÁC OAN
    KHOA CỬ
    CUỘC BÌNH VĂN TRONG NHÀ GIÁM (1)
    PHÉP THI NGHIÊM MẬT
    ĐIỀM QUÁI GỞ
    NGUYỄN KÍNH
    VIỆC THI CỬ
    Y HỌC TRUNG HOA

    XỨ HẢI DƯƠNG
    TÊN HUYỆN ĐƯỜNG AN
    TÊN LÀNG CHÂU KHÊ
    ĐOÀN THƯỢNG
    PHẠM TỬ HƯ
    PHẠM NGŨ LÃO
    PHẠM CƯ SĨ
    LÀNG HẠ BÌ
    ĐỖ UÔNG
    NHỮ CÔNG TUNG
    LÝ ĐẠO TÁI
    VÕ THÁI PHI
    ĐỀN THỜ LÀNG TUẤN KIỆT
    CÁI THÓI KIÊNG NGÀY TRÙNG TANG, TRÙNG PHỤC
    KHÁCH ĐỂ CỦA
    CỔ TÍCH
    VIỆC TẾ TỰ
    ĐỀN ĐẾ THÍCH
    THẦN HỔ
    THẦN TRẺ CON
    MIẾU BÀ CHÚA NGỰA
    ĐỀN THỜ CAO TƯỚNG CÔNG
    PHẠM TRẤN, ĐỖ UÔNG
    BÙI THẾ VINH
    VÕ CÔNG THẠNH
    VĂN THỂ
    PHÉP THI
    THỂ VĂN KINH NGHĨA
    THỂ VĂN TỨ LỤC
    THỂ THƠ
    THỂ VĂN SÁCH
    VIỆC TAI DỊ
    NHÀ HỌ NGUYỄN Ở TIÊN ĐIỀN
    ĐIỀM CÂY ĐA
    VIỆC TẾ TỰ
    LỄ TANG
    LỄ NHÀ MIẾU
    THẦN LỄ
    BÁI LỄ
    QUAN CHỨC
    LỄ TANG

    TẾ LỄ
    BÁI LỄ
    TRUYỆN VUA LÊ LỢI
    LỄ SÁCH PHONG
    CƯ TANG
    MỘ CHÍ
    TRỢ TẾ
    THẦN HỒ ĐỘNG ĐÌNH
    THAY ĐỔI

    LỜI NÓI ĐẦU
    Nước ta hiện nay đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa và mở
    cửa tiếp xúc rộng rãi với thế giới. Phải có bản lĩnh tiếp thu tinh hoa văn hóa
    của thế giới để làm phong phú cho nền văn hóa của dân tộc mình. Nhưng
    muốn thế nhất thiết phải củng cố cái gốc của văn hóa dân tộc, bồi dưỡng tinh
    hoa văn hóa dân tộc cho các thế hệ, nhất là thế hệ trẻ để cho họ ý thức được
    những giá trị tinh thần đẹp đẽ của dân tộc mình, như vậy khi tiếp xúc với nền
    văn hóa các nước, họ biết chủ động tiếp thu những cái hay, cái đẹp của
    người, và dị ứng lại với những cái xấu, cái độc hại. Xuất phát từ nhận thức
    này, Hội nghiên cứu và Giảng dạy Văn học Thành phố Hồ Chí Minh quyết
    định tổ chức biên soạn tử sách VĂN HỌC VIỆT NAM, NHỮNG TÁC
    PHẨM TIÊU BIỂU.
    Tủ sách sẽ cung cấp cho đông đảo bạn đọc, trước hết là bạn đọc trẻ, cho
    thanh niên, học sinh, sinh viên ở các trường phổ thông và đại học những tác
    phẩm ưu tú của văn học dân tộc, từ văn học dân gian đến văn học viết, từ
    văn học cổ đến văn học cận, hiện đại... Thông qua tủ sách này bạn đọc sẽ
    cảm nhận được vẻ đẹp của tâm hồn con người Việt Nam, sức sống và cá tính
    của dân tộc Việt Nam, cùng với cái hay, cái đẹp của tiếng Việt và văn
    chương Việt Nam.
    Để phản ánh cho đúng những thành tựu của văn học dân tộc, trong tủ sách có
    tập là một tác phẩm được in trọn vẹn, có tập là tuyển của một tác giả, hoặc
    một phong trào, một thể loại...
    Chúng tôi cố gắng cung cấp cho bạn đọc những văn bản được in lần đầu tiên
    đối với bộ phận văn học quốc ngữ, còn những văn bản thuộc phạm vi văn
    học Hán Nôm thì ngoài việc in bản dịch, hoặc bản phiên âm chúng tôi cho in
    kèm theo văn bản chữ Hán hoặc chữ Nôm để cho các bạn có thể đối chiếu
    khi cần thiết.
    Xin trân trọng giới thiệu tủ sách với đông đảo bạn đọc.
    GS. Hoàng Như Mai
    Chủ tịch Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học
    Thành phố Hồ Chí Minh

    LỜI GIỚI THIỆU
    Một trong những tác giả nổi tiếng về thể loại truyện ký ở nước ta nửa cuối
    thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 là Phạm Đình Hổ. Ông trước tác khá nhiều, trong đó,
    Vũ trung tùy bút là bức tranh toàn cảnh sinh động về xã hội đời Lê-Trịnh, là
    tài liệu tốt cho những ai muốn nghiên cứu, tìm hiểu phong tục, tập quán, sinh
    hoạt của con người thời này.
    Phạm Đình Hổ sinh năm 1768, tự Tùng Niên và Bỉnh Trực, hiệu là Đông Dã
    Tiều, còn có biệt hiệu là Hy Kiều Phủ, người đời thường gọi là Cụ Tế Đan
    Loan (1). Ông quê ở xã Đan Loan, huyện Đường An, phủ Thượng Hồng,
    trấn Hải Dương, nay là thôn Đan Loan, xã Nhân Quyền, huyện Cẩm Bình,
    tỉnh Hải Dương (2). Nhà ở phường Hà Khẩu (3), huyện Thọ Xương, phủ
    Hoài Đức, thuộc thành Thăng Long (nay thuộc khu vực phường Hàng Buồm,
    quận Hoàn Kiếm, Hà Nội).
    Ông xuất thân từ gia đình khoa bảng. Cha đậu cử nhân làm chức Hiến sát
    dưới triều Lê Cảnh Hưng (1740), nhưng mất sớm lúc ông mới 10 tuổi, gia
    đình trở nên túng bấn. Anh trưởng, anh thứ của ông đều yểu mệnh. Vợ ông
    chết sớm liền sau cái chết của con trai lớn, để lại đứa con sau ốm yếu. Mặc
    dù chịu nhiều đau thương, bản thân lắm bệnh tật, ông cũng cố gắng đeo đuổi
    nghiệp khoa cử. Cuối đời Lê Cảnh Hưng, ông từng theo học ở trường Quốc
    Tử Giám. Năm Bính Ngọ (1786) ông chưa kịp đi thi thì nhà Lê mất (1789).
    Mãi đến khi Gia Long lên ngôi, mở các khoa thi, ông đi thi nhiều lần nhưng
    chỉ đậu đến tú tài. Sau bị bệnh, không thể tiếp tục nghiệp khoa cử được, ông
    dành thì giờ viết sách. Ông am tường và nghiên cứu rất nhiều lĩnh vực. Vừa
    chuyên chí học hành, vừa trước tác, ông có nhiều công trình sưu tầm, nghiên
    cứu có giá trị. Nhờ vậy, năm Minh Mệnh thứ nhất (1820), ông được vua vời
    vào triều cho nhậm chức Hành tẩu bộ Hộ, rồi được bổ vào chức hàn lâm viện
    hành tẩu. Chẳng bao lâu, ông xin từ chức về nhà. Năm Minh Mệnh thứ bảy
    (1826), ông lại được triệu về triều làm chức Hàn lâm viện thừa chỉ kiêm
    Quốc tử giám tế tửu. Được vài năm ông cáo bệnh về quê, lại được vua triệu
    và ban chức Thị giảng học sĩ. Năm 1839, ông mất, thọ 71 tuổi. Trong suốt
    quãng đời mình, ông sống cuộc sống nhà nghiên cứu, nhà văn nhiều hơn làm
    quan. Ông để lại nhiều tác phẩm với khá nhiều thể loại.
    Về sưu tầm, nghiên cứu, ông có: Lê triều hội điển, Bang giao điển lệ, Cảnh
    Hưng tân ty sách phong sứ quán thư giản chư tập, An Nam chí, Ô châu lục,
    Ai Lao sứ trình, Đại Man quốc địa đồ, Càn khôn nhất lãm, Hi kinh trắc lãi,
    Khánh An Đan Loan Phạm gia thế phổ, Đan Loan Phạm thị chi hệ thế phổ...

    Về sáng tác, ông có: Vũ trung tùy bút, Nhật dụng thường đàm, Đông Dã học
    ngôn thi tập, Bạn tiếp tồn phụng, Tang thương ngẫu lục (viết chung với
    Nguyễn Án)...
    Một trong những đặc điểm của nền văn học chữ Hán nước ta từ thế kỷ 18 –
    đầu thế kỳ 19 là sự phát triển của thể ký. Ở thể loại này, người viết ghi lại
    những điều tai nghe, mắt thấy bằng nghệ thuật mô tả sinh động… Ngoài
    những nguyên nhân khách quan của văn học, yêu cầu phát triển thể loại ký
    (chủ yếu là tạp ký và ký sự), hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ cũng là động cơ
    quan trọng thôi thúc những người có lòng yêu nước, thương dân sáng tác.
    Phạm Đình Hổ là một điển hình. Dù phải sống trong gia cảnh nghèo túng,
    đau thương, nhưng từ nhỏ ông đã xác định mục đích của kẻ làm trai là: “Lập
    thân hành đạo”. Hơn nữa, trong thời đại ông sống, luân thường đạo lý bị coi
    thường, trật tự xã hội bị đảo lộn, biết bao cảnh ngang trái xảy ra từ vua chúa
    đến quan lại… Bị áp lực của kẻ cầm quyền, những quan hệ trong xã hội đều
    nghiệt ngã…
    Vũ trung tùy bút (Tùy bút viết trong những ngày mưa) của Phạm Đình Hổ ra
    đời trong hoàn cảnh ấy. Tập trung trong 91 đề mục, tác giả ghi lại những
    điều tai nghe, mắt thấy trong thực tế hàng ngày, không theo một trật tự nào.
    Bằng thủ pháp mô tả rất sinh động, tỉ mỉ, chân thành, bằng tấm lòng của một
    người ưu thời mẫn thế, Phạm Đình Hổ đã vẽ lại thật sống động lối sống sa
    đọa của bọn vua chúa, nạn hà hiếp dân lành của bọn quan lại, cảnh khốn
    cùng của dân chúng, cảnh gian lận hay thành kiến nặng nề trong thi cử đến
    những tục lệ của người dân… Mặc dù còn hạn chế ở một số điểm, nhưng Vũ
    trung tùy bút mang một giá trị nhất định về mặt sử học, văn hóa và xã hội
    học, là tài liệu đáng giá cho những ai muốn nghiên cứu xã hội nước ta cuối
    đời Lê.
    Thực vậy, dưới ngòi bút của ông, việc phản ánh trung thành bộ mặt xã hội
    đương thời, nhất là thói ăn chơi xa hoa, trụy lạc của bọn vua chúa được nói
    đến trước tiên. Sinh ra trong gia đình nhà nho, bản thân từng làm quan phục
    vụ triều đình, nhưng Phạm Đình Hổ không khỏi bất mãn trước lối sống trái
    đạo của bọn thống trị, trước thái độ coi dân như cỏ rác. Ông kể việc “Trịnh
    Sâm thích chơi đèn đuốc, thường ngự ở các ly cung bên Tây hồ, núi Tử
    Trầm, núi Dũng Thúy. Việc xây dựng đình đài cứ liên miên. Mỗi tháng ba
    bốn lần, Vương ra cung Thụy Liên trên bờ Tây hồ, binh lính dàn hầu vòng
    quanh bốn mặt hồ, các nội thần thì đều bịt khăn, mặc áo đàn bà, bày bách
    hóa chung quanh bờ hồ để bán (…). Buổi ấy, bao nhiêu loài trân cầm dị thú,
    cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây cảnh ở chốn dân gian, chúa đều sức thu lấy,
    không thiếu một thứ gì (…). Bọn hoạn quan cung cấm lại thường nhờ gió bẻ

    măng, ra ngoài dọ dẫm. Họ dò xem nhà nào có chậu hoa cây cảnh, chim tốt,
    khướu hay, thì biên ngay chữ “phụng thủ”. Đêm đến, các cậu trèo qua tường
    thành lẻn ra, sai tay chân đem lính tới lấy phăng đi rồi buộc cho tội đem dấu
    vật cung phụng để dọa lấy tiến” (Chuyện cũ trong phủ chúa). Bọn quan lại
    tại chức cũng ăn chơi và dung dưỡng cho con cháu chúng làn càn. Nguyễn
    Khản làm quan chức Tri phiên liêu khiêm Quản nhất hùng cơ, tước Kiều
    nhạc hầu mê hát xướng, lúc tang cha mà không lúc nào trong nhà bỏ tiếng tơ,
    tiếng trúc, gặp lúc con hát đang có tang cũng bắt hát suốt ngày. Bọn con
    cháu đều bắt chước chơi bời thành quen (Nhà họ Nguyễn ở Tiên Điền).
    Ở đất kinh thành mà nhan nhản “những kẻ đầy tớ nhà quan, du đãng cờ bạc,
    gây chuyện đánh nhau, cãi nhau, cùng là những kẻ vô lại trộm cắp, nhiều
    lắm không kể xiết được” (Lục hải). Những kẻ cáo quan về hưu cũng không
    quên thói gian tham, chuyên làm đơn từ xui kẻ kiện cáo, gây thói điêu ngoa
    (Áo mặc).
    “Phụ mẫu” của dân đã thế thì người dân tránh sao được cảnh đời gian nan,
    cơ cực. Cuộc sống vốn khó khăn, người dân còn bị tròng lên cổ những tệ nạn
    phục dịch cho quan. Kẻ nào đỗ khoa Đông các khi vinh quy dân bản tổng
    phải đến phục dịch. “Còn đến như làm nhà tư thất, phục dịch việc gì cũng đổ
    lên đầu dân cả thì dân làng tổng làm sao chịu được” (Việc thi cử). “Bà Võ
    Thái phí theo hầu chúa Trịnh là Hi tổ Nhân vương (Trịnh Cương) dung
    dưỡng cho bọn con cháu họ hàng làm càn, bắt dân đi phu, lấy đá làm từ
    đường” (Võ Thái phi). Không chịu được sự bóc lột hà khắc, nhân dân vùng
    ấy nổi lên đốt phá nhà từ đường, chống lại triều đình. Sống thời nhiễu loạn,
    “người dân còn sống sót phải đi bóc vỏ cây, bắt chuột đồng mà ăn. Mỗi một
    mẫu ruộng chỉ bán được một cái bánh nướng”, có người bị chết đói. Thê
    thảm nhất là có nơi người ta làm cả thịt người! (Võ Thái phi).
    Trong hoàn cảnh đen tối ấy, những sĩ tử nào ôm mộng thi đỗ làm quan để
    cứu khổ cho dân, thì thật là hiếm hoi. Bởi vì “Những kẻ chỉ học lỏm được
    mấy câu mép, nào có quan thiết gì đến đạo tu, tề, trị, bình, thế mà đã ngang
    nhiên tự đắc” (Học thuật). Mục đích của họ chỉ đủ “để vinh thân phì da và
    làm cho họ hàng được nhờ mà thôi, chứ có ích chúa lợi dân gì cho người đời
    nhờ cậy đâu! Huống chi học thuật đã bất chính, đến khi ứng dụng ra đời thì
    chỉ làm hại cho thiên hạ, đáng để cho người ta trách mắng”.
    Nhưng để được đề danh bảng hổ cũng còn là vấn đề vô cùng khó khăn. Bởi
    việc thi cử trong giai đoạn này không còn được triều đình xem trọng. Tình
    trạng những kẻ quyền thế gian lận, đút lót quan chấm thi, gửi gắm con em để
    được thi đỗ rất phổ biến (Khoa cử). Do chính thể ngày càng đồi bại nên hiện

    tượng thi giúp, làm bài sẵn, tìm cách biết đề trước ngày càng nhiều. Tệ hại
    nhất là thành kiến nặng nề của các quan giám khảo đối với những bài nào có
    “khẩu khí của Ngô Thì Sĩ” vì họ ganh ghét tài hay chữ nổi tiếng của ông và
    “sẵn sàng bới móc, đánh hỏng đi”.
    Những hiện tượng tiêu cực còn xảy ra do những hạn chế của chế độ thi cử
    đương thời. Có kẻ vinh quy “chỉ dòm lấy con gái nhà giàu mà bỏ vợ tao
    khang; hoặc cịu tiếng luồn lỏi đi vay lãi mà ký liều văn khế nên đã có cái
    tiếng ông Nghè đeo nợ, bà Nghè mua chồng không kể xiết được” (Việc thi
    cử). Có kẻ mê danh đem con gái cho phường lừa đảo mà cứ tưởng là quan
    trạng, quan thám tương lai, chừng biết ra mình bị lừa thì ngỡ ngàng, đau đớn
    (Mẹo lừa).
    Tác giả cũng hết sức phản đối những đồi phong bại tục còn tồn tại trong
    cuộc sống người dân. Là một nhà nho chính thống, nên những suy nghĩ của
    ông dực trên những chuẩn mực của thời đại phong kiến, của tư tưởng nho
    giáo cổ xưa để đánh giá, phê phán những hiện tượng sai lệch đương thời.
    Ông tỏ thái độ bất mãn trước những thủ tục vô lý, bất nhân trong các lễ cưới,
    lễ tang. Do sĩ diện mà chủ nhân tổ chức linh đình để sau đó phải bán cả
    ruộng nương, mang đeo nợ nần. Tục lệ này lâu dần thành lệ làng, người dân
    bị hạch sách phải thực hiện hủ tục khi có lễ tang, ngày kỵ hay lễ cưới. Ông
    cũng kịch liệt phản đối chuyện dân làng mê tín thờ cả hổ, trẻ con và mụ đàn
    bà dâm ô làm thần…
    Sự đi xuống của phong tục do nhiều nguyên nhân, nhưng một trong những
    nguyên nhân quan trọng là do vua chúa quan lại không làm gương tốt cho
    dân. Chính vua chúa quan lại cùng họ hàng ngoại thích ngang nhiên biến đổi
    cho lệch lạc những nền nếp tốt đẹp có sẵn từ bao đời. Từ nếp ăn, nếp mặc
    đến cách cư xử, giao tế lễ độ… đều bị bóp méo mỗi ngày một khác. “Nếu có
    người không chịu thay đổi, thì lại hùa nhau chê cười, thậm chí muốn hãm hại
    và xô đổ đi” (Phong tục).
    Do nền tảng xã hội bị băng hoại nên quan hệ giữa con người cũng suy đồi:
    kẻ dưới xem thường người trên, kẻ vô lại lấy vợ, lấy luôn cả con gái của vợ
    (Tệ tục)…
    Tuy nhiên, nỗi đắng cay, bất mãn với cảnh đời đầy nhiễu nhương lức bấy giờ
    cũng không làm Phạm Đình Hổ quên đi niềm thú vị của lối trồng hoa, cách
    uống chè nhà nghề, hay sự thưởng thức văn học nghệ thuật qua những buổi
    bình văn thơ trong nhà giám… Những đoạn miêu tả tỉ mỉ, thú vị ấy gây cho
    người đọc một cảm giác thích thú về những kiểu cách sinh hoạt mang đậm

    tính văn hóa của người xưa. Tác giả không chỉ đưa chúng ta đến những cảnh
    đẹp thiên nhiên, thưởng lãm những danh thắng của đất nước, mà còn cho
    biết ngọn nguồn, lịch sử của những nơi ấy. Mỗi nét bút ghi lại thắng cảnh
    hay nét đặc thù của một số địa phương đều thắm đượm lòng tự hào dân tộc,
    tự hào về một đất nước ngàn năm văn hiến, trước những con người tài giỏi
    được hun đúc từ tinh hoa của tổ quốc. Ông tự hào đặt đất nước mình ngang
    tầm với nước lớn Trung Hoa với niềm tự hào của người con nước Việt.
    Nhìn chung, qua Vũ trung tùy bút, người đọc nhất là những ai muốn nghiên
    cứu văn hóa, văn học, lịch sử, địa lý, phong tục Việt Nam giai đoạn cuối đời
    Lê sẽ thu thập được những điều bổ ích và thú vị, đặc biệt những điều mà
    trong lích sử không thấy ghi chép, sẽ gây cho người đọc sự ngạc nhiên, thích
    thú. Vũ trung tùy bút mang một văn phong sinh động, rõ ràng, tự nhiên, chi
    tiết tỉ mỉ, cụ thể tạo thành một lối văn như lối ghi chép nhật ký hay sổ tay, có
    sức hấp dẫn nhất định khó quên.
    Lần đầu tiên, Vũ trung tùy bút được Nguyễn Hữu Tiến dịch ra tiếng Việt.
    Cho đến nay, bản dịch này được xem là tốt nhất. Nguyễn Hữu Tiến biệt hiệu
    Đông Châu, một học giả nghiên cứu lịch sử và văn học dân tộc có uy tín.
    Bản dịch này đã được đăng trên tạp chí Nam Phong số 121 tháng 9 năm
    1927. Sau đó, Vũ trung tùy bút đước nhà xuất bản Văn học – Hà Nội tái bản
    hai lần nữa (lần thứ nhất, năm 1960, Hoàng Hữu Yên giới thiệu, lần thứ hai,
    năm 1972, Trương Chính giới thiệu và chú thích). Trong lần hiệu đính bản
    dịch này, chúng tôi dùng Vũ trung tùy bút bản chữ Hán do Pháp quốc Viễn
    đông Học viện xuất bản, Đài loan học sinh thư cục ấn hành. Trong đó, Vũ
    trung tùy bút là tập hai, sách thứ năm trong hàng loạt tác phẩm chữ Hán của
    Việt Nam được ấn hành với tựa đề Việt Nam Hán văn tiểu thuyết tùng san
    do Trần Khánh Hạo, Trịnh A Tài, Trần Nghĩa chủ biên. Nhà xuất bản chọn
    ba bản sau đáng tin cậy nhất được cất giữ tại Việt nghiên cứu Hán Nôm (Hà
    Nội). Trong đó, có hai bản ký hiệu A1297, A2312 được sao chép từ thời Tự
    Đức, viết theo lối chữ thảo. Bản A2312 chỉ còn 15 tiểu mục, nên chỉ để tham
    khảo. So với hai bản kia, bản VHV1466 đầy đủ hơn, được dùng làm bản
    chính của tập sách này. Bản này được mô tả như sau:
    Ở giữa trang bìa của bản này có đề chữ ”Vũ trung tùy bút quyển thượng”,
    chung quanh bìa có đóng khung; tiếp phía dưới bên trái có ghi “Trần Lưu
    Thiển phụng sao”; phía trên bên phải đề “Hoàng triều Bảo Đại tân tỵ quý
    đông (năm 1941)”. Trang đầu ghi “Vũ trung tùy bút quyển thượng, Hải
    Dương, Đan Loan, Phạm Tùng Niên”. Quyển này không có bài tựa. Phần
    chính văn khoảng nửa sách có tám hàng, mỗi hàng từ 26 chữ đến 30 chữ
    kho6gn đều nhau. Ở trên là thứ tự tên sách, ở giữa là tiêu đề “Cố sự danh”,

    bên dưới ghi số trang. Sách này chia ra hai quyển thượng và hạ, không có
    mục lục.
    Dựa vào những đặc điểm trên, chúng tôi tạm gọi là bản gốc.
    So bản dịch của Nguyễn Hữu Tiến với bản gốc, chúng tôi nhận thấy có, một
    vài tên người, tên đất đọc theo âm thuần Việt hay những câu thơ chữ Nôm
    không được viết chính xác trong bản gốc. Ví dụ trong Tự thuật, bản dịch ghi
    rõ: “Lúc bấy giờ, đấng tiên đại phu ta làm Hiến sát tỉnh Nam mới về” (trang
    17). Bản gốc là (…) (Tiên đại phu tòng Nam tỉnh hồi = Cha ta từ tỉnh Nam
    mới về) (trang 9). Ở đoạn khác bản dịch ghi: “Phía tây xối nước là nhà khách
    năm gian (trang 19), bản gốc là (…) (Tây Thừa tiếp lưu = tây Thừa tiếp xối
    nước) (trang 10). Trong Phạm Trấn, Đỗ Uông, bản dịch ghi: “Lúc đến cầu
    Phú Cốc có thi nhau làm thơ “Cô lan bán hàng cầu Cốc”, còn bản gốc chỉ là
    (…) (Chí Phú Cốc kiều đổ thi = đến cầu Phú Cốc làm bài thơ) (trang 93).
    Trong Xét về địa mạch và nhân vật, bản dịch ghi là Tô Hiến Thành (trang
    47), còn bản gốc là Tô Trung Hiến (trang 26)… Còn có trường hợp như
    trong bản gốc, tên đất, tên chức quan, tên người đọc theo âm Hán Việt không
    được viết như tên riêng. Ví dụ trong Bàn về âm nhạc, bản dịch ghi “Đến cuối
    đời Tống, Ngụy rợ Thị Khương lấn đất Trung Nguyên, thanh âm của Trung
    Hoa chỉ còn ở phía Giang Tả (trang 53), nhưng chữ Giang Tả trong bản gốc
    chỉ in thường (trang 30). Cũng giống như vậy, trong bản dịch ghi sách Nhạc
    chí, Nhạc thư (trang 55), nhưng trong bản gốc kho6gn viết thành tên sách,
    chỉ viết thường (trang 30). Trong Hôn lễ, bản dịch ghi: “Đến khi xem tờ
    chiếu năm Minh Đức nhà Mạc, mới biết trước là chữ “lan nhai”, sau dùng
    lầm thành “lan giai” (trang 67), bản gốc ghi là (…) (Thủy tri lan hoàn cựu vi
    lan nhai = mới biết lan hoàn trước là lan nhai) (trang 39). V.v… Cá biệt có
    những năm, tháng, nhà xuất bản ghi khác với bản dịch. Ví dụ năm sinh của
    Phạm Đình Hổ là 1768, còn bản gốc lại ghi năm 1766. Sau khi tham khảo và
    tra cứu lại, chúng tôi theo bản dịch.
    So với bản gốc, bản dịch của Nguyễn Hữu Tiến cũng có vài chỗ thiếu và
    không chính xác, thường là những đoạn miêu tả, vị trí và địa danh. Ví dụ
    trong Cảnh chùa Sơn Tây, bản gốc ghi (…) (Tiền đường tả hữu phụng Chiên
    Đàn Phật = phía trái và phải gian tiền đường có thờ Phật Chiên Đàn), nhưng
    trong bản dịch không có danh hiệu Phật Chiên Đàn (trang 26). Đôi khi có
    chỗ phiên âm không đúng. Trong Thay đổi địa danh, bản gốc viết là (…)
    (Lương Giang cải vi Đoan Nguyên = Lương Giang đổi thành Đoan Nguyên)
    (trấng). Còn bản dịch là “Lương Giang đổi thành Thụy Nguyên) (trang 31).
    Trong Lối chữ viết, bản gốc viết (…) (Thủ pháp Tống nhân, thuyết cụ An
    Nam kỷ lược = Theo lối viết của người Tống như đã nói trong sách An Nam

    kỷ lược) (trang 20). Còn bản dịch là: “… ở trong sách An Nam kíp lược”
    (trang 39). Trong Thay đổi địa danh, bản gốc viết (…) (Nhất minh xưng:
    “Đống ngạch phường, Diên Hựu tự chung, Diên Hựu nhị niên chú, tín hoạn
    Tống Trân thi kim nhất lượng” = Bài minh viết: “Chuông chùa Diên Hựu ở
    phường Đống Ngạch được viết vào năm thứ hai, người tín đồ làn quan tên
    Tống Trân cúng một lạng vàng”) (trang 15). Còn bản dịch là “Đông Ngạc
    phường, Diên Hỗ tự chung, Diên Hựu nhi niên chú, tín hoạn Tôn Trần thi
    kim nhất lạng” (trang 29). Có đoạn dịch còn thiếu sót. Trong Cách uống chè,
    bản gốc là (…) (Địa sản lệ chi, Phù Lâu thôn, Quách Lâm khê phả xưng u
    thắng = Thổ sản có quả vải ở ngòi Lâm Khê, thôn Phù Lâu, nơi được xem là
    tĩnh mịch, đẹp đẽ) (trang 23). Còn bản dịch là: “Thổ sản có thứ vải quả, rau
    dưa làng xóm rừng khe, cũng nhiều chỗ tĩnh mịch, đẹp đẽ” (trang 44). Có
    chỗ thiếu hẳn một đoạn dài. Trong Điềm quái gở, bản dịch thiếu cả một đoạn
    đầu (…) (Tây nhân Nhâm tuất Xuân An sơn thạch thán, hữu hoàng ngưu sản
    nam tử, sổ nhật bạo trưởng như thập nhị, tam tuế nhi, hạm hạ xuất tì, thực
    bội thường nhân, duy bất năng ngôn hành nhỉ. Hoặc khủng kỳ vi yêu, mật sát
    nhi ế chi. Tật dịch đại tác, tài nguyệt dư, ấp nhân tử giả số bách. Hữu cử hộ
    chẩm tịch nhi đồng tận giả, nhân đa viễn thoán nhi ty chi vân = Năm Nhâm
    Tuất, phía tây núi than đá Xuân An có một con bò sinh ra một đứa con trai,
    chỉ mới vài ngày mà lớn bằng trẻ 12, 13 tuổi, lại có râu. Có người sợ cho đó
    là yêu quái, lén giết rồi chôn đi. Sau bệnh dịch tràn lan, chỉ mới hơn một
    tháng mà dân ấp ấy chết cả trăm người. Người bệnh ngổn ngang ngoài
    đường chờ chết. Nhiều người phải dời đi xa để tránh dịch bệnh) (bản gốc
    trang 61, bản dịch trang 100). Những chỗ thiếu sót này chúng tôi đã bổ xung
    lại cho đầy đủ dựa theo bản gốc, ngoài ra còn giải thích, chú thích thêm một
    số từ cho dễ hiểu, tiện việc sử dụng và tra cứu.
    ĐÀM ÁNH LOAN
    _______
    (1) Có người cho rằng ông chính là Chiêu Hổ, người xướng họa văn thơ với
    nữ sĩ Hồ Xuân Hương. Vấn đề này chưa được minh xác.
    (2) Trương Chính chú thích là Hải Hưng.
    (3) Căn cứ vào bài Chuyện cũ trong phủ chúa và Mấy năm được mùa thì nhà
    ông ở phường Hà Khẩu. Nhưng trong bài "Hành tại diện đối" trong Châu
    Phong tạp thảo của chính tác giả lại nói ở phường Thái Cực. (Tạp chí Hán
    Nôm, số 4. 1996)

    TỰ THUẬT
    Ta sinh năm Mậu Tý (1768) niên hiệu Cảnh Hưng. Lúc bấy giờ tiên đại phu
    ta là Hiến sát tỉnh Hà Nam mới về. Bà tiên cung nhân (1) hoài thai ta, vẫn ăn
    uống đi lại như thường, đến bảy tám tháng chưa biết là có thai. Năm ta lên
    sáu tuổi, đấng tiên đại phu ta mới thăng làm Tuần phủ Sơn tây, bổng lộc đã
    dư dụ, song những cách chơi ấy, đa, hoa, chim ta không để bụng ham mê. Bà
    bảo mẫu họ Hoàng thường hỏi ta: “Về sau có muốn làm gì không?” ta nói:
    “Làm người con trai phải lập thân hành đạo, đó là phận sự rồi, không phải
    nói nữa. Sau này trưởng thành mà được lấy văn thơ nổi tiếng ở đời để cho
    người ta biết là con cháu nhà nọ nhà kia, chí tôi chỉ muốn như thế thôi”. Bà
    bảo mẫu nghe ta nói thế, lại mách cho đấng Tiên đại phu và bà cung nhân ta
    biết, các vị đều ban khen cả. Thấm thoắt hơn hai mươi năm trời mà lời dạy
    bảo của cha mẹ vẫn văng vẳng bên tai. Nay đến bước đường cùng lận đận,
    còn biết đội gạo vì ai (2) chỉ than thở cùng trời xanh, chứ biết gửi lòng mình
    vào đâu!
    Đấng tiên đại phu ta trải qua Hiến sát Nam Định, Tuần phủ Sơn tây, trong
    trắp vẫn thường có cái mũ với cái khăn, ta thường lúc đùa bỡn cứ hay lấy ra
    đội, mà thích nhất là cái mũ trãi quan (3). Dẫu cấm không cho chơi nghịch
    cũng không thể được. Có người đem những sách truyện Nôm và những trò
    chơi thanh sắc, nghề cờ bạc, rủ rê chơi đùa, thì ta bịt tai lại không muốn
    nghe. Ta đã học vỡ được ít kinh sử, thế mà chữ Nôm ta không biết hết, câu
    ca, bản đàn thoảng qua ngoài tai rồi lại lờ mờ không hiểu gì cả. Năm Giáp
    Thìn (1784) (4) ta mắc bệnh có nguy cơ đến tính mệnh; khỏi dậy, anh trưởng
    ta mới dạy ta đánh cờ tướng, ta học đánh vài năm, nhưng hễ đánh với ai là
    thua. Năm ngoài hai mươi tuổi, cùng với các bè bạn chơi cờ, lúc bấy giờ mới
    hiểu được cái thế công thủ trong cuộc cờ, nhưng lại không muốn để trí vào
    nữa. Còn như những trò chơi cờ bạc, phán thán (5) thì ta vốn không thích,
    đôi lúc đùa, thử tập chơi, nhưng ít lâu cũng chẳng hiểu cái thuật nó ra như
    thế nào. Đó cũng bới tư chất mình, trời cho cũng có phần mờ tối, không thể
    cưỡng mà học được các nghề chơi. Có điều, sau khi lưu lạc rồi, lại mắc phải
    cái bệnh nghiện chè Tàu. Khay chén thiếu thốn, tiền không đủ mua chè, mà
    vận nghiện. Nghiện quá, các thứ chè tùng quyế thơm tho, thứ nào cũng muốn
    mua nếm qua cả. Đã nhiều lần muốn chừa cho hẳn mà không chừa được.
    Còn nhớ khi bà cung nhân ta hãy còn, người thường lấy những điều cờ bạc
    chè rượu làm răn, mà nay ta đã ngoài ba mươi tuổi, bốn đều răn ấy (6) đã
    phạm mất ba. Đêm thanh vắng, suy xét, hối hận vô chừng. ta vẫn mong cố
    gắng sửa đổi, để khỏi phụ lời tiên huấn.

    Ta khi mới lên chín tuổi, đã học sách hán thư, được bốn năm thì đấng tiên
    đại phu ta mất. Trong mấy năm cư tang, gối đất nằm rơm, học hành buổi đực
    buổi cái, đến khi mãn tang rồi mới thôi không học sử nữa mà học đến kinh.
    Các sách cổ, thơ cổ, ta thường ham xem lắm, không lúc nào rời tay. Năm
    Nhâm Dần (1792), anh trưởng ta ra đi đua đòi ở chốn kinh đô (Thăng Long),
    anh hai ta ra trọ ở đất Hạ Hồng (Ninh Giang), chỉ có ta ở lại nhà để hầu hạ.
    Bà cung nhân ta thì ở trong nội tẩm (7), một mình ta ở ngoài trung đường
    (8), ngảnh mặt về hướng tây, vốn là chính tẩm (8) của đấng tiên đại phu ta ở
    trước. Phía tây xối nước (9) là nhà khách năm gian, trước mặt trông xuống
    cái ao vuông. Trong ao thả hồng liên và bạch liên, chung quanh bờ trồng
    thanh liễu và cam quít. Cách nhà khách năm sáu bước, lại chắn ngang một
    dặng rào trúc, từ phía nam nhà trung đương đến bờ ao phía tây; phía bắc thì
    dựng một cái bình phong che khuất đi. Phía đông ao giáp sân nhà khách, có
    trồng năm ba cây hoa nhài, hoa hồng, hoa ngâu, hoa mẫu đơn. Trông xa ra
    ngoài cánh đồng, cách hàng rào tre, thấp thoáng một cái quán trơ trọi. Mỗi
    lần ăn cơm sáng xong, ta ra nhà khách, trong đó chồng chất mấy giá sách,
    tùy ý muốn xem quyển nào thì xem. Mặt trời đã xế, trẻ mục đồng đuổi trâu
    về qua rào, vừa đi vừa hát, có đứa thì cuốn lá làm kèn mà thổi ti toe, ta đang
    ngủ ngày, sực tỉnh dậy, nghe tiếng hát xa, chẳng khác gì tiếng ca thuyền chài
    ánh ỏi ở đầu bến Nhược Gia (10). Tối đến, lúc mặt trăng mới mọc, đi tản bộ
    quanh bờ ao, ngâm nga mấy câu Đường thi cũng thú, hoặc tựa gốc dừa, cành
    hoa phất phơ trước mặt, ngồi bẻ bông tước lá thử chơi. Khi lẩn thẩn trở về
    nhà khách thì bóng nguyệt hương hoa vẫn còn phảng phất trên án thư, tràng
    kỷ. Ta thức đến gà gáy mới đi ngủ. Cuối mùa đông năm ấy, anh thứ ta từ
    phương xa trở về, lại cùng ta sớm tối được non một năm nữa. Nay anh hai ta
    đã mất rồi, cảnh gia đình thì tiêu điều, ta thì lưu lạc giang hồ, đoái nhìn non
    sông mờ mịt, khôn cầm giọt lệ (11).
    _______
    (1) Đại phu là cha, cung nhân là mẹ. Thêm chữ “tiên” để chỉ người đã quá
    cố.
    (2) Theo sách Gia ngữ của Khổng Tử, ngày xưa ông Tử Lộ thuật cuộc đời
    mình cho Khổng Tử nghe, có nói: “Ngày ngày tôi phải đi ra ngoài trăm dặm
    đội gạo về nuôi mẹ…” Ý nói: phụng thờ.
    (3) Trãi quan là thứ mũ của người chấp hành pháp lệnh đội; ở đây là mũ của
    thân sinh tác giả khi giữ chức Hiến sát.
    (4) Năm này, Phạm Đình Hổ 16 tuổi.

    (5) Một lối đánh bạc của người Trung Quốc, giống như lối đánh lú của ta.
    (6) Người ta thường răn bốn điều (tứ giới): tửu (rượu), sắc (gái), yên (thuốc
    phiện), đổ (đánh bạc) chứ không ai cấm uống chè tàu hoặc cấm đánh cờ. tác
    giả đã phạm ba điều là uống rượu, uống chè và đánh cờ, chỉ không đánh bạc.
    (7) Nội tẩm: lớp nhà trong.
    (8) Trung đường: lớp nhà giữa.
    (9) Xối nước: máng nước giữa hai mái nhà.
    (10) Nhược Gia là tên một cái ngòi ở phía nam thành Thiệu Hưng, tỉnh Chiết
    Giang, Trung Quốc, các bài thơ cổ đều hay nhắc đến. Ở đây tác giả nhớ đến
    câu thơ của Lý Bạch trong bài Thái liên khúc (Khúc hát hái sen): Nhược Gia
    khê bàng thái liên nữ (Có cô con gái hái sen bên ngòi Nhược Gia).
    (11) Những câu nói này chứng tỏ Vũ trung tùy bút được viết sau khi nhà Lê
    mất và Tây Sơn lên cầm quyền, Phạm Đình Hổ đi dạy học ở các vùng nông
    thôn.

    CHUYỆN CŨ TRONG PHỦ CHÚA TRỊNH
    Khoảng năm Giáp Ngọ, Ất Mùi (1774 – 1775) trong nước vô sự, Thịnh
    Vương (Trịnh Sâm) (1) thích chơi đèn đuốc, thường ngự ở các ly cung bên
    Tây hồ, núi Tử Trầm, núi Dũng Thúy. Việc xây dựng đình đài cứ liên miên.
    Mỗi tháng ba bốn lần, Vương ra cung Thụy Liên bên bờ Tây hồ, binh lính
    dàn hầu vòng quanh bốn mặt hồ, các nội thần thì đều bịt khăn, mặc áo đàn
    bà, bày bách hóa chung quanh bờ hồ để bán.
    Thuyền ngự đi đến đâu thì các quan hô tụng đại thần tùy ý ghé vào bờ mua
    bán các thứ như ở cửa hàng trong chợ. Cũng có lúc cho bọn nhạc công ngồi
    trên gác chuông chùa Trấn Quốc, hay dưới bóng cây bến đá nào đó, hòa vài
    khúc nhạc.
    Buổi ấy, bao nhiêu loài trân cầm dị thú, cổ mộc quái thạch, chậu hoa cây
    cảnh ở chốn dân gian, chúa đều sức thu lấy, không thiếu một thứ gì. Có khi
    lấy cả cây đa to, cành lá rườm rà, từ bên bắc chở qua sông đem về. Nó giống
    như một cây cổ thụ mọc trên đầu non hốc đá, rễ dài đến vài trượng, phải một
    cơ binh mới khiêng nổ, lại bốn người đi kèm, cầm gươm đánh thanh la đốc
    thúc quân lính khiêng cho đều tay. Trong phủ, tùy chỗ, điểm xuyến bày vẽ ra
    hình núi non bộ trông giống như bến bể đầu non. Mỗi đêm khi đêm thanh
    cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót vang khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào
    như trận mưa sa gió táp, vỡ tổ tan đàn, kẻ thức giả biết đó là triệu bất tường.
    Bọn hoạn quan cung giám lại thường nhờ gió bẻ măng, ra ngoài dọa dẫm.
    Họ dò xem nhà nào có chậu hoa cây cảnh, chim tốt, khướu hay, thì biên ngay
    hai chữ “phụng thủ” (2). Đêm đến, các cậu trèo qua tường thành lẻn ra, sai
    tay chân đem lính tới lấy phăng đi rồi buộc cho tội đem dấu vật cung phụng
    để dọa lấy tiền. Hòn đá hoặc cây cối gì lớn quá, thậm chí phá nhà hủy tường
    để đem ra. Các nhà giàu bị họ vu cho là giấu vật cung phụng, thường bỏ của
    ra kêu van chí chết, có khi phải đập núi non bộ hoặc phá cây cảnh để tránh
    khỏi tai vạ. Nhà ta ở phường Hà Khẩu (3), huyện Thọ Xương, trước nhà tiền
    đường cũng trồng hai cây lựu trăng, lựu đỏ, lúc ra quả trông rất đẹp, bà cung
    nhân ta sai chặt đi cũng vì cớ ấy.
    _______
    (1) Còn gọi là Tịnh đô vương, làm Chúa từ năm 1767 đến năm 1782 đời
    Cảnh Hưng, Lê Hiển Tông.
    (2) Phụng Thủ tức là lấy để dâng chúa.
    (3) Phường Hà Khẩu là khu Hàng Buồm, Hà Nội bây giờ.

    LỤC HẢI (*)
    Kinh thành Thăng Long chia ra 36 phường, mỗi phường đặt một người
    phường trưởng. Lại đặt ra phủ Phụng Thiên có quan Phủ doãn, quan Thiếu
    doãn kiêm coi cả việc tuần phủ và việc liêm sát, đốc xuất hai huyện Thọ
    Xương và Quảng Đức, mỗi huyện có quan Huyện úy cai trị. Toàn thành thì
    cử một quan trọng thần sung chức Đề lĩnh tứ thành quân vụ, phân ra chánh
    phó hai dinh, chuyên coi việc cấm phòng, xét hỏi. Song đất kinh thành đông
    đúc, nhà cửa ở liền nhau, thường có hỏa hoạn, lại nhiều những kẻ đầy tớ nhà
    quan, du đãng cờ bạc, gây chuyện đánh nhau, cùng là những kẻ vô lại trộm
    cắp, nhiều lắm không thể kể xiết được, chẳng khác gì lục hải khi xưa.
    Đời Trịnh An Vương (1), Nguyễn Công Hãng làm thượng thư cầm quyền
    chính, mới chia hai huyện ra làm tám khu, mỗi khu đặt một người trưởng
    khu và một người phó khu; lại chia ra năm nhà là một tị, hai tị là một lư, mỗi
    lư cũng có một lư trưởng, bốn lư là một đoàn, một đoàn đặt một quản giám,
    hai quản điểm, dưới quyền người khu trưởng và trực thuộc quan Đề lĩnh. Đó
    là phỏng cái ý cổ nhân bảo trợ phù trì lẫn nhau. Phàm những việc phòng hỏa
    phò...
     
    Gửi ý kiến

    DANH NGÔN VỀ SÁCH

    Một cuốn sách hay trên giá sách là một người bạn, dù quay lưng lại nhưng vẫn là bạn tốt”. Vậy tại sao chúng ta lại quay lưng với người bạn tốt?Một cuốn sách hay cho ta một điều tốt, một người bạn tốt cho ta một điều hay.

    TẾT NGOÀI ĐẢO XA


    SỰ TÍCH CÂY NÊU NGÀY TẾT

    TẬP SAN MỪNG ĐẢNG MỪNG XUÂN

    Một thư viện tốt là trái tim của nhà trường – nơi nuôi dưỡng trí tuệ và tâm hồn học sinh

    KÍNH CHÀO QUÝ THẦY CÔ VÀ QUÝ BẠN ĐỌC ĐÃ ĐẾN TƯỜNG WEBSITE CỦA THƯ VIỆN TRƯỜNG TIỂU HỌC MAI CHÂU TỈNH PHÚ THỌ !

    “Sách mang trong mình sứ mệnh đưa độc giả đi du lịch khắp muôn nơi mà không cần di chuyển một bước.” – Jumpa Lahiri